TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp

Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-09-14 00:41:32
mail facebook google pos stwis
12 lượt xem

LÃ NGUYÊN

Tôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.

 

Nhà LLPB văn học Trần Đình Sử

 

Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử được Nhà xuất bản Giáo dục in lần đầu vào năm 2002. Sau đó, vào các năm 2005, 2007, 2012, 2018, chuyên luận liên tục được tái bản, lúc đầu ở Nhà xuất bản Giáo dục, về sau ở Nhà xuất bản sư phạm. Vảo năm 2024, công trình vượt ra ngoài biên giới quốc gia, đến với độc giả quốc tế nhờ được dịch ra tiếng Pháp. Bản dịch tiếng Pháp (La Poétique du Kiều) do Trần Lê Bảo Chân thực hiện, Nhà xuất bản Kimé phát hành ở Paris trong khuôn khổ Dự án hợp tác Việt – Pháp giữa Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Sư phạm Cao cấp Paris mà Nhà xuất bản Đại học Sư phạm là đơn vị điều phối về phía Việt Nam.  Nhân đây, tôi muốn nói thêm đôi điều về chuyên luận hi hữu này.

Tôi xem Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ. Đó là thành quả của cả một quá trình nghiền ngẫm, thai nghén lâu dài của tác giả. Rất dễ nhận ra, nhiều bình diện tạo thành nội dung cốt lõi của chuyên luận đã được ông trình bầy trong hàng loạt công trình khác, viết suốt hai mươi năm, kể từ những năm tám mươi của thế kỉ trước, ví như Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại, hay Những thế giới nghệ thuật thơ.

Tuy nhiên, phải đến khi Thi pháp Truyện Kiều ra đời, ta mới thấy hết ý đồ lớn lao mà tác giả đã đặt vào công trình nghiên cứu này: nỗ lực chứng minh, rằng tuy vay mượn  cốt truyện truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, nhưng với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sáng tạo ra một tác phẩm độc đáo, có giá trị văn học lớn, hoàn toàn khác biệt với nguyên tác của tác giả Trung Hoa.

Ý đồ khoa học nói trên dược Trần Đình Sử thực hiện bằng con đường nghiên cứu so sánh – lịch sử văn học. Ông không “so sánh tay đôi” giữa Truyện Kiều của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân để chứng minh sự “hơn thua” như nhiều người đi trước đã làm. Đọc Thi pháp Truyện Kiều, tôi thấy nhãn quan so sánh văn học của ông mở ra hết sức rộng lớn. Ông đặt sáng tác của Nguyễn Du trên cái nền của của cả văn hóa, văn học Trung Hoa, lẫn văn hóa, văn học Việt Nam để nghiên cứu ảnh hưởng, dò tìm nguồn gốc trực tiếp và gián tiếp của Truyện Kiều, đồng thời tiến hành so sánh loại hình để xác định bước ngoặt và bản chất sáng tạo nghệ thuật trong kiệt tác của thi hào dân tộc. Ông so sánh Truyện Kiều với văn hóa, văn học Trung Hoa ở tất cả các cấp độ: từ tư tưởng triết học, tôn giáo, thể loại văn học, chủ đề tác phẩm, cốt truyện, nhân vật, cho đến phong cách. Ông chỉ ra ba nguồn ảnh hưởng từ văn hóa, văn học Trung Hoa tới kiệt tác của Nguyễn Du:

Nguồn thứ nhất, trực tiếp nhất, ai cũng biết: Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân. Thoạt đầu, tác phẩm chỉ ghi lại câu chuyện có thật về Vương Thúy Kiều và Từ Hải. Để biến sự thật lịch sử thành sự thật nghệ thuật, nó phải trải qua ba giai đoạn phát triển với sự tìm tòi, sáng tạo của nhiều tác giả. Giai đoạn đầu, ở đời Minh, Truyện Kiều chủ yếu là những thiên kí sự ghi lại câu chuyện có thật về Vương Thúy Kiều và Từ Hải với chủ đề ca ngợi  Hồ Tôn Hiến, Hồ Tôn Hiến là nhân vật chính của tác phẩm. Giai đoạn thứ hai, cũng ở đời Minh, hình thức thể loại Truyện Kiều vẫn chưa định hình, khi nó là một truyện độc lập trong pho tiểu thuyết chương hồi, lúc được viết dưới dạng văn ngôn, sơ lược, ngắn gọn của thể bút kí, còn chủ đề thì đã chuyển hẳn từ ca ngợi Hồ Tôn Hiến sang ca ngợi Từ Hải là anh hùng, Vương Thúy Kiều là người trung, hiếu, tiết nghĩa. Giai đoạn thứ ba, ở đời Thanh, dựa vào motif truyện kể truyền thống về tài tử – giai nhân, thư sinh – kĩ nữ, lấy nhan đề là Kim Vân Kiều truyện, Thanh Tâm tài nhân mở rộng qui mô truyện kể thành một tiểu thuyết chương hồi đa khổ, đa nạn, sử dụng hư cấu tự do, thêm nhiều nhân vật, nhiều tình tiết, chuyển sang chủ đề tình khổ và hồng nhan bạc mệnh. Truyện Kiều của Nguyễn Du vay mượn trực tiếp cốt truyện với hệ thống nhân vật, chi tiết nói trên từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân.

Nguồn thứ hai: dòng tiểu thuyết tài từ – giai nhân phát tích từ đời Đường, định hình ở đời Minh, trở nên thịnh hành vào thời Khang Hy, Ung Chính, Càn Long và đến đầu thế kỉ XX thì suy thoái thành truyện tình rẻ tiền của phái “Uyên ương – Hồ điệp”. Theo ông, dòng tiểu thuyết này của Trung Quốc có ảnh hưởng rộng rãi tới văn học của nhiều nước trong khu vực châu Á, như Triều Tiên, Nhật Bản và ảnh hưởng mạnh nhất là tới văn học Việt Nam. Về hình thức, loại tiểu thuyết này không có gì đặc biệt, đã sơ lược, lại bị qui phạm hóa, tuy nhiên, nó có ba điểm nổi bật. Thứ nhất, về tư tưởng, nó tách tài, tình, ra khỏi tam tòng tứ đức, để đề cao tài tình, cảm thông, xót xa trước cái tài và cái tình bị vùi dập. Việc thương xót người có tình, có tài, ngợi ca khát vọng hạnh phúc cá nhân là bước tiến mới trên lịch trình nhân đạo hóa của dòng văn học này. Thứ hai, nó tạo ra cốt truyện nhiều quanh co, uẩn khúc. Thứ ba, nó mô tả nhân vật giai nhân – tài tử trong đời sống sang trọng, quí phái. Nói ảnh hưởng của tiểu thuyết tài tử – giai nhân Trung Hoa tới Truyện Kiều của Nguyễn Du chính là nói tới vai trò của các yếu tố trên.

Nguồn thứ ba: thơ cổ điển Trung Hoa. Theo Trần Đình Sử, trước khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã có một nhãn quan thi ca Trung Quốc sâu sắc. Điều này trước hết thể hiện ở văn thơ chữ Hán của ông. Trong Truyện Kiều, ông sử dụng thành thạo, dày đặc các phép đối, nhờ thế, truyện thơ lục bát đạt được một chất lượng mới. Trong việc tả tình, mô tả tâm lí nhân vật, Nguyễn Du sử dụng kinh nghiệm tả tình của thơ ca Trung Hoa qua các chủ đề như Tống biệt, Hoài cổ,  Nhớ nhà, Đi sớm, Cảm khái thân thế. Có thể nói, Nguyễn Du đã tiếp thu đầy sáng tạo nguồn thơ ca và văn xuôi Trung Quốc để mang lại cho Truyện Kiều một chất lượng mới.

 

Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử được Nhà xuất bản Giáo dục in lần đầu vào năm 2002. Sau đó, vào các năm 2005, 2007, 2012, 2018, chuyên luận liên tục được tái bản, lúc đầu ở Nhà xuất bản Giáo dục, về sau ở Nhà xuất bản sư phạm.

 

M.I. Steblin-Kamensky (1903 – 1981), chuyên gia văn học Scandinavia, đã chỉ ra hiện tượng vay mượn cốt truyện và các motif nội dung là qui luật phổ biến của văn hóa cổ – trung đại. Ông chứng minh, ở thời cổ – trung đại, không phải nội dung, mà hình thức mới là chỗ dựa để phân xử nhiều cuộc tranh chấp về tác quyền văn học.  Nghĩa là muốn được thừa nhận tác quyền, tác giả phải tạo ra cho tác phẩm văn học một hình thức nghệ thuật mới mẻ, của riêng mình. Nhìn từ góc độ như thế, có thể nói, Truyện Kiều của Nguyễn Du là kết tinh của văn hóa và tài năng Việt Nam. Đó là hạt giống du nhập từ Trung Quốc, khi đem về Việt Nam, nó được gieo trên cánh đồng phì nhiêu của tiếng Việt và tác phẩm văn học tiếng Việt để từ đây mọc lên một cái cây cường tráng. Trần Đình Sử tìm thấy hai nguồn gốc thi pháp có ảnh hưởng trực tiếp, làm nên hình thức nghệ thuật độc đáo của kiệt tác này: ngâm khúc và truyện Nôm.

Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỉ XIX, với sự xuất hiện của hàng loạt tác phẩm, ví như Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (hay Phan Huy Ích), Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ai tư vãn của công chúa Ngọc Hân, Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, bản dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Thực, Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến, ngâm khúc thực sự trở thành một thể loại, Theo Trần Đình Sử, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã kế thừa từ ngâm khúc ba bình bình diện tạo thành chỉnh thể cấu trúc ba chiều của thể loại: phong cách (định hướng bên ngoài, thực hiện chức năng giao tiếp của thể loại), cảm hứng, giọng điệu chủ đạo (hình tượng chủ đề, định hướng bên trong của chỉnh thể), tổ chức chủ thể (tạo thành ranh giới giữa thế giới nghệ thuật của nhân vật và thế giới bên ngoài của độc giả). Về mặt phong cách, các khúc ngâm giữ vai trò tiên khu, chuẩn bị sẵn cho Truyện Kiều một nền tảng tiếng Việt văn học cổ điển, mẫu mực. Đồng thời, Truyện Kiều kế thừa hệ thống thủ pháp nghệ thuật đã được sử dụng thuần thục trong các khúc ngâm để tạo ra loại lời thơ cực kì réo rắt. Về mặt chủ đề và xu hướng cảm hứng, khúc ngâm, trước hết là Chinh phụ ngâm khúc Cung oán ngâm khúc, mở đầu cho khuynh hướng văn học nhân đạo, thức tỉnh ý thức về quyền sống của cá nhân, cất lên tiếng kêu đau thương oán hận, thương thân, xót mình thống thiết của người. Nó trở thành tiếng kêu của thế hệ, của thời đại. Cảm hứng ai oán về thân phận con người trong nhân thế trở thành mạch cảm hựng chung xuyên suốt từ các khúc ngâm tới Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cuối cùng, và đây là điểm cực kì quan trọng, các khúc ngâm Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc đã tạo ra hình thức trữ tình nhập vai, nhân vật trữ tình cùng lúc thực hiện cả hai chức năng tự sự và trữ tình. Cấu trúc tự sự – trữ tình  trong Truyện Kiều của Nguyễn Du rõ ràng đã kế thừa hình thức tổ chức chủ thể trữ tình của các khúc ngâm nói trên.

Kiều Thu Hoạch xếp truyện Nôm vào phạm trù văn học dân gian. Trần Đình Sử chứng minh truyện Nôm là hình thức văn học viết, có nội dung đạo đức, thế sự và đời tư. Với nội dung như thế, nó diễn ca cổ tích, diễn ca tiểu thuyết chương hồi, nhưng không còn là cổ tích, không phải tiểu thuyết chương hồi. Khác cổ tích và tiểu thuyết chương hồi, nó tăng cường chi tiết mô tả, tình tiết câu chuyện, cái mà sau này các nhà tự sự học khái quát bằng khái niệm “mẹo kể” (Intrigue), truyện kể không qui về cốt truyện mà hướng tới người đọc, tạo sự hấp dẫn. Nó cụ thể hóa các loại lời nói, bao gồm lời kể, lời than, lời bình, lời thoại mang nội dung tâm lí, tư tưởng. Mỗi nhân vật của nó đều có cá tính, có ngôn ngữ riêng, phân biệt với nhân vật khác. Tuy chưa phải tiểu thuyết, nhưng truyện Nôm là hình thức tự sự về con người trên cấp độ tổ chức chủ thể với nhu cầu khắc họa tâm lí, tính cách và ngôn ngữ, Cho nên, phải có ngâm khúc và truyện Nôm đi trước một bước, thì mới có được Truyện Kiều của Nguyễn Du. Và để có được Truyện Kiều, Nguyễn Du đã tổng hợp tài tình các  thành tựu nghệ thuật tự sự và trữ tình của thời đại mình.

Trần Đình Sử mở rộng khảo sát mọi nguồn mạch ảnh hưởng tới sự ra đời của Truyện Kiều là để xác định bản chất sáng tạo của Nguyễn Du. Ông  chứng minh đầy thuyết phục rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du là sản phẩm của một ý thức chủ thể hoàn toàn khác so với ý thức chủ thể trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân. Từ ý thức chủ thể ấy, Nguyễn Du dựng lên một thế giới nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân và sáng tạo ra một mô hình tự sự làm thay đổi bản chất thể loại của tác phẩm vốn được vay mượn từ cốt truyện nước ngoài.

Thế giới nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, như Trần Đình Sử đã phân tích, thể hiện một chủ đề tư tưởng mới, khác hẳn với chủ đề tư tưởng của Kim Vân Kiều truyện. Là tác phẩm có cốt truyện được vay mượn  từ tiểu thuyết tài từ – giai nhân, nhân vật trong Truyện Kiều hầu hết là người tài,  ai cũng nể trọng cái tài. Nhưng chữ tâm, chứ không phải chữ tài, mới là nguyên cớ, là động lực thúc đầy mạch vận động của truyện kể. Trần Đình Sử chứng minh, rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du được sáng tạo ra là để thử thách cái tâm và thực sự đó là tiểu thuyết về chữ tâm. Bên cạnh chữ tâm, trong Truyện Kiều còn có chữ thân với nghĩa là mình, là thân thể. Tâm là bình diện đời sống tình thần, là lương tâm, nghĩa vụ, đạo lí, là bình diện “hình nhi thượng”. Thân là bình diện “hình nhi hạ”, là phần vật chất duy nhất của con người, là phần hữu hạn, nhỏ bé, dễ hư nát nhất của bất cứ ai. Nó cũng là phần vô thức, bản năng, là phần riêng tư nhất mà người ta có thể đem cho, liều lĩnh. Đó cũng là phần quý giá nhất, vì có thân thì mới có người, nhờ có thân, người ta mới biết vui sướng, hay đau đớn. Cuộc đời lưu lạc của thúy Kiều là chuỗi ngày đày đọa của tấm thân. Truyện Kiều của Nguyễn Du được xây dựng chính là để nhân vật cảm thấy được thấm thía nhất cái thân đau đớn, ê chề, nhục nhã của mình. Và như thế, tài – mệnh tương đố không phải là chủ đề tư tưởng của Truyền Kiều. Ngược với tất cả các nhà nghiên cứu, Trần Đình Sử khẳng định, chủ đề cốt lõi của tác phẩm là mối quan hệ của tài và tâm, là “thân – mệnh tương đố”. Với chủ đề tư tưởng này, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đưa chủ nghĩa nhân đạo của dân tộc lên đỉnh cao của nó, vượt ra ngoài khuôn khổ tư tưởng của tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, của Nho gia, Phật giáo và nhiều hệ tư tưởng khác. Theo logic lập luận của Trần Đình Sử, ta thấy, để thể hiện tư tưởng chủ đề nói trên, Nguyễn Du đã sáng tạo ra một tác phẩm mới bằng cách nhào nặn lại toàn bộ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân. Ông nhào nặn lại cốt truyện đã vay mượn, biến tiểu thuyết tài tử – giai nhân thành tiểu thuyết tâm lí, đặt trong tâm truyện kể vào “khúc đoạn trường”. Ông nhào nặn lại các nhân vật, biến nhân vật đạo lí thành nhân vật tâm lí. Ông sáng tạo ra hình tượng người trần thuật kiểu mới, trong đó các chức năng tự sự, trữ tình và nghị luận được hợp nhất lại với nhau.

Một điểm khác, thế giới nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyên Du là thế giới của một cái nhìn rất riêng vè con người. Không thể phù nhận việc Nguyễn Du đã kế thừa quan niệm truyền thống về con người, ví như quan niệm cổ – trung đại về con người vũ trụ, con người tỏ lòng, hay cái nhìn của dân tộc về con người từ cảm quan cây trái. Nhưng đặt trọng tâm xây dựng nhân vật vào chữ chữ “tâm” và chữ “thân”, Nguyễn Du đã chuyển cái nhìn từ con người vũ trụ, con người tỏ lòng, sang con người cá nhân, con người tấm lòng. Ông mô tả thế giới nhân vật như thế giới của những tấm lòng đầy phức tạp, khiến nhân vật không bao giờ đồng nhất với những vai văn học có sẵn. Ông xóa bỏ khoảng cách giá trị giữa người trần thuật và nhân vật, mô tả nhân vật từ điểm nhìn thân mật, gần gũi, tăng cường tính thời sự cho truyện kể. Và đây là phát hiện tinh tế của Trần Đình Sử: trong văn học tự sự trung đại, Truyện Kiều gần như là tác phẩm đầu tiên của văn học trung đại Việt Nma sớm thực hiện trần thuật, tả tình, cũng như  tả cảnh, từ điểm nhìn của nhân vật.

Lại nữa, thế giới nghệ thuật trong Truyện Kiều có không gian, thời gian riêng. Trần Đình Sử chứng minh, ứng với loại tiểu thuyết lưu lạc, kể về cuộc đời ba chìm bảy nổi của nhân vật, Truyện Kiều mô tả hai loại không gian: không gian lưu lạc và không gian giam hãm. Trong tác phẩm, hai loại không gian này tạo thành mô hình thế giới mà các nhân vật sống, cảm thấy vị trí và số phận của mình. Đây cũng là hai loại không gian chủ yếu của đời sống mà con người phải đối phó để tồn tại. Cho nên, có thể nói, với hai loại không gian này, Nguyễn Du đã thể hiện hết các cung bậc tình cảm chân thật không chỉ của người đương thời, mà còn của con người nói chung. Xét từ góc độ thể loại, theo Trần Đình Sử, Truyện Kiều đã chuyển từ không gian kịch, loại không gian chỉ cho phép nhìn thấy nhân vật từ một phía, sang không gian tiểu thuyết với cái nhìn đa chiều. Ông nhấn mạnh những điểm giống nhau và khác của thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều và trong văn học tự sự trung đại. Chẳng hạn, so với truyện Nôm, Truyện Kiều là trường hợp hiếm hoi có thể hiện tư tưởng định mệnh, nên trong tác phẩm có thời gian định mệnh với chức năng duy nhất là phác ra cái xu hướng và sự kiện  tất yếu sẽ xẩy ra trong cuộc đời của nhân vật. Nó là thời gian siêu hình, chỉ tồn tại trong quan niệm của nhân vật như là một biểu hiện đời sống nội tâm thần bí của nó. Thời gian chủ yếu trong Truyện Kiều là thời gian sự kiện lấy con người và hành động sống của nó làm thước đo. Trong Truyện Kiều, sự kiện thường xẩy ra đột ngột, ngẫu nhiên, nên thời gian của truyện là thời gian gấp khúc, nhịp điệu gấp gáp, đối nghịch với hạnh phúc và sự tồn tại của con người. Sự kiện truyện kể ở đây còn gắn với thời gian sinh hoạt diễn ra trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, có “ngày”, có “buổi”… Nguyễn Du tiếp thu quan niệm truyền thống về thời gian tuần hoàn, đồng thời ông cũng thể hiện sự mất mát, đổ  vỡ của hạnh phúc, sự phôi pha của nhan sắc, sự biến đổi của đời người trong quá khứ là một trật tự thời gian không thể đảo ngược.

Cuối cùng, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của Truyện Kiều, Trần Đình Sử nhận ra một hình tượng tác giả đặc sắc, khác hẳn với con người thật trong sinh hoạt thường nhật của Nguyễn Du. Ông nhận ra hình tượng tác giả ấy qua giọng điệu trần thuật, qua sự lặp lại của từ ngữ mà Nguyễn Du thường dùng trong tác phẩm…

 

Nhà LLPB văn học La Khắc Hoà (Lã Nguyên) – tác giả bài viết

 

Ở Việt Nam, có lẽ Trần Đình Sử là người đầu tiên nghiên cứu mô hình tự sự của Truyện Kiều từ góc độ lí thuyết tự sự học hiện đại. Ông cho rằng, so với mô hình tự sự của Kim Vân Kiều truyện, truyện tài từ – giai nhân và tiểu thuyết cổ điển của Trung Hoa nói chung, hình thức tự sự của Truyện Kiều có ba điểm khác biệt cơ bản. Thứ nhất, ở đây có sự sáng tạo đột xuất của Nguyễn Du: thay mô hình tự sự khách quan từ đỉnh Olympe, theo ngôi thứ ba, biết hết, thấy tất bằng mô hình tự sự ở ngôi thứ ba nhưng đặt tiêu cự vào tầm nhìn của nhân vật thể hiện sự cảm thụ thế giới mang tính cá nhân, kèm theo lời bình luận, đánh giá thiên về cảm xúc, từ bỏ hình thức kể “mộc” (“bạch miêu”) và lối chêm thơ vào truyện, thực hiện sự tổng hợp tự sự – trữ tình vốn có truyền thống từ văn học dân tộc. Thứ hai, Truyện Kiều của Nguyễn Du lấy số phận bi kịch của nhân vật làm nền tảng tổ chức cốt truyện. Điều này giúp tác phẩm phá vỡ, vượt ra ngoài cấu trúc ba thành phần với lối kết thúc có hậu của mô hình tự sự truyền thống: mất – tìm – tìm thấy (của sử thi), thịnh – suy – thịnh (của truyện sử), hoặc gặp gỡ – ly tán – đoàn viên (truyện Nôm). Kiệt tác của Nguyễn Du có nhiều yếu tố của tiểu thuyết hiện đại. Theo mô hình cốt truyện, Trần Đình Sử xếp tác phẩm vào loại tiểu thuyết cảm thương, gần với tiểu thuyết của chủ nghĩa tình cảm ở châu Âu.  Thứ ba, đây là tác phẩm giàu chất thơ: chất thơ ở những bức tranh phong cảnh, ở thế giới được mô tả theo nguyên tắc nội cảm hóa.

Trần Đình Sử có nhiều phát hiện mới mẻ về ngôn ngữ nghệ thuật của Truyện Kiều. Ông chỉ ra ngôn ngữ độc thoại nội tâm, giọng cảm thương của tác phẩm. Ông phân tích cách thức tác giả sử dụng tài tình ngôn ngữ màu sắc, đối ngẫu, phép đối, ẩn dụ, điển cố… Ông chứng minh Nguyễn Du là nghệ sĩ ngôn từ, vì nhà thơ không chỉ sử dụng ngôn từ khéo léo, mà biết tổ chức, tạo ra thứ ngôn ngữ có khả năng tự mô tả và biểu hiện, tự cất lên tiếng nói của mình.

Tóm lại, Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử gây được tiếng vang, có tầm ảnh hưởng rộng lớn không chỉ ở trong nước, mà còn vượt ra ngoài biên giới quốc gia để đến với độc giả quốc tế trước hết nhờ sự đột phá của ông trong việc phát hiện những giá trị nghệ thuật lớn lao của Truyện Kiều. Với công trình này, lần đầu tiên các nguồn ảnh hưởng tới Truyện Kiều từ văn hóa Trung Hoa và văn hóa Việt Nam được phân tích cặn kẽ, kĩ lưỡng. Cũng với công trình này, lần đâu tiên Truyện Kiều được chứng minh là sản phẩm của một ý thức chủ thể khác: vay mượn cốt truyện của Thanh Tâm tài nhân, Nguyên Du đã nhào nặn lại tất cả để tạo ra một tác phẩm khác, thuộc thể loại khác với một thế giới nghệ thuật, mô hình tự sự và ngôn ngữ, giọng điệu riêng. Để có được những phát hiện ấy, ngoài tài năng và sự sắc sảo, Trần Đình Sử phải tạo râ những đột phá trong phương pháp luận nghiên cứu. Với Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử, lần đầu tiên phương pháp nghiên cứu so sánh – lịch sử văn học và tự sự học được vận dụng một cách sáng tạo, khoa học vào việc phân tích một tác phẩm văn học. Chuyên luận của Trần Đình Sử còn mở ra cho tâm trí người đọc cả một kho tri thức thức khổng lồ về văn học và văn hóa trung đại của Việt Nam, Trung Hoa và khu vực Đông Á nói chung. Cho nên, ai cũng tin và có thể nói, rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du là kiệt tác. có sức sống lâu bền và là đề tài “nói mãi không cùng”, nhưng để giúp  cho niềm tin và niềm tự hào của độc giả về pho tượng đài văn hóa vĩ đại này này thật sự có cơ sở khoa học vững chắc, thì tôi nghĩ, cho đến nay, chưa mấy ai làm được nhiều như Trần Đình Sử với cuốn Thi pháp Truyện Kiều của ông.

Đồng Bát, mùa Hạ oi bức, 2026

L.N

Nguồn: VanVn

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm