TIN TỨC

Nụ hôn – biểu tượng của ký ức và lòng nhân hậu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-15 06:37:50
mail facebook google pos stwis
1124 lượt xem

Ấm lòng những nụ hôn như thế – tập thơ mới của Đại tá, Thầy thuốc ưu tú, nhà thơ Phạm Đình Phú – không chỉ là một cuốn sách về tình yêu – tình người, mà là một khúc tưởng niệm giàu nhân văn. Qua lăng kính thẩm bình thơ của hai nữ nhà thơ Minh Hạnh và Nguyễn Thị Phương Nam, người đọc có thể cảm nhận được những “nụ hôn” mang hình dáng đất nước: có hương cau tuổi học trò, có khói bom chiến địa, có nước mắt tìm nhau sau hòa bình... Và trên hết, có một trái tim người thi sĩ luôn thổn thức trước những gì đẹp nhất và đau nhất của con người. Nhân dịp CLB Thơ Phương Nam chuẩn bị ra mắt tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế, Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin trân trọng giới thiệu hai bài viết này.

 

Nhà thơ MINH HẠNH

“Ấm lòng những nụ hôn như thế” –
Khi nụ hôn trở thành ngôn ngữ của nhân văn

 

Khi nói đến “nụ hôn” trong thi ca, người ta thường nghĩ đến những rung động lứa đôi, những khoảnh khắc nồng cháy của tình yêu. Nhưng trong tập thơ “ẤM LÒNG NHỮNG NỤ HÔN NHƯ THẾ”, nhà thơ Phạm Đình Phú đã làm một điều đặc biệt hơn thế: ông nâng nụ hôn lên thành biểu tượng của tình người.

Từ nụ hôn tiễn biệt của người mẹ, đến nụ hôn lặng thầm của nữ cứu thương trên chiến trường; từ nụ hôn thơ trẻ đầu đời của những cô gái đồng chiêm trũng, đến nụ hôn trong giấc mơ người lính đã khuất... Tất cả hiện lên như những nhịp tim chưa bao giờ ngủ yên, như thanh âm dịu dàng của ký ức trong một thời đạn bom:

"Nụ hôn cô y tá tặng người chiến sĩ trước phút lâm chung

Không cần giấy phép nhưng ấm lòng mãi mãi."

(Trích “Ấm lòng những nụ hôn như thế”)

Tác giả đã chọn “nụ hôn” làm chủ đề xuyên suốt cả một tập thơ. Với trải nghiệm từng đứng nơi ranh giới sinh tử, việc ông chọn nụ hôn hẳn đã là một sự chọn lựa kỹ lưỡng và đầy dụng tâm.

Nhà thơ Phạm Đình Phú không đi theo lối gợi cảm thông thường mà ông chưng cất từng nụ hôn thành giọt nhân văn tinh túy, để mỗi bài thơ không chỉ là lời thì thầm yêu đương, mà là tiếng gọi từ quá khứ, là cái nhìn sâu sắc về chiến tranh, cùng niềm tin âm ỉ của những thế hệ đã đi qua bom đạn nhưng vẫn giữ được nét dịu dàng trong tâm hồn.

Trong bài “Yêu em đi”, ông để một vong hồn nữ liệt sĩ thì thầm:

"Tĩnh lặng Nghĩa trang Đài

Yêu… em… đi!

Thì thầm thanh tịnh ánh ban mai…"

(Trích “Yêu em đi”)

Không ai đọc mà không rưng rưng.

Ngôn ngữ của ông giản dị, gần gũi, nhưng ẩn chứa tầng sâu cảm xúc từng trải, đúng như cốt cách của người lính nói ít làm nhiều. Ông không lạm dụng mỹ từ mà chọn lối thơ hồi tưởng, thơ thủ thỉ như một cuộc trò chuyện từ trái tim đến trái tim.

Và vì thế những câu thơ như:

"Đôi dép râu thương nhớ, nằm mồ côi

Khi đối diện trước em anh hư thế"

(Trích “Anh hư thế”)

Hay:

"Nụ hôn mặn chát mồ hôi

Hương đồng gió bể dành cho anh"

(Trích “Nụ em đồng chiêm trũng”)

Điều làm nên sự khác biệt sâu sắc của “Ấm lòng những nụ hôn như thế” nằm ở chỗ đây là thơ ký ức, được viết bởi một người lính, một bác sĩ đã từng đi qua chiến tranh. Nụ hôn trong thơ ông vừa là lời chào, lời tiễn, lời xin lỗi, lời hẹn và cả lời vĩnh biệt. Có lẽ vì thế mà ông viết về nụ hôn với một trái tim thổn thức, vì một điều gì đó sâu xa hơn cả tình yêu đôi lứa: đó chính là tình người.

“Ấm lòng những nụ hôn như thế” không chỉ là một tập thơ viết về nụ hôn. Đó là một nụ hôn thi ca được đặt trong suy tư, trăn trở của một thời, như một cách tri ân, một lời tiễn biệt và cũng là một niềm hy vọng.

Trong nhịp sống hối hả hôm nay, khi ngôn từ dễ rơi vào sáo mòn, tập thơ này như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng: Có những nụ hôn không chỉ dành cho đôi lứa mà dành cho cả một dân tộc, như một cái ôm chạm sâu vào ký ức.

Đọc thơ ông tôi không chỉ thấy lòng mình được “ấm” mà còn thấy lòng mình được thức tỉnh. Bởi tình yêu lớn nhất đôi khi chỉ cần một nụ hôn ấy làm đau đáu biết bao thế hệ. Nụ hôn ấy ấm mãi khát khao cháy bỏng được sống được yêu. Nụ hôn ấy là niềm tin cho ngày mai tươi sáng. Nụ hôn làm ấm lòng, trăn trở những người đang sống và nhất là những người cầm bút như chúng tôi.

 

Nhà thơ NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NAM

Đôi điều cảm nhận khi đến với
tập thơ “Ấm lòng những nụ hôn như thế”

 

 “Những nụ hôn” ấm nồng tình cảm

 Từ thuở lọt lòng cha mẹ trao anh

 Ông bà nâng niu đứa cháu hiền lành

 Đi, đi mãi không quên thời thơ dại.

 

 “Những nụ hôn” tuổi trăng tròn hò hẹn

 “Mười tám” đôi mươi tim rạo rực dạt dào

  Gửi cho em, nào “hương bưởi, hương cau”

 “Những nụ hôn” cháy nồng như nắng hạ.

 

 “Những nụ hôn” sau mùa thi cuối khóa

 Bên nữ bên nam chan chứa tình thương

 Tạm biệt nhau, “nụ hồng xua” nỗi nhớ

 Để ngày mai ta xa cách bốn phương.

 

 Tổ quốc lâm nguy sẵn sàng ra trận

 “Chiến đấu hết mình dưới cờ sao!”

 Có “nụ hôn ngào ngạt em trao”

 Đến anh chiến sĩ đi vào thiên thu.

 

 Bao năm kháng chiến không ngừng nghỉ

 Có những nụ hôn vội vã chiến hào.

 Bao đồng đội hy sinh vì nghĩa lớn

 Thương tuổi trẻ hẹn hò mà chưa kịp hôn nhau.

 

 Ơi em nữ cứu thương với “nụ hôn đầu”

 Ôi yêu thương người con gái trẻ

 Mảnh bom thù xé nát trái tim em

 Thôi “em ở lại với rừng xanh” em nhé!
 

                          ***
 

  Hòa bình rồi sao anh không trở lại

 Em đi tìm “hơn bốn lăm năm” qua

 “Hòa vào đất nụ hôn đầu tươi rói”

 Em đưa anh về, gần mẹ, gần cha.

 

“Ấm lòng những nụ hôn như thế”

 Những nụ hôn ngọt ngào

                        chứa đựng tính nhân văn.

________

P/s: Những cụm từ trong ngoặc kép là tên một số bài thơ trong tập “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.

Xin cảm ơn tác giả, nhà thơ Phạm Đình Phú với tác phẩm mới “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.

Ngày 10 tháng 7 năm 2025

N.T.P.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm