TIN TỨC

Ngòi bút thi sĩ giữ lửa nghề báo: Một trăm năm mãi xanh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-20 11:02:41
mail facebook google pos stwis
1247 lượt xem

NGUYÊN HÙNG  / Nguồn: 

(Chuyên mục "Tiếng nói nhà văn" của báo Văn nghệ, số 25, ngày 21/6/2025)

Trong một thế kỷ qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã trở thành một phần không thể thiếu của dòng chảy văn hóa Việt. Trong dòng chảy đó, biết bao ngòi bút nhà thơ, nhà văn đã góp phần giữ lửa cho trang báo, đồng thời mang lại sự lãng mạn, sâu sắc và đắm đượm tình người cho nghề báo. Dù là văn thơ hay báo, ngòi bút chân chính đều đặt trên nền tảng của lòng trắc ẩn và khát vọng về sự thật.

Tôi lớn lên giữa thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ, nên những năm tháng ấy, sự đọc của tôi hầu như chỉ quanh quẩn với mấy tờ báo dễ tìm nhất thời bấy giờ: nhật báo Nhân Dân và tuần báo Văn Nghệ. Đây là những ấn phẩm tôi đặt dài kỳ qua bưu điện, nên có thể nói rằng, một cách tự nhiên, tuổi thơ tôi lớn lên trong cái bóng của những tờ báo nổi tiếng này… Cũng từ đó, có một điều gì đó rất sâu kín trong tôi luôn nhói lên mỗi khi bắt gặp một tờ báo cũ nằm lặng lẽ nơi quán nước, hay một trang bản thảo nhòe chữ trong cơn mưa. Với tôi, đó không đơn thuần là giấy mực. Đó là máu, là mồ hôi, là thời gian, là những giấc mơ đã được đổ cạn. Dù mang danh là nhà thơ, dù cuộc sống tinh thần của tôi có những vần thơ bay bổng, nhưng mối duyên nợ với báo chí, với những trang giấy thô mộc ấy vẫn gắn bó sâu sắc một cách lạ kỳ. Có lẽ bởi, suy cho cùng, dù là thơ hay báo, chúng đều được sinh ra từ cùng một mạch nguồn: lòng trắc ẩn và khát vọng hướng tới những điều tốt đẹp cho cuộc đời.

Ngày 21 tháng 6 năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), tờ báo Thanh niên ra đời do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Đó không chỉ là sự kiện khai sinh của một tờ báo, mà là hạt mầm đầu tiên gieo xuống mảnh đất khô cằn của thực dân, ươm mầm cho một nền báo chí hoàn toàn mới – Báo chí Cách mạng Việt Nam. Tròn một thế kỷ đã trôi qua, một trăm năm đủ để những trang giấy năm xưa ngả màu thời gian, nhưng tinh thần, khí phách của những người làm báo cách mạng thời ấy thì vẫn vẹn nguyên, không hề phai nhạt.

Chúng ta vẫn thường hình dung về những nhà báo tiền bối với dáng vẻ uy nghiêm, trí tuệ. Nhưng có mấy ai thực sự cảm nhận được rằng, mỗi bài viết của họ, mỗi dòng tin tức, mỗi lời hiệu triệu, đều được đánh đổi bằng xương máu, nước mắt và cả mạng sống? Họ là những người viết dưới hầm tối, trong nhà tù, hoặc từ những chiến khu ác liệt. Ngòi bút của họ không chỉ là công cụ truyền tải thông tin, mà là vũ khí sắc bén, là lời hiệu triệu thức tỉnh lòng dân, là ngọn lửa nhen nhóm khát vọng độc lập, tự do. Từ các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu đến những chiến sĩ cách mạng vô danh, tất cả đều viết với một tinh thần “vị quốc vong thân”. Từng con chữ, từng câu văn không chỉ mang tin tức mà còn mang theo sinh mệnh, mang theo nỗi khắc khoải của dân tộc đang chìm trong đêm tối. Đó là những "trang giấy đã cháy một thời" – cháy lên từ lòng yêu nước nồng nàn, từ lý tưởng bất khuất, từ máu và nước mắt thấm đẫm từng con chữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với những số báo đầu tiên,
đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam - Ảnh tư liệu.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945 và trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, chống Mỹ, báo chí cách mạng tiếp tục trở thành tiếng nói của tiền tuyến và hậu phương, là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân. Những nhà báo - chiến sĩ, vừa cầm súng vừa cầm bút, đã có mặt ở những điểm nóng nhất, ghi lại những khoảnh khắc lịch sử, cổ vũ tinh thần chiến đấu, xây dựng quê hương. Mỗi bản tin từ chiến trường, mỗi bài phóng sự về cuộc sống gian khổ mà lạc quan ở hậu phương, đều là những viên gạch xây nên bức tường thành ý chí kiên cường của dân tộc. Họ không chỉ là người đưa tin mà còn là nhân chứng sống, là người truyền lửa, là hiện thân của tinh thần yêu nước và dấn thân không ngừng nghỉ.

Báo chí và văn chương, hai dòng chảy tưởng như riêng biệt, nhưng kỳ thực lại có một mối giao duyên sâu sắc, bền chặt. Từ bao đời nay, báo chí vẫn luôn là "đất lành" để văn chương nương náu, cất tiếng. Những áng thơ, truyện ngắn, tùy bút, ký văn học đã tìm thấy mảnh đất màu mỡ để ươm mầm và lan tỏa trên các trang báo, tạp chí. Đó là nơi văn chương được tiếp cận đông đảo công chúng, thực hiện chức năng phản ánh, định hướng và bồi đắp tâm hồn.

Nhắc đến báo chí, ta không thể không nghĩ đến những nhà văn, nhà thơ lớn đã từng là nhà báo, từng cầm bút trên những tờ báo lớn nhỏ. Từ thế hệ đầu tiên với những tên tuổi như Nguyễn Tuân – bậc tùy bút gia xuất sắc với ngòi bút tài hoa từng viết cho Tao đàn, Tiền phong; Tố Hữu – nhà thơ cách mạng kiệt xuất từng tham gia biên tập Cứu quốc, Sự thật; Xuân Diệu – "ông hoàng thơ tình" cũng góp sức cho Thanh niên, Tiền phong; Chế Lan Viên của Điêu tàn đến Ánh sáng và phù sa cũng đồng hành cùng Thống nhất, Văn nghệ; Nguyễn Đình Thi – tác giả Đất nước và vai trò biên tập viên Văn nghệ, Tạp chí Văn học; hay Nam Cao với hiện thực sắc lạnh trong Chí Phèo cũng từng viết cho Tiểu thuyết thứ bảy, Hà Nội báo và sau này tham gia Cứu quốc.

Đến những thế hệ tiếp nối sau này, mối duyên văn chương – báo chí vẫn tiếp tục bền chặt. Có thể kể đến Nguyễn Khải với những trang ký sự chiến tranh sâu sắc trên Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội; Phạm Tiến Duật – nhà thơ "Tiểu đội xe không kính" vừa là phóng viên mặt trận của Báo Quân đội Nhân dân; Hữu Thỉnh – với những vần thơ Sang thu và vai trò lãnh đạo báo Văn nghệ; Nguyễn Quang Sáng – nhà văn tài hoa của Chiếc lược ngà từng gắn bó với Văn nghệ, Sông Hương. Và đến thế hệ hiện tại, những cái tên như Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Trần Đăng Khoa – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Nguyễn Thúy Quỳnh – người cầm chịch Văn nghệ Thái Nguyên, Như Bình - Trưởng ban Chuyên đề Báo Công an Nhân dân, Phạm Thùy Vinh – Tổng biên tập Tạp chí Sông Lam… và nhiều cây bút khác, vẫn đang hàng ngày miệt mài với cả trang văn và trang báo, làm phong phú thêm đời sống văn học và báo chí nước nhà.

Ngược lại, báo chí cũng là môi trường rèn giũa, thôi thúc người cầm bút phải gắn liền với thực tiễn, với cuộc sống. Nó đòi hỏi sự nhạy bén, tốc độ, nhưng không đánh mất chiều sâu tư tưởng và trách nhiệm. Trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin như hiện nay, vai trò của báo chí chân chính, báo chí cách mạng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Hơn lúc nào hết, cần những ngòi bút "của trái tim không yên ổn" (như lời nhà báo Hữu Thọ), dám phản ánh sự thật, bảo vệ cái đẹp, và thức tỉnh lương tri.

Nhà thơ Hữu Thỉnh ký tặng thơ cho độc giả tại buổi ra mắt sách “Giao hưởng Điện Biên”, 4-2024

Với vai trò là Trưởng Ban biên tập website Văn chương TP. Hồ Chí Minh – trang web của Hội Nhà văn TP.HCM, tôi hiểu rằng, trong bối cảnh truyền thông số, website của chúng tôi phải là một "cầu nối" hiệu quả giữa báo chí và văn học. Chúng tôi không chỉ đăng tải những tác phẩm văn học thuần túy mà còn biên tập, giới thiệu những bài viết mang tính thời sự, những góc nhìn văn học về các vấn đề nóng bỏng của xã hội. Chúng tôi cố gắng giữ "chất văn" trong từng bài đăng, dù là một tin tức ngắn về hoạt động của Hội hay một bài phê bình văn học dài. Bởi lẽ, báo chí, xét cho cùng, cũng là một dạng ký ức tập thể được viết bằng ngôn ngữ của trái tim, bằng cảm xúc và sự chiêm nghiệm. Thông qua đó, chúng tôi mong muốn tiếp nối sứ mệnh của báo chí cách mạng: không chỉ truyền tải thông tin mà còn định hướng giá trị, gieo mầm cái đẹp, và hun đúc lòng nhân ái trong cộng đồng.

Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, chúng tôi muốn tri ân các thế hệ nhà báo, những người cầm bút đã đổ mồ hôi, xương máu, và tâm huyết để làm nên một nền báo chí vẻ vang. Họ đã dùng ngòi bút như một vũ khí sắc bén, chiến đấu cho độc lập, tự do, và xây dựng đất nước.

Với tôi, một nhà thơ cũng có tham gia viết báo, mỗi con chữ đặt xuống không chỉ là để thông tin hay để ca ngợi, mà còn là một hành vi của tình yêu thương và trách nhiệm. Dù là viết tin ngắn hay bài báo dài, dù để in báo giấy hay đăng báo điện tử, mỗi con chữ đều phải được chắt lọc từ sự thật, thăng hoa từ cảm xúc chân thành, và được viết bằng cả tấm lòng. Ngòi bút ấy, dù là thơ hay báo, vẫn luôn là vũ khí của sự thật, của cái đẹp, của lương tri, như cha ông ta đã truyền lại.

Một thế kỷ đã trôi qua, bao thăng trầm, biến động, nhưng ngọn lửa của báo chí cách mạng, của văn chương yêu nước vẫn mãi cháy sáng. Đó là ngọn lửa của niềm tin, của khát vọng cống hiến, và của tình yêu vô bờ bến dành cho Tổ quốc và nhân dân.


Mời đọc các bài viết đăng chuyên mục "Tiếng nói nhà văn" báo Văn nghệ của cùng tác giả:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm