TIN TỨC

Nụ hôn – biểu tượng của ký ức và lòng nhân hậu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-15 06:37:50
mail facebook google pos stwis
739 lượt xem

Ấm lòng những nụ hôn như thế – tập thơ mới của Đại tá, Thầy thuốc ưu tú, nhà thơ Phạm Đình Phú – không chỉ là một cuốn sách về tình yêu – tình người, mà là một khúc tưởng niệm giàu nhân văn. Qua lăng kính thẩm bình thơ của hai nữ nhà thơ Minh Hạnh và Nguyễn Thị Phương Nam, người đọc có thể cảm nhận được những “nụ hôn” mang hình dáng đất nước: có hương cau tuổi học trò, có khói bom chiến địa, có nước mắt tìm nhau sau hòa bình... Và trên hết, có một trái tim người thi sĩ luôn thổn thức trước những gì đẹp nhất và đau nhất của con người. Nhân dịp CLB Thơ Phương Nam chuẩn bị ra mắt tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế, Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin trân trọng giới thiệu hai bài viết này.

 

Nhà thơ MINH HẠNH

“Ấm lòng những nụ hôn như thế” –
Khi nụ hôn trở thành ngôn ngữ của nhân văn

 

Khi nói đến “nụ hôn” trong thi ca, người ta thường nghĩ đến những rung động lứa đôi, những khoảnh khắc nồng cháy của tình yêu. Nhưng trong tập thơ “ẤM LÒNG NHỮNG NỤ HÔN NHƯ THẾ”, nhà thơ Phạm Đình Phú đã làm một điều đặc biệt hơn thế: ông nâng nụ hôn lên thành biểu tượng của tình người.

Từ nụ hôn tiễn biệt của người mẹ, đến nụ hôn lặng thầm của nữ cứu thương trên chiến trường; từ nụ hôn thơ trẻ đầu đời của những cô gái đồng chiêm trũng, đến nụ hôn trong giấc mơ người lính đã khuất... Tất cả hiện lên như những nhịp tim chưa bao giờ ngủ yên, như thanh âm dịu dàng của ký ức trong một thời đạn bom:

"Nụ hôn cô y tá tặng người chiến sĩ trước phút lâm chung

Không cần giấy phép nhưng ấm lòng mãi mãi."

(Trích “Ấm lòng những nụ hôn như thế”)

Tác giả đã chọn “nụ hôn” làm chủ đề xuyên suốt cả một tập thơ. Với trải nghiệm từng đứng nơi ranh giới sinh tử, việc ông chọn nụ hôn hẳn đã là một sự chọn lựa kỹ lưỡng và đầy dụng tâm.

Nhà thơ Phạm Đình Phú không đi theo lối gợi cảm thông thường mà ông chưng cất từng nụ hôn thành giọt nhân văn tinh túy, để mỗi bài thơ không chỉ là lời thì thầm yêu đương, mà là tiếng gọi từ quá khứ, là cái nhìn sâu sắc về chiến tranh, cùng niềm tin âm ỉ của những thế hệ đã đi qua bom đạn nhưng vẫn giữ được nét dịu dàng trong tâm hồn.

Trong bài “Yêu em đi”, ông để một vong hồn nữ liệt sĩ thì thầm:

"Tĩnh lặng Nghĩa trang Đài

Yêu… em… đi!

Thì thầm thanh tịnh ánh ban mai…"

(Trích “Yêu em đi”)

Không ai đọc mà không rưng rưng.

Ngôn ngữ của ông giản dị, gần gũi, nhưng ẩn chứa tầng sâu cảm xúc từng trải, đúng như cốt cách của người lính nói ít làm nhiều. Ông không lạm dụng mỹ từ mà chọn lối thơ hồi tưởng, thơ thủ thỉ như một cuộc trò chuyện từ trái tim đến trái tim.

Và vì thế những câu thơ như:

"Đôi dép râu thương nhớ, nằm mồ côi

Khi đối diện trước em anh hư thế"

(Trích “Anh hư thế”)

Hay:

"Nụ hôn mặn chát mồ hôi

Hương đồng gió bể dành cho anh"

(Trích “Nụ em đồng chiêm trũng”)

Điều làm nên sự khác biệt sâu sắc của “Ấm lòng những nụ hôn như thế” nằm ở chỗ đây là thơ ký ức, được viết bởi một người lính, một bác sĩ đã từng đi qua chiến tranh. Nụ hôn trong thơ ông vừa là lời chào, lời tiễn, lời xin lỗi, lời hẹn và cả lời vĩnh biệt. Có lẽ vì thế mà ông viết về nụ hôn với một trái tim thổn thức, vì một điều gì đó sâu xa hơn cả tình yêu đôi lứa: đó chính là tình người.

“Ấm lòng những nụ hôn như thế” không chỉ là một tập thơ viết về nụ hôn. Đó là một nụ hôn thi ca được đặt trong suy tư, trăn trở của một thời, như một cách tri ân, một lời tiễn biệt và cũng là một niềm hy vọng.

Trong nhịp sống hối hả hôm nay, khi ngôn từ dễ rơi vào sáo mòn, tập thơ này như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng: Có những nụ hôn không chỉ dành cho đôi lứa mà dành cho cả một dân tộc, như một cái ôm chạm sâu vào ký ức.

Đọc thơ ông tôi không chỉ thấy lòng mình được “ấm” mà còn thấy lòng mình được thức tỉnh. Bởi tình yêu lớn nhất đôi khi chỉ cần một nụ hôn ấy làm đau đáu biết bao thế hệ. Nụ hôn ấy ấm mãi khát khao cháy bỏng được sống được yêu. Nụ hôn ấy là niềm tin cho ngày mai tươi sáng. Nụ hôn làm ấm lòng, trăn trở những người đang sống và nhất là những người cầm bút như chúng tôi.

 

Nhà thơ NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NAM

Đôi điều cảm nhận khi đến với
tập thơ “Ấm lòng những nụ hôn như thế”

 

 “Những nụ hôn” ấm nồng tình cảm

 Từ thuở lọt lòng cha mẹ trao anh

 Ông bà nâng niu đứa cháu hiền lành

 Đi, đi mãi không quên thời thơ dại.

 

 “Những nụ hôn” tuổi trăng tròn hò hẹn

 “Mười tám” đôi mươi tim rạo rực dạt dào

  Gửi cho em, nào “hương bưởi, hương cau”

 “Những nụ hôn” cháy nồng như nắng hạ.

 

 “Những nụ hôn” sau mùa thi cuối khóa

 Bên nữ bên nam chan chứa tình thương

 Tạm biệt nhau, “nụ hồng xua” nỗi nhớ

 Để ngày mai ta xa cách bốn phương.

 

 Tổ quốc lâm nguy sẵn sàng ra trận

 “Chiến đấu hết mình dưới cờ sao!”

 Có “nụ hôn ngào ngạt em trao”

 Đến anh chiến sĩ đi vào thiên thu.

 

 Bao năm kháng chiến không ngừng nghỉ

 Có những nụ hôn vội vã chiến hào.

 Bao đồng đội hy sinh vì nghĩa lớn

 Thương tuổi trẻ hẹn hò mà chưa kịp hôn nhau.

 

 Ơi em nữ cứu thương với “nụ hôn đầu”

 Ôi yêu thương người con gái trẻ

 Mảnh bom thù xé nát trái tim em

 Thôi “em ở lại với rừng xanh” em nhé!
 

                          ***
 

  Hòa bình rồi sao anh không trở lại

 Em đi tìm “hơn bốn lăm năm” qua

 “Hòa vào đất nụ hôn đầu tươi rói”

 Em đưa anh về, gần mẹ, gần cha.

 

“Ấm lòng những nụ hôn như thế”

 Những nụ hôn ngọt ngào

                        chứa đựng tính nhân văn.

________

P/s: Những cụm từ trong ngoặc kép là tên một số bài thơ trong tập “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.

Xin cảm ơn tác giả, nhà thơ Phạm Đình Phú với tác phẩm mới “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.

Ngày 10 tháng 7 năm 2025

N.T.P.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm