TIN TỨC

Nụ hôn – biểu tượng của ký ức và lòng nhân hậu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-15 06:37:50
mail facebook google pos stwis
808 lượt xem

Ấm lòng những nụ hôn như thế – tập thơ mới của Đại tá, Thầy thuốc ưu tú, nhà thơ Phạm Đình Phú – không chỉ là một cuốn sách về tình yêu – tình người, mà là một khúc tưởng niệm giàu nhân văn. Qua lăng kính thẩm bình thơ của hai nữ nhà thơ Minh Hạnh và Nguyễn Thị Phương Nam, người đọc có thể cảm nhận được những “nụ hôn” mang hình dáng đất nước: có hương cau tuổi học trò, có khói bom chiến địa, có nước mắt tìm nhau sau hòa bình... Và trên hết, có một trái tim người thi sĩ luôn thổn thức trước những gì đẹp nhất và đau nhất của con người. Nhân dịp CLB Thơ Phương Nam chuẩn bị ra mắt tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế, Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin trân trọng giới thiệu hai bài viết này.

 

Nhà thơ MINH HẠNH

“Ấm lòng những nụ hôn như thế” –
Khi nụ hôn trở thành ngôn ngữ của nhân văn

 

Khi nói đến “nụ hôn” trong thi ca, người ta thường nghĩ đến những rung động lứa đôi, những khoảnh khắc nồng cháy của tình yêu. Nhưng trong tập thơ “ẤM LÒNG NHỮNG NỤ HÔN NHƯ THẾ”, nhà thơ Phạm Đình Phú đã làm một điều đặc biệt hơn thế: ông nâng nụ hôn lên thành biểu tượng của tình người.

Từ nụ hôn tiễn biệt của người mẹ, đến nụ hôn lặng thầm của nữ cứu thương trên chiến trường; từ nụ hôn thơ trẻ đầu đời của những cô gái đồng chiêm trũng, đến nụ hôn trong giấc mơ người lính đã khuất... Tất cả hiện lên như những nhịp tim chưa bao giờ ngủ yên, như thanh âm dịu dàng của ký ức trong một thời đạn bom:

"Nụ hôn cô y tá tặng người chiến sĩ trước phút lâm chung

Không cần giấy phép nhưng ấm lòng mãi mãi."

(Trích “Ấm lòng những nụ hôn như thế”)

Tác giả đã chọn “nụ hôn” làm chủ đề xuyên suốt cả một tập thơ. Với trải nghiệm từng đứng nơi ranh giới sinh tử, việc ông chọn nụ hôn hẳn đã là một sự chọn lựa kỹ lưỡng và đầy dụng tâm.

Nhà thơ Phạm Đình Phú không đi theo lối gợi cảm thông thường mà ông chưng cất từng nụ hôn thành giọt nhân văn tinh túy, để mỗi bài thơ không chỉ là lời thì thầm yêu đương, mà là tiếng gọi từ quá khứ, là cái nhìn sâu sắc về chiến tranh, cùng niềm tin âm ỉ của những thế hệ đã đi qua bom đạn nhưng vẫn giữ được nét dịu dàng trong tâm hồn.

Trong bài “Yêu em đi”, ông để một vong hồn nữ liệt sĩ thì thầm:

"Tĩnh lặng Nghĩa trang Đài

Yêu… em… đi!

Thì thầm thanh tịnh ánh ban mai…"

(Trích “Yêu em đi”)

Không ai đọc mà không rưng rưng.

Ngôn ngữ của ông giản dị, gần gũi, nhưng ẩn chứa tầng sâu cảm xúc từng trải, đúng như cốt cách của người lính nói ít làm nhiều. Ông không lạm dụng mỹ từ mà chọn lối thơ hồi tưởng, thơ thủ thỉ như một cuộc trò chuyện từ trái tim đến trái tim.

Và vì thế những câu thơ như:

"Đôi dép râu thương nhớ, nằm mồ côi

Khi đối diện trước em anh hư thế"

(Trích “Anh hư thế”)

Hay:

"Nụ hôn mặn chát mồ hôi

Hương đồng gió bể dành cho anh"

(Trích “Nụ em đồng chiêm trũng”)

Điều làm nên sự khác biệt sâu sắc của “Ấm lòng những nụ hôn như thế” nằm ở chỗ đây là thơ ký ức, được viết bởi một người lính, một bác sĩ đã từng đi qua chiến tranh. Nụ hôn trong thơ ông vừa là lời chào, lời tiễn, lời xin lỗi, lời hẹn và cả lời vĩnh biệt. Có lẽ vì thế mà ông viết về nụ hôn với một trái tim thổn thức, vì một điều gì đó sâu xa hơn cả tình yêu đôi lứa: đó chính là tình người.

“Ấm lòng những nụ hôn như thế” không chỉ là một tập thơ viết về nụ hôn. Đó là một nụ hôn thi ca được đặt trong suy tư, trăn trở của một thời, như một cách tri ân, một lời tiễn biệt và cũng là một niềm hy vọng.

Trong nhịp sống hối hả hôm nay, khi ngôn từ dễ rơi vào sáo mòn, tập thơ này như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng: Có những nụ hôn không chỉ dành cho đôi lứa mà dành cho cả một dân tộc, như một cái ôm chạm sâu vào ký ức.

Đọc thơ ông tôi không chỉ thấy lòng mình được “ấm” mà còn thấy lòng mình được thức tỉnh. Bởi tình yêu lớn nhất đôi khi chỉ cần một nụ hôn ấy làm đau đáu biết bao thế hệ. Nụ hôn ấy ấm mãi khát khao cháy bỏng được sống được yêu. Nụ hôn ấy là niềm tin cho ngày mai tươi sáng. Nụ hôn làm ấm lòng, trăn trở những người đang sống và nhất là những người cầm bút như chúng tôi.

 

Nhà thơ NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NAM

Đôi điều cảm nhận khi đến với
tập thơ “Ấm lòng những nụ hôn như thế”

 

 “Những nụ hôn” ấm nồng tình cảm

 Từ thuở lọt lòng cha mẹ trao anh

 Ông bà nâng niu đứa cháu hiền lành

 Đi, đi mãi không quên thời thơ dại.

 

 “Những nụ hôn” tuổi trăng tròn hò hẹn

 “Mười tám” đôi mươi tim rạo rực dạt dào

  Gửi cho em, nào “hương bưởi, hương cau”

 “Những nụ hôn” cháy nồng như nắng hạ.

 

 “Những nụ hôn” sau mùa thi cuối khóa

 Bên nữ bên nam chan chứa tình thương

 Tạm biệt nhau, “nụ hồng xua” nỗi nhớ

 Để ngày mai ta xa cách bốn phương.

 

 Tổ quốc lâm nguy sẵn sàng ra trận

 “Chiến đấu hết mình dưới cờ sao!”

 Có “nụ hôn ngào ngạt em trao”

 Đến anh chiến sĩ đi vào thiên thu.

 

 Bao năm kháng chiến không ngừng nghỉ

 Có những nụ hôn vội vã chiến hào.

 Bao đồng đội hy sinh vì nghĩa lớn

 Thương tuổi trẻ hẹn hò mà chưa kịp hôn nhau.

 

 Ơi em nữ cứu thương với “nụ hôn đầu”

 Ôi yêu thương người con gái trẻ

 Mảnh bom thù xé nát trái tim em

 Thôi “em ở lại với rừng xanh” em nhé!
 

                          ***
 

  Hòa bình rồi sao anh không trở lại

 Em đi tìm “hơn bốn lăm năm” qua

 “Hòa vào đất nụ hôn đầu tươi rói”

 Em đưa anh về, gần mẹ, gần cha.

 

“Ấm lòng những nụ hôn như thế”

 Những nụ hôn ngọt ngào

                        chứa đựng tính nhân văn.

________

P/s: Những cụm từ trong ngoặc kép là tên một số bài thơ trong tập “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.

Xin cảm ơn tác giả, nhà thơ Phạm Đình Phú với tác phẩm mới “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.

Ngày 10 tháng 7 năm 2025

N.T.P.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm