TIN TỨC

Văn học Bình Dương – 50 năm một hành trình lặng lẽ và bền bỉ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-30 11:12:18
mail facebook google pos stwis
2902 lượt xem

Với một nền văn hóa lâu đời và truyền thống cách mạng hào hùng, Bình Dương đã góp phần không nhỏ vào diện mạo chung của văn học Nam Bộ sau ngày đất nước thống nhất. Từ những người viết không chuyên ở giai đoạn đầu, đến đội ngũ tác giả ngày càng đa dạng và sung sức, văn học Bình Dương đã hình thành một "giàn hợp xướng" đa sắc về tình yêu quê hương, ký ức chiến tranh, công cuộc đổi mới và nhịp sống đô thị hóa hôm nay.

Bài viết công phu của tác giả Nguyễn Quế không chỉ khắc họa hành trình văn học của vùng đất Thủ suốt 50 năm qua, mà còn là lời tri ân sâu sắc gửi đến những cây bút thầm lặng đã viết nên “những mùa đã tươi màu nắng”. Trong bối cảnh sắp tới, hoạt động văn học nghệ thuật tỉnh Bình Dương sẽ được hợp nhất với TP.HCM, bài viết này cũng là một dấu nối đẹp, góp phần gìn giữ ký ức văn chương một vùng đất đang từng ngày chuyển mình cùng đô thị lớn.

Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết này với đầu đề do chúng tôi đặt.

NGUYỄN QUẾ

Bình Dương là vùng đất thuộc miền Đông Nam bộ, được tách ra từ tỉnh Sông Bé từ ngày 6 tháng 11 năm 1996. Cùng với lịch sử cách mạng hào hùng, nơi đây vốn có truyền thống văn hóa lâu đời. Tuy vậy, trong giai đoạn đầu khi đất nước hòa bình, thống nhất, phần lớn những người cầm bút ở Bình Dương là cán bộ công chức đang công tác trong các cơ quan của tỉnh. Với tình yêu quê hương, đất nước và ý thức trách nhiệm trước cuộc sống cùng niềm đam mê của mình, họ vừa hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn được giao, vừa miệt mài tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi, sáng tạo để phản ảnh hiện thực cuộc sống vào trang viết của mình. Trải qua bao nỗ lực phấn đấu, họ đã tạo nên hành trình khai mở cho sự hình thành và phát triển của nền văn học tỉnh nhà thời hậu chiến với nhiều tác phẩm có giá trị.

Nhận thức sâu sắc vai trò của văn học nghệ thuật, ngay từ đầu, tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh đã quan tâm tạo điều kiện để các tác giả đẩy mạnh hoạt động sáng tạo đồng thời chú trọng việc xây dựng lực lượng kế cận. Được các nhà văn, nhà thơ có tên tuổi từng sinh sống, chiến đấu và công tác trên địa bàn tỉnh như Chu Lai, Nam Hà, Thu Bồn… tiếp sức, cùng với lực lượng hiện có và sự xuất hiện của các thế hệ cầm bút mới, đội ngũ sáng tác văn học ở Bình Dương ngày càng phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng. Với sự nỗ lực của các thế hệ cầm bút, văn học Bình Dương 50 năm sau ngày đất nước thống nhất đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận.

 Về thơ, các tác giả đã khắc họa khá rõ nét những tâm tư, tình cảm trước các lĩnh vực cuộc sống. Trước hết, đó là tình yêu tha thiết đối với quê hương, đất nước. Cũng như bao người dân Bình Dương khác, tác giả Ngô Cang thấm men say từ những sắc hương, thanh âm và ánh sáng của cuộc đời mới:

“Tiếng ve ngân vườn dâu mùa hạ nắng

 Phía xa kia trăng đợi mít bay mùi

 Lái Thiêu ơi, như dòng sông ánh sáng

 Đêm thanh bình rạng rỡ những niềm vui!”

 (Lái Thiêu, mùa hạ)

Với Nguyễn Nguy Anh, vùng đất Bình Dương luôn hiện lên trong tâm tưởng ông với bao hình ảnh tràn đầy ánh sáng rực rỡ và sức sống, lưu giữ bao cảm xúc, hoài niệm và ước mơ đẹp đẽ:

 “Bao năm khát khao

 Có một thành phố trong tôi

 Đi xa để nhớ

 Trên tầng cao phố mới

 Bao sắc màu rực nắng lung linh

 Tình yêu và khát vọng

 Trái tim trong tôi, hòa theo bản tình ca”

  (Bình Dương trong tôi)

Hạnh phúc và vui sướng khi được sống và công tác trên đất mẹ thân yêu, giữa cái lạnh giá của mùa đông, với tình yêu cuộc sống mãnh liệt, Chu Ngạn Thư, một trong những nhà thơ tài hoa của đất Thủ vẫn cảm nhận thật rõ sự giao mùa đang diễn ra âm thầm nhưng mạnh mẽ, và một mùa xuân tràn đầy sức sống mới đang đến gần. Từ dự cảm ấy, nhà thơ đã viết nên những câu thơ hào sảng:

 “Gió lạnh về

 se buốt cả đôi tay

 Nghe

 lá cỗi

 dọn mình cho lộc biếc

 Nghe

 trang thơ

 dự cảm

 vạn tấc lòng

 Bài thơ xuân

 ngồi viết giữa ngày đông.”

(Viết giữa ngày đông)

Nhà thơ Nguyễn Tiến Đường, qua cảm nhận của nhân vật trữ tình “em”, đã vẽ nên bức tranh về Bình Dương thật hùng vĩ, tươi thắm, với non cao, mây ngàn và đồng nội xanh bát ngát nối tiếp nhau đẹp như một bức tranh. Giữa cảnh trí thiên nhiên huyền diệu ấy, tình yêu xuất hiện, hòa vào cảnh vật, vừa kỳ vĩ vừa dịu dàng, như thực như mộng:

 “Bình Dương trong mắt em

 Là non cao vời vợi

 Là mây ngàn đồng nội

 Bát ngát màu xanh

 Những mối tình yêu nhau trên cỏ

 Đánh thức tầm xuân trên bến dưới thuyền

 Mắt em màu tóc chín!

 Chở thuyền đầy chiêm bao…”

(Thức cảm)

Những tháng ngày bận bịu công tác và học tập nơi xa xứ, những người con của đất mẹ Bình Dương không nguôi nỗi nhớ quê hương. Thật cảm động khi ta đọc những câu thơ của nữ tác giả Kim Ngoan. Với nỗi nhớ đông đầy, từ nơi xa, nhà thơ ngồi vẽ về quê hương mình. Chị cảm thấy như đang mơ một giấc mơ tuyệt đẹp khi hình ảnh quê nhà hiện về trước mặt, với bao sắc thái thật lung linh nhưng cũng rất gần gũi, thân thương:

“Em cầm cọ ngỡ như mơ

 Muôn vàn màu sắc nguyên sơ rộn ràng

 Nâu, xanh, cam, đỏ, tím, vàng

 Hiện lên hình ảnh xóm làng thân yêu…”

Trở về sau những ngày xa cách, tác giả Phạm Minh Dũng “bồng bềnh” cảm xúc trước cảnh trí tươi đẹp và hoành tráng của quê hương:

“Đón tôi về lại Bình Dương

 Mùa xuân tre trẻ, con đường thênh thênh

 Lên tầng phố mới xênh xênh

 Tôi đi hồn vía bồng bềnh nắng tươi”

(Tự tình với Bình Dương)

Với tình yêu nồng thắm cùng niềm tự hào về dải đất Bình Dương, quê hương của bao trái ngọt quả thơm nức tiếng gần xa, Trần Thanh Hải ước hẹn cùng người thân một ngày hội ngộ:

“Sẽ đưa em về thăm

 Quê hương anh miền đất Thủ

 Vườn xanh lao xao xứ sở trái ngon

 Thưởng thức sầu riêng, măng cụt, bòn bon

 Chôm chôm hờn ghen má em hồng đỏ”

 (Về đất mẹ Bình Dương)

Trong tâm thức các nhà thơ Bình Dương, vùng đất quê hương mình không chỉ tươi đẹp, nên thơ bởi bao hương sắc, thanh âm của cuộc sống đã được lưu giữ bao đời nay. Nơi đây còn sâu nặng tình người. Nữ nhà thơ Lê Thị Bạch Huệ đã bộc bạch tâm niệm của mình qua những câu thơ giàu xúc cảm:

 “Đất Bình Dương ơi

 sâu nặng nghĩa tình

 Ta vun xớinâng niu hoa và đất

 Để mai này ươm màu xanh bát ngát

 Hương ngạt ngào

 đất mẹ quyện tình quê”

 (Đất và người)

Là vùng đất giàu nghĩa tình, Bình Dương đã tạo sức hút mạnh mẽ từ nhịp sống mới tràn đầy sức trẻ của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tác giả Lê Tiến Mợi một lần về thăm Mỹ Phước, trung tâm công nghiệp năng động của Bến Cát, đã viết nên những vần thơ đầy hứng khởi:

“Mỹ Phước và em…

Tiếng cười lịm trong hoàng hôn đỏ

Đường Nguyễn Văn Linh đổi mới cuộc đời

Trong mắt biếc có màu xanh của sóng

Có tiếng thì thầm của đôi bạn trẻ vào ca

 

Em và Mỹ Phước

Không như huyền thoại

Bốn khu công nghiệp lên đèn

Lửa trắng dưới trời sao

Những ngọn lửa đánh thức tin yêu”

 (Điểm hẹn)

Không khí tưng bừng của cuộc sống mới lan tỏa khắp nơi, từ các đô thị phía nam  đến các vùng quê thân yêu ở phía bắc của tỉnh, khi những người con xứ sở cùng hàng triệu người lao động từ mọi miền Tổ quốc đang ngày đêm cống hiến tinh thần và nghị lực, sức mạnh và tài năng cho quê hương, đất nước. Bằng những nét chấm phá, Nguyễn Quế đã vẽ nên một khung cảnh huyền diệu về đêm tại một khu công nghiệp rộng lớn tọa lạc giữa vùng chiến khu oanh liệt năm xưa:

 “Gặp em sau giờ tan ca

 Em đi giữa ngàn sao sa

 Anh như lạc vào cõi mộng

 Lung linh đêm Thuận An Hòa”

  (Bình Dương ngày mới) 

Bên cạnh các khu công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, các ngành nghề truyền thống ở Bình Dương vẫn được lưu giữ và phát triển. Đó là sự kết nối đẹp đẽ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, thể hiện nét đặc trưng của một vùng đất giàu trầm tích lịch sử - văn hóa. Nữ nhà thơ Võ Thị Nhạn đã viết những câu thơ nói lên tình cảm sâu sắc và chân tình của mình trước hình ảnh người thợ gốm:

 “Tôi về thăm lại Bình Dương

 Thăm cô thợ gốm chịu thương với nghề

 Cô làm sống lại hồn quê

 Cho tôi thao thức nhớ về tuổi thơ”

  (Sống lại hồn quê)

Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui lớn trước cuộc đời mới tươi đẹp, đời sống của  công nhân lao động, nhất là những người xa xứ, vẫn còn nhiều vất vả, thiếu thốn. Thật cảm động khi ta đọc những câu thơ sau đây trong tập thơ Tình người xa xứ của nữ nhà thơ trẻ Lê Tuyết Lan:

 “Căn phòng nhỏ với bốn bức tường

 Đã đủ đong, lường

 Những cuộc tha hương

 

 Tường vữa vôi nhàu nhĩ

 Một cánh cửa và một ô cửa sổ

 Nhen nhóm bao cảnh đón

 Gánh gồng trên lưng những dâu bể sơn khê

 Vọc vạch”

 (Nhà trọ)

Mặc dù còn có những khó khăn, thách thức, nhưng nói đến hiện thực cuộc sống ở Bình Dương, gam màu tươi vui là chủ đạo. Bên cạnh mặt trận sản xuất, kinh doanh, công cuộc kiến thiết cơ sở vật chất, xây dựng đời sống mới và các hoạt động văn hóa, xã hôi cũng diễn ra mạnh mẽ. Hiện thực sôi động ấy được các tác giả Trần Lan Hương, Kim Út, Phùng Hiếu, Kim Mai, Kim Loan, Nguyễn Thị Kim Duyên… đưa vào tác phẩm của mình với những dòng thơ tươi rói chất liệu hiện thực và niềm xúc cảm sâu sắc.

Cuộc sống mới tươi đẹp trên đất nước, quê hương đã tiếp men say và niềm tin cho tình yêu lứa đôi. Với trái tim rạo rực, đắm say, nữ nhà thơ Cát Du đã bày tỏ những cung bậc cảm xúc trong nỗi niềm băn khoăn, giục giã:

 “Dậy đi nào

Mai nụ ơi

Các bạn em đã váy xòe vàng chóc

Đang hây hẩy đợi tình

Mà em còn ngáy ngủ

Sao chẳng chịu hé mi

Không sợ lỡ mất cái xuân thì

Thoáng qua?”

 (Xuân thì)

Tình yêu vốn là báu vật tạo hóa ban tặng con người. Giữa cuộc đời mới tươi đẹp, tình yêu càng cao quý và thánh thiện. Tác giả Mai Thu Hồng đã bày tỏ những xúc cảm trước sự xuất hiện của một nửa yêu thương:

 “Anh đến giữa đời em

Như nắng ấm

Như mưa rào

Như con sóng xôn xao

Như bão dông”’

 (Lời cho em)

  Trước mùa thu, trong lòng nhà thơ Nguyễn Văn Ân tràn đầy hoài niệm về tình yêu. Trong thơ anh, tình yêu vừa phảng phất âm thanh, màu sắc huyền diệu của thiên nhiên, vừa mang dấu ấn không thể phai mờ của thời gian và không gian:

 “Ru em nốt nhạc mùa thu

 Lá vàng rơi vội bay vù về đâu?

 Thế là, năm tháng thương nhau

 Đan tay vào mộng, bắc cầu tình yêu”

  (Nốt nhạc mùa thu)

Bên cạnh tình yêu lứa đôi là tình cảm gia đình. Đọc thơ Bình Dương 50 năm sau ngày thống nhất đất nước, ta bắt gặp những rung động dạt dào của các tác giả đối với người thân, đặc biệt là các bậc sinh thành. Trước niềm hạnh phúc to lớn của đời mình, nữ nhà thơ Cát Du chợt nhớ tới người mẹ hiền yêu dấu:

 “Mẹ có nghe trong gió mùa thi thoảng

 Tiếng đâm chồi nẩy lộc của mầm xanh?”

(Mẹ)

Được sống những ngày tươi đẹp và hạnh phúc, người Bình Dương không quên công ơn những người đi trước. Nữ nhà thơ Lê Thị Bạch Huệ khắc khoái nỗi niềm “Cha cõng rét trân mình đi cấy sớm/ Nứt nẻ chân quen năm tháng lội bùn” và đau đáu nhớ “Hạ nắng cháy bạc phai màu áo mẹ/ Thu hắt hiu gồng gánh buổi chợ chiều”. Nguyễn Minh Ngọc Hà trên hành trình đi tìm tương lai và hạnh phúc cho riêng mình không khỏi nặng lòng khi nhớ về công ơn của các bậc tiền nhân:

 “Con lớn khôn theo từng lời ru mẹ

 Êm tiếng võng đưa kẽo kẹt của bà

 Vai mẹ mỏi từ độ còn son trẻ

 Lưng sớm còng bởi quang gánh đường xa”

 (Lời ru quằn vai mẹ)

  Trong trái tim các nhà thơ, tình mẹ thật cao đẹp và bao la, và đối với họ, bên cạnh người mẹ sinh thành còn có hình ảnh thiêng liêng của mẹ Việt Nam. Nguyễn Minh Ngọc Hà bày tỏ lòng cảm phục và tri ân những người “Như thân tằm rút ruột nhả tơ” để hiến dâng sức lực, máu xương và cả những người thân yêu nhất của mình cho đất nước. Với nhà thơ Lê Minh Vũ, hình ảnh mẹ luôn gắn liền với những sự kiện vĩ đại của dân tộc. Từ cảm quan sâu đậm trước mối liên hệ cao đẹp ấy, anh đã viết những câu thơ đầy niềm tự hào:

“Mẹ và Câu chuyện tháng Tư

 Như chứng nhân hào hùng một thuở

 Khi vết thương đã lành, sang trang lịch sử

 Cuộc sống thanh bình trên đất mẹ tươi xanh”

(Mẹ và câu chuyện tháng Tư…)

Từ tình mẹ cao quý, thiêng liêng, các nhà thơ Bình Dương hướng lòng mình tưởng nhớ các thế hệ cha anh đã chiến đấu, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhà thơ Thanh Hải đã nói lên nỗi lòng mình khi tháng Bảy về:

“Tháng Bảy về nỗi nhớ miên man

 Em theo đoàn viếng nghĩa trang liệt sỹ

 Nghĩa trang Trường Sơn là nơi anh yên nghỉ

 Hình bóng anh em không thể nào quên”

 (Viếng nghĩa trang)

Cùng chung nỗi niềm ấy, nữ nhà thơ Trăng Khuyết viết những câu thơ đầy xúc cảm khi bao kỷ niệm ùa về từ ký ức:

“Nén hương đốt cho anh

 Và những nén hương cho người đồng đội

 Không gian chiều quyện khói

 Nghĩa trang buồn… em chợt nhớ miên man

 

 Ngày tiễn anh cuối nẻo đường làng

 Mẹ nhỏ lệ

 Em nhỏ lệ

 Anh vẫn nụ cười mãn nguyện

 Bước chân anh nhanh nhanh ra tiền tuyến

 Và cái ôm vội vàng gửi lại mà thôi”

(Nén hương cho anh ngày 27/7)

Không chỉ tiếc thương những người đã hy sinh cuộc đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc, các tác giả thơ Bình Dương còn thể hiện sự trân quý những chiến sỹ đang ngày đêm canh giữ đất đai, biển trời của Tổ quốc. Một lần ra thăm hòn đảo tiền tiêu, nhà thơ Lê Tiến Mợi đã viết những câu thơ thể hiện tình yêu thương, trân trọng và sự cảm phục sâu sắc trước sự hy sinh của những người chiến sỹ:

“Tôi ra biển xa đất liền nhớ mẹ

 Lính trẻ Trường Sa nhớ cả quê nhà

 Nhưng vì chủ quyền thiêng liêng trên biển đảo

 Lý tưởng các anh trong sáng ngọc ngà”

(Trường Sa trong trái tim ta)

Hình ảnh Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước luôn là nguồn cảm hứng vô tận của thơ ca. Cũng như những người cầm bút khác, các tác giả thơ Bình Dương luôn thấm đượm trong tim tình yêu và niềm tự hào dân tộc vĩ đại. Nhà thơ Trần Đôn đã thực hiện những cuộc trở về đầy hoài niệm và sự tri ân sâu sắc đối với bao vùng đất và con người đáng kính ở khắp mọi miền đất nước. Từ những vùng quê yên bình và tươi xanh (Vũng Tàu, Long Xuyên, Hồ Tràm) đến các miền biên viễn hùng vĩ (Hoàng Liên Sơn, Mã Pì Lèng, Đồng Văn); từ niềm vinh quang của những địa danh lịch sử (Điện Biên Phủ, Việt Bắc, Chiến khu Đ) đến vẻ đẹp diệu kỳ của các danh thắng (Sa Pa, Hồ Gươm, Núi Châu Thới)…, ở đâu, tác giả cũng ngâm nga những câu thơ thấm đượm tình yêu nước được kết tinh từ bao mất mát đau thương và niềm kiêu hãnh Việt Nam. Trước linh hồn hàng ngàn liệt sỹ trong Nghĩa trang Quốc gia Vị Xuyên, ông thầm nói:

“Chúng tôi, những người còn sống

 Nguyện làm đất nước rạng ngời

 Trả ơn những người đã khuất

 An lòng nhắm mắt anh ơi!”.

Qua những câu thơ mộc mạc mà đầy ắp nỗi niềm, nhà thơ đã nói hộ tiếng lòng của mỗi người dân đất Việt.

 Có thể nói, thơ Bình Dương 50 năm sau ngày đất nước thống nhất là giàn hợp xướng về tình yêu quê hương, đất nước, con người, cuộc sống mới; là khúc ca về truyền thống cách mạng hào hùng và là niềm tri ân sâu sắc trước sự hy sinh của các thế hệ cha anh; là niềm tin yêu về một ngày mai tươi sáng… Giàn hợp xướng ấy tuy chưa thật sôi nổi và còn thiếu những đỉnh cao, nhưng cũng đã tạo nên âm vang khá tròn đầy và bền bỉ. Trong khúc ca chung ấy, ta có thể nhận ra những cá tính sáng tạo khá rõ nét. Đó là Chu Ngạn Thư hào sảng, giàu nội lực, vừa truyền thống vừa cách tân trong hình thức biểu đạt; là Nguyễn Tiến Đường thâm trầm mà sâu sắc; là Nguyễn Nguy Anh bay bổng; là Lê Minh Vũ luôn tươi mới và tinh tế; là Cát Du với giọng thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ như những lời tâm sự nhưng ẩn chứa phía sau bao nỗi niềm sâu lắng. Đó còn  là giọng điệu thơ mạnh mẽ, sôi nổi, có chiều kích của Lê Tiến Mợi; là chất trữ tình và lãng mạn của Nguyễn Văn Ân; là mạch thơ giàu xúc cảm của Nguyễn Minh Ngọc Hà; là sự mượt mà, đắm say trong hoài niệm của Trăng Khuyết; là sự bình dị nhưng tươi rói chất liệu cuộc sống trong thơ Kim Ngoan; là giọng thơ đằm thắm, giàu tính nhạc của Lê Thị Bạch Huệ; là hồn thơ phong phú, vừa trẻ trung vừa đằm sâu của Lê Tuyết Lan…Tuy phần lớn xuất thân từ môi trường không chuyên, chủ yếu đến với thơ bằng sự đam mê và tự học hỏi là chính, nhưng các tác giả thơ Bình Dương đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, vận dụng các thi pháp nghệ thuật truyền thống kết hợp với đổi mới sáng tạo.

Mặt hạn chế của thơ Bình Dương 50 năm qua là chưa có những tác phẩm xứng tầm với tính chất và trình độ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Không khí thơ có lúc còn mang hơi hưởng phong trào và chưa có sự bứt phá mạnh mẽ về cả nội dung và hình thức thể hiện. Tính nghệ thuật của nhiều tác phẩm còn hạn chế, nhất là việc sử dụng hình ảnh, ngôn từ có lúc còn dễ dãi, thậm chí chưa hợp lý.

Về văn xuôi, đề tài được khai thác và phản ảnh khá phong phú. Đó là tình yêu quê hương đất nước; là thực tế sinh động, phong phú của quá trình phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống mới; là những hoài niệm về các cuộc chiến tranh đã qua với biết bao vất vả hy sinh cùng những tấm gương sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, gắn liền với những chiến công hiển hách; là thân phận con người và những mặt trái của cuộc sống…

Cũng như những người Việt Nam khác, người dân Bình Dương vốn nặng nghĩa tình. Một trong những biểu hiện của trạng thái tâm lý - tinh thần ấy là tình yêu quê hương, đất nước, con người. Tình cảm ấy thật sâu nặng và thiêng liêng. Đó là một trong những cội nguồn sức mạnh to lớn để các thế hệ nối tiếp nhau đoàn kết xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Cùng với hành động thực tế, họ gửi nỗi niềm của mình vào văn học, nghệ thuật, trong đó có văn xuôi.

Đọc các tác phẩm văn xuôi Bình Dương ra đời trong 50 năm qua, ta bắt gặp những hình ảnh tươi đẹp của cuộc sống mới. Bằng khả năng quan sát tinh tế và nhạy bén của mình, các tác giả đã phản ảnh không khí tưng bừng, phấn khởi, những nhịp đời tươi trẻ, các mối quan hệ tốt đẹp và cả những nỗi niềm ưu tư vào các trang viết. Đó là các tác phẩm giàu ý và tình như Khu phố vào xuân, Cây đa, Mười lăm năm ấy của Trần Đôn; đó là tiểu thuyết Trời rộng sông dài và các sáng tác có chiều sâu khác của Phan Đức Nam; là tập truyện ngắn Ngã rẽ và các trang văn tươi rói chất liệu cuộc sống trong tuyển tập Mùa đã tươi màu nắng của Lê Minh Vũ; là tập truyện ngắn Có một tình yêu và các tác phẩm viết về các mối quan hệ đời thường trong gia đình, nhà trường của Phan Hai. Đó còn là nhịp đời mang nặng tình người và niềm tin yêu cuộc sống trong các truyện ngắn của Lưu Thành Tựu; là những câu chuyện về nhân tình thế thái giàu tính nhân văn với cách diễn đạt rất có duyên của Đào Văn Đạt; là những trang hồi ký đầy ắp nỗi niềm của Võ Thị Nhạn; là những lát cắt hiện thực cuộc sống bình dị nhưng ẩn chứa bên trong bao điều muốn nói trong các tác phẩm của Trần Thị Quỳnh Như; là bao trang văn - trang đời nhiều gam màu trong các sáng tác của Nguyễn Thị Phượng; hay các tác phẩm viết về những người giáo viên tuy đã nghỉ hưu nhưng vẫn nặng tình yêu thương đối với các em nhỏ cơ nhỡ thất học của  Trần Lan Hương…

Với tình yêu quê hương tha thiết, ngay sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, các tầng lớp nhân dân Bình Dương đã hăng hái bắt tay vào khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Đây là một trong những hoạt động trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân sau khi chiến tranh kết thúc và là đề tài lớn của văn học thời hậu chiến, và hiện thực sôi động ấy được phản ảnh khá đậm nét trong các tác phẩm văn xuôi Bình Dương.

Trước hết, để khắc phục tàn tích của chiến tranh, ổn định cuộc sống, cấp ủy và chính quyền các cấp đã tổ chức vận động nhân dân trước kia ly tán trở về quê cũ làm ăn. Bên cạnh đó, hàng trăm hộ dân ở thành thị gặp khó khăn được Đảng, Nhà nước hỗ trợ đi lên vùng trên khai hoang lập nghiệp. Một cuộc sắp xếp lại dân cư và khai hoang, phục hóa đất đai phục vụ sản xuất được gấp rút triển khai thực hiện. Tiềm năng, thế mạnh về kinh tế của Bình Dương lúc này là nông - lâm nghiệp, nhất là cây công nghiệp dài ngày, chủ yếu là cao su. Những nông trường cao su có từ trước giải phóng được tiếp quản và củng cố. Bên cạnh đó, hàng loạt nông trường cao su mới ra đời. Một số lâm trường cũng được thành lập với chức năng chính là trồng và tái tạo rừng.

Một số đơn vị bộ đội vừa từ chiến trận trở về được huy động giúp dân rà phá bom mìn, ổn định cuộc sống. Trên các bãi chiến trường khốc liệt vừa im tiếng súng chưa bao lâu, những người công nhân, nông dân, chiến sỹ lực lượng vũ trang phải lao động cật lực để san lấp hầm hố, nhặt từng mảnh bom, vỏ đạn, gom từng đoạn dây thép gai, gỡ từng quả bom mìn còn sót lại trong lòng đất với bao hiểm họa đang rình rập. Từ đống đổ nát của chiến tranh, họ đã mang lại sự bình yên, tươi mới cho vùng đất một thời “gian lao mà anh dũng”, để từ đó, bao sự sống mới đâm chồi nảy lộc. Đó là những rừng cao su bạt ngàn, “đứng thẳng hàng tăm tắp như những đoàn quân”, cung cấp nguồn vàng trắng bất tận; là những vườn bưởi, cam, mít, chôm chôm, măng cụt, sầu riêng… tươi tốt, trái trĩu cành, hay những ruộng lúa, nương khoai xanh ngát, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân. Lớp lớp những con người đi ra từ cuộc chiến tranh đã trở thành chủ nhân của cuộc sống mới.

Thực tế sinh động trên đây đã được phản ảnh qua các tác phẩm văn xuôi như “Chuyện ở một nông trường” của Trần Bình Dương, “Ghi chép ở Tân Ba” của Trần Xuân Lý, “Sông Bé xanh” của Nam Hà, “Màu xanh Tân Lợi” của Bùi Nhựa,  “Hương đất” của Nguyễn Quốc Nhân, “Người cùng thế hệ” của Nguyễn Thăng Bừng, “Hương đất tình người” của Hoàng Lâm, “Đêm thảo nguyên” của Ngọc Am… Qua những trang viết sống động, đầy ắp tư liệu thực tế, các tác giả đã khắc họa nên một “cuộc chiến”  mới trên mặt trận sản xuất, xây dựng cuộc sống mới, để lại ấn tượng khá đậm nét trong lòng người đọc.

Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh thời gian này ít phát triển, quy mô còn hạn chế. Bước vào thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, với việc khai thác hiệu quả lợi thế về vị trí địa lý và các tiềm năng, thế mạnh trên địa bàn, Bình Dương thu hút ngày càng mạnh mẽ vốn đầu tư trong và ngoài nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ nông - lâm nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Các khu, cụm công nghiệp mọc lên ngày càng nhiều, thu hút đông đảo lao động từ các vùng, miền đất nước. Theo đà phát triển công nghiệp, các loại hình dịch vụ - thương mại ra đời. Thực tiễn sinh động và phong phú ấy được phản ảnh trong các sáng tác của Chu Lai, Phan Đức Nam, Trần Bình Dương, Nam Hà, Nguyễn Quyết Chiến, Mai Lam, Lưu Thành Tựu, và một số tác giả khác. Là người từng gắn bó với Bình Dương qua những năm tháng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chứng kiến cuộc sống mới đang diễn ra mạnh mẽ ở nơi đây, nhà văn quân đội Chu Lai khẳng định: Bình Dương “Từ đất mà lên”. Với tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, Đảng bộ và nhân dân Bình Dương đã biến vùng đất quê hương mình trở thành “Nơi có nhiều cái nhất”: nhất về xây dựng kết cấu hạ giao thông; nhất về thu hút đầu tư trong và ngoài nước để đẩy mạnh phát triển công nghiệp; nhất về cải cách hành chính; nhất về việc người dân được sử dụng điện lưới quốc gia phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt… Nhà văn Phan Đức Nam trong tác phẩm “Đất lành” đã phản ảnh hiện thực sôi động ỏ Bình Dương khi công nghiệp phát triển mạnh mẽ đã thu hút đông đảo lực lượng công nhân từ các vùng miền đất nước về đây lập nghiệp. Với áng văn giàu chất thơ và tính sáng tạo, ký sự “Bay lên từ tấm thảm đỏ diệu kỳ” của Trần Bình Dương đã khái quát hành trình “cất cánh” của Bình Dương trong thời kỳ đổi mới. Nguyễn Quyết Chiến khắc họa không khí hăng say lao động sản xuất qua tác phẩm “Nhịp sống bắt đầu”. “Trở lại vùng Tam giác sắt” của Mai Lam phản ánh nhịp sống sôi động và sự thay đổi nhanh chóng nhờ công cuộc công nghiệp hóa ở một vùng quê thuần nông vốn là căn cứ cách mạng nổi tiếng. Bút ký Tân Uyên Chiến khu xưa – Thành phố hôm nay của Nguyễn Bá Nhân, ghi chép Tân Uyên thành phố tôi yêu của Lệ Hồng… nói về nhịp sống sôi động ở một thành phố trẻ. Lưu Thành Tựu với truyện ngắn “Hoa xương rồng trên cửa sổ tầng 5”, nói về tình yêu của cô gái Việt Nam tên Lam với Tony, chàng trai Hồng Kông tại khu công nghiệp VSip, qua đó nói lên mối quan hệ làm ăn giữa Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới… Từ những đột phá của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bình Dương đã vươn mình trở thành một trong những trung tâm kinh tế năng động của khu vực và cả nước, đồng thời trở thành “vùng đất màu mỡ”  cho văn học nghệt thuật phát triển.

Như một lẽ đương nhiên, cuộc sống luôn có hai mặt phải, trái. Bên cạnh các yếu tố tích cực và những thành tựu đã đạt được, công cuộc đổi mới cũng bộc lộ những hạn chế, khó khăn cần phải khắc phục, nhất là ở giai đoạn đầu. Các tác giả văn xuôi đã bám sát thực tế, kịp thời phản ảnh những vấn đề trên một cách khá rõ nét. Đó là những bất cập trong đào tạo nghề, những khó khăn vất vả trong đời sống của công nhân như giờ giấc, lương bổng, điều kiện ăn ở, sinh hoạt, được phản ảnh trong tác phẩm “Xôn xao chiều 550” của Phan Đức Nam, hay “Chuyện của công nhân” của Mai Lam. Đó còn là tình trạng những vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến cùng với cuộc đời bất hạnh của bao người còn bị bỏ lại phía sau. Hiện thực ấy được phản ảnh trong các tác phẩm “Đêm hoan lạc”, “Hy vọng”, “Phía sau cuối của truyện Thánh Gióng”, “Anh tôi đúng là bậc thầy” của Huỳnh Ngọc Đáng; “Tản mạn về người và vật quanh tôi”, “Điều còn lại sau chiến tranh”, “Truyền thuyết nghề văn”, “Con khí của cha tôi” của Trần Bình Dương; “Mùa xuân của đất”, “Chiếc thuyền câu” của Nguyễn Quốc Nhân; “Chạy dở” của Trần Đôn; “Vượt lên số phận”, “Tiếng cu gù” của Mai Lam; “Bên những nấm mồ” của Nguyễn Công Dinh

 Bên cạnh sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống mới, mặc dù chiến tranh đã đi qua, chiến tranh cách mạng vẫn là đề tài lớn của văn học nghệ thuật, được các tác giả văn xuôi Bình Dương khai thác khá hiệu quả.

Bình Dương là vùng đất có truyền thống cách mạng lâu đời. Truyền thống cao đẹp ấy gắn liền với những tên đất, tên người nổi tiếng. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, nói đến Bình Dương là nói đến các chiến khu Đ, chiến khu Thuận An Hòa, vùng Tam giác Sắt… với những chiến công oanh liệt làm nức lòng nhân dân trong tỉnh và nhân dân cả nước.

Trước năm 1975, truyền thống cao đẹp ấy đã được phản ảnh trong một số tác phẩm văn học, tiêu biểu là truyện ký “Trên đất này ngày ấy” của Bùi Cát Vũ (viết về Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ). Tuy nhiên, do tính chất ác liệt của chiến tranh, hình ảnh cuộc chiến đấu oanh liệt, đầy gian khổ, hy sinh của quân dân Bình Dương chủ yếu được phản ảnh trong các tác phẩm văn học sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất. Các tác phẩm tiêu biểu của mảng đề tài này là “Ký sự giữ rừng”, “Nắng đồng bằng” của Chu Lai, “Trong vùng Tam giác sắt” của Nam Hà, “Một thời để nhớ” của Nguyễn Quốc Nhân, “Sự tích bến Đá” của Bùi Danh Hải Phong, “Đội nữ võ trang Bến Cát” của Mai Lam… Với “Ký sự giữ rừng”, Chu Lai phản ảnh khá đậm nét không khí ngột ngạt khi chính quyền Ngô Đình Diệm, với luật 10/59, lê máy chém khắp miền Nam với mưu đồ “thà giết nhầm còn hơn để sót”. Thực hiện mưu đồ đen tối ấy, kẻ thù đã gây bao tội ác hết sức dã man đối với nhân dân ta. Hiện thân của tội ác ấy là tên Nguyễn Minh Mẫn, tỉnh trưởng Phước Thành. Ngày ngày, tên ác ôn man rợ này đã cho lính đem tù nhân chính trị ra chặt đầu rồi vứt xuống dòng sông Bé. Tội ác tày trời của chúng đã thổi bùng ngọn lửa căm thù của nhân dân ta.  Ở khắp nơi, phong trào đấu tranh chống giặc nổ ra mạnh mẽ. Chỉ trong một đêm của tháng 11 năm 1961, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, giải phóng hoàn toàn tỉnh lỵ Phước Thành, giải thoát cho trên 300 chiến sỹ cách mạng và quần chúng yêu nước bị tên Mẫn và tay chân của hắn giam cầm. Trong tác phẩm “Nắng đồng bằng”, Chu Lai dựng lại cuộc chiến đấu đầy cam go, ác liệt nhưng đậm tinh thần nhân văn cao cả của đơn vị trinh sát và du kích xã Bình Mỹ anh hùng sau Tết Mâu Thân 1968. Ở tác phẩm “Trong vùng Tam giác sắt”, Nam Hà cũng làm sống lại không khí cuộc chiến đấu khốc liệt diễn ra cùng thời gian trên đây tại một vùng đất kiên cường, bất khuất khác của Bình Dương. Dưới ngòi bút của các tác giả Bùi Danh Hải Phong, Mai Lam, sự khốc liệt của chiến tranh cùng tinh thần yêu nước sâu sắc, ý chí kiên cường bất khuất, lòng quá cảm của quân và dân ta, thông qua các nhân vật tiêu biểu như Nguyễn Thị Huynh, Sáu Chè, Sáu Hòa, Chín Phượng… được tái hiện một cách đậm nét.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng truyền thống anh hùng và sự hy sinh vô bờ của người dân Bình Dương trong các cuộc kháng chiến vẫn mãi ngự trị trong trái tim bao người con của vùng đất giàu hào khí cách mạng này. Nhà văn Phan Đức Nam qua các tiểu thuyết Tuổi thơ dũng sỹ, Bông hoa trên tuyến lửa đã khắc họa những những năm tháng hào hùng của những con người vốn rất mực bình dị. Tác giả Trần Đôn đã nói lên sự kính phục, lòng biết ơn sâu sắc đối với những người con ưu tú của quê hương mình trong một loạt tác phẩm như “Bà Hai Não”, “Mẹ Việt Nam anh hùng Phan Thị Cai”, “Và hoa đã nở…”, “Có một thời để nhớ”, “45 năm nỗi đau chưa dứt tự hào chưa phai”, “Chiếc cơi trầu của ngoại”, “Lễ mừng thọ 373”, “Gặp lại người dũng sỹ năm xưa”… Các nhân vật trong tác phẩm của ông rất bình dị nhưng cũng thật anh hùng. Đó là nữ chiến sỹ cách mạng lão thành Lê Thị Não, tuy có vóc dáng khiêm tốn nhưng chí khí ngất trời, bị địch bắt và tra tấn dã man vẫn một lòng kiên trung với cách mạng, mưu trí, dũng cảm chiến thắng kẻ thù để trở về tiếp tục tranh đấu. Đó là mẹ Phan Thị Cai. Chồng và con trai của mẹ hy sinh, mẹ đã nén đau thương, vừa hăng hái hoạt động cách mạng, vừa nuôi dưỡng những người con còn lại trưởng thành để tiếp tục cống hiến cho đất nước. Đó là anh hùng Nguyễn Thị Tươi. Trong một trận đánh không cân sức, dù đã bị thương nặng, người nữ chiến sỹ quá cảm ấy vẫn không chịu để đồng đội băng bó mà động viên mọi người xông lên quyết sống mái với quân thù. Tác giả Nguyễn Bá Nhân trong tập truyện ký Chim Quyên gọi bạn đã tái hiện cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của  nhân dân An Thạnh, An Sơn (Thuận An) và vùng ven Thủ Dầu Một trong hai cuộc kháng chiến với những tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng như Mẹ Việt Nam Anh hùng Quách Thị Lương Truyền và con gái mẹ là Thái Thị Trung, cùng các chiến sỹ cách mạng Lê Văn Hoạch, Lê Văn Quốc, Út Khía…Nguyễn Quế với bút ký “Rạng danh vùng đất anh hùng” và các truyện ngắn “Như những dòng sông đổ về biển lớn”, “Góc khuất của chiến tranh”, “Chuyện về người anh hùng”, “Đêm trừ tịch”… đã ngợi ca truyền thống cao đẹp, những đóng góp, hy sinh to lớn của các thế hệ người dân cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Hoàng Hương Lan (Trần Lan Hương) với các tác phẩm Người chiến sỹ “chân trần chí thép”, Một sự hy sinh… cũng đã khắc họa rõ nét hình ảnh những người chiến sỹ thông minh, quả cảm trong chiến đấu, đã lập nên những chiến công vang dội, hay các chiến sỹ tình báo phải hy sinh thầm lặng, chịu đựng sự hiểu lầm của đồng đội và gia đình để hóa thân hoạt động đơn tuyến trong hàng ngũ địch. Bước ra từ cuộc chiến tranh, họ vẫn nêu cao bản chất truyền thống “bộ đội Cụ Hồ”,  trở thành những tấm gương sáng giữa đời thường.

Có thể nói, văn xuôi Bình Dương trong 50 năm sau ngày đất nước thống nhất đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Phần lớn các tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đã tập trung khai thác, phản ánh những vấn đề trọng tâm, nổi bật nhất của hiện thực cuộc sống, kịp thời khắc họa hình ảnh những con người mới, những điển hình tiêu biểu trong lao động sản xuất và chiến đấu ở địa phương. Qua các trang sách, người đọc lĩnh hội được bức tranh phong phú, chân thực về lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng cùng với thực tế sinh động và khát vọng cao đẹp của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Các tác giả cũng đã sử dụng khá hiệu quả các thủ pháp nghệ thuật, nhất là sự linh hoạt, nhạy bén của các thể ký và bút pháp tả thực để chuyển tải nội dung cần phản ánh. Đôi khi người viết gửi gắm niềm xúc cảm trước hiện thực cuộc sống qua những trang viết giàu chất lãng mạn và sức tưởng tượng, nhưng ngòi bút tác giả vẫn bám sát thực tế cuộc sống. Mặc dù chưa thật đậm nét nhưng văn xuôi Bình Dương 50 năm qua đã thể hiện được sự đa dạng, phong phú về phong cách sáng tác. Giọng điệu mỗi tác giả cũng mỗi khác. Nếu như Nguyễn Quốc Nhân nồng nàn tình yêu cuộc sống, Nguyễn Quyết Chiến giàu lòng nhiệt thành, Mai Lam thể hiện sự chỉn chu, Trần Bình Phương bay bổng, Trần Đôn vừa sôi nổi vừa ưu tư, thì Huỳnh Ngọc Đáng chậm rãi, khoan thai nhưng không kém phần sâu sắc. Nếu như sở trường của Phan Đức Nam là khai thác các chi tiết thì Đào Văn Đạt thiên về khám phá thế giới bên trong của nhân vật. Nếu Lê Minh Vũ bay bổng với những xúc cảm ngọt ngào từ hiện thực cuộc sống thì Lưu Thành Tựu thích phiêu du về những miền kỷ niệm xưa yêu dấu, còn Phan Hai thường trăn trở, băn khoăn với những câu chuyện đời thường…

Mặt hạn chế chủ yếu của văn học Bình Dương 50 năm qua là chưa có những tác phẩm lớn, khắc họa đậm nét, sâu sắc hiện thực cuộc sống ở một trong những địa bàn phát triển kinh tế, xã hội năng động nhất của cả nước.

Bình Dương đang chuẩn bị bước vào một cuộc hóa thân và hòa nhập lớn trên tất cả các lĩnh vực. Tuy vậy, những thành quả về mọi mặt của địa phương, trong đó có văn học, sẽ còn được mãi lưu giữ trong kho tàng văn hóa chung của khu vực, và nhất là trong tâm tưởng mọi người. Các nhà văn, nhà thơ đã một thời gắn bó với vùng đất Bình Dương sẽ tiếp tục có cơ hội phát huy vai trò của mình, cùng thành phố Hồ Chí Minh mới và cả nước vũng tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm
Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng
Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.
Xem thêm