- Lý luận - Phê bình
- Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Trong “Nước trên lá”, Phan Trung Thành đi từ những miền ký ức quê nhà đến nhịp sống phố thị, từ những va đập đời thường đến khoảng lặng của suy tư và tự vấn. Đọc tập thơ, nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc nhận ra một hành trình “từ cội nguồn xứ sở đến cõi an trú nội tâm”, nơi cái mong manh của kiếp người được nâng đỡ bằng tình yêu, ký ức và lòng bao dung. Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.

TỪ CỘI NGUỒN XỨ SỞ ĐẾN CÕI AN TRÚ NỘI TÂM TRONG TẬP THƠ “NƯỚC TRÊN LÁ”
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
Trong dòng chảy phong phú của thơ ca Việt Nam đương đại, sự xuất hiện của những giọng thơ trầm tĩnh, thiên về chiều sâu chiêm nghiệm luôn mang lại một khoảng lặng quý giá. Phan Trung Thành là một tác giả như thế.
Tiếp nối bốn tập thơ và hai tập trường ca trước, nhà thơ Phan Trung Thành vừa cho xuất bản tại Huế tập thơ “Nước trên lá: (NXB Thuận Hóa, 9.2026). Tác phẩm là tiếng thơ giàu chất suy tư, nơi thi sĩ chắt chiu những hơi thở bình dị của cuộc sống thường nhật để soi chiếu những bài học triết lý về kiếp người, sự vĩnh hằng và lòng bao dung.
Từ vệt trôi vô thường đến cõi an trú
Ngay từ nhan đề, "Nước trên lá" đã gợi mở một hình ảnh thi vị nhưng chứa đựng dung lượng nghĩa phong phú. Giọt nước đọng trên chiếc lá thường tượng trưng cho sự mong manh, vô thường, dễ tan biến. Tuy nhiên, qua lăng kính của Thành, hình ảnh này đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật đa tầng, phản ánh tâm thái sống và chiêm nghiệm triết lý sâu sắc.
Trọng tâm của biểu tượng nằm ở sự hòa quyện giữa cái hữu hạn và cái vĩnh hằng. Giọt nước đọng trên lá sen chỉ cần một chuyển động nhẹ là vỡ tan hay trượt rơi. Thành bắt trọn khoảnh khắc ấy để đối thoại với thời gian và kiếp người:
“Những gì còn lại trong ta
Khác chi nước mát trên tòa lá sen
Cùng về soi bóng thân quen
Tấm gương mặt nước còn nguyên ảnh hình
Bụi thời gian cũng lặng thinh...
Ngất ngư trận mạc mơ hồ
Rồi yên như nước trên tờ lá rung...”
(Nước trên lá)
Ở đây, “nước mát trên tòa lá sen” là hình ảnh thu nhỏ của tâm hồn, của những giá trị chắt chiu còn đọng lại sau phong ba. Giọt nước dù chao đảo vẫn giữ nguyên tính chất “mát” và “ảnh hình” trong trẻo ban sơ. Sự tan biến của giọt nước không phải là mất đi vĩnh viễn. Sự hữu hạn của giọt nước chính là ẩn dụ cho kiếp người ngắn ngủi; nhưng nếu biết sống trọn vẹn và giữ mình trong trẻo, cái hữu hạn ấy lại chạm đến cõi vĩnh hằng.
Không chỉ biểu tượng cho tính vô thường, “nước” và “lá” còn đại diện cho mối quan hệ tương hỗ, sự nương tựa và lòng bao dung. Nước cần lá làm bệ đỡ để trút bỏ ồn ào; lá cần nước để giữ độ tươi mát. Triết lý này trở thành định nghĩa về thái độ sống có trách nhiệm: lấy sự tĩnh lặng và bao dung để đối diện bão giông. Trong bài Ngắm nước, Thành viết:
“Từng hột nước rỏ long bong
Cành nghiêng nhìn lá tắm trong gió lùa
Nước rơi lặng lẽ giọt thưa
Có ai nắm nước cho vừa nắm tay...
Lòng ta hứng chút nước này
Ban mai giùm tưới lên đầy ban mai”
Hành động “hứng chút nước” để “tưới lên đầy ban mai” cho thấy giọt nước không đọng lại thụ động mà mang sức mạnh chữa lành, tái tạo năng lượng sống. Từ một hiện thực khách quan, Thành đã nâng hình ảnh này thành biểu tượng chứa đựng chiều sâu triết lý Phật giáo: bài học về sự buông xả, trân trọng thực tại và tâm thái điềm nhiên.
Nếu biểu tượng “nước trên lá” là cột mốc khởi đầu tạo dựng sự tĩnh lặng, thì chiều sâu tư tưởng của tập thơ lại nằm ở hành trình tìm về bản ngã. Giữa bộn bề xô đẩy của đời sống hiện đại, thơ Phan Trung Thành như nhịp cầu gọi con người trở về với chính mình.
Sống trong không gian đô thị ngụ cư đầy biến động, con người dễ rơi vào trạng thái đánh mất bản ngã. Tác giả cảm nhận sâu sắc sự đứt gãy ấy khi tự vấn:
“đôi khi tôi hỏi tôi có còn là tôi không
tôi đang trong thân hay tôi ở ngoài thân
tôi đang đây hay là tôi đã chết
xác đang hỏi hồn hay hồn đang ngo ngoe ngoài xác”
(Khúc tháng tám tro tàn)
Trong bối cảnh ấy, sáng tạo nghệ thuật trở thành một liệu pháp tự chữa lành. Thơ là sợi dây kết nối thân và tâm, giúp thi sĩ tháo bỏ gánh nặng cơm áo để quay về quan chiếu nội tâm. Khoảnh khắc “khởi lên một niệm yêu thương” chính là lúc bản ngã được tìm thấy sau chuỗi ngày thất lạc giữa chốn phồn hoa.
Sự thức tỉnh tâm thức trong “Nước trên lá” không hướng con người đến sự lánh đời tiêu cực, mà hướng đến sự thấu cảm và buông xả. Triết lý Phật giáo thấm đượm qua những suy ngẫm bình dị. Đó còn là sự dũng cảm đối diện với khổ đau, bệnh tật và sự hữu hạn của đời người. Khi nằm trên giường bệnh, nhân vật trữ tình không oán than mà nhìn lại mọi chuyện bằng ánh mắt thấu hiểu: “Viết là một cuộc tái sinh!” (Bài thơ số thứ tự 05). Thái độ tĩnh lặng chấp nhận tổn thương, lấy tình yêu thương làm lực đẩy để tái sinh chính là biểu hiện của một tâm thức đã qua mài giũa, đạt đến sự minh triết.
Từ tiếng gọi cội nguồn đến nhịp đập phố thị
Thế giới nội dung trong tập thơ trải dài từ không gian hoài niệm cội nguồn đến bức tranh sinh hoạt đô thị. Dù thân xác ngụ cư phương Nam, tâm hồn Phan Trung Thành vẫn gắn chặt với dải đất miền Trung nắng xói mưa sa, nơi lưu giữ ký ức tuổi thơ và tình thân gia đình.
Ký ức cội nguồn trong thơ Phan Trung Thành luôn thao thức cùng dải đất miền Trung dội nắng tràn gió - nơi “mùa gió ngang tàng mùa khô khốc”, nơi hồn xưa còn nán lại bên vòm không gian cố đô với dòng sông Hương, phá Tam Giang hay bến đò Ca Cút hoài niệm.
Trong bài Viết trước mùa đông, bước chân thi sĩ rời bỏ chốn phố thị chao đảo để tìm về miền an trú cội nguồn. Nhịp sống quê nhà hiện lên dịu nhẹ như một khoảng lặng bình yên giữa bão giông cuộc đời: bóng mẹ tảo tần khoác áo ấm lên chùa nghe tiếng chuông chiều, dáng bố thong thả vót đũa xem truyền hình lúc hoàng hôn buông down. Chi tiết “Bố ngồi vót đũa / Truyền hình coi chơi” đơn sơ là thế mà làm nhói lòng người xa xứ, chạm vào khoảng trống trăn trở của mấy chục năm bạt mạng ngụ cư phương Nam. Để rồi từ sâu thẳm tâm hồn, tiếng thở dài tự vấn cất lên đầy ngập ngừng, chua xát: “Trở về không dám về lâu / Có ai đợi trước chờ sau / Không mình?”.
Đỉnh điểm của niềm hoài niệm dồn tụ lại trong hai câu thơ lục bát xuất thần:
“Bươi trăng trên động cát mềm
May ra gặp dấu chân em thuở nào...”
Thi ảnh “bươi trăng” trên dải cát bỏng miền Trung là một sáng tạo thi liệu tuyệt đẹp, vừa đỗi mộng mơ lại vừa chan chứa đắng cay, cô đọng nỗi nhớ mong mỏi mòn đến nao lòng. Giữa biển cát chập chùng của ký ức, người du tử cố cào xới từng vệt ánh trăng mờ tỏ, chắt chiu tìm lại chút vết dấu tinh khôi của ngày cũ.
Ký ức tuổi thơ còn gắn với tình bạn làng chân chất nơi “Rú xanh độn trắng hói sông rào làng”. Qua bao thăng trầm, cái thuở “hai thằng chấp đám bèo dâu trôi cùng” trên dòng Tam Giang ngày lụt vẫn là neo bám tinh thần vững chắc nhất.
Điểm tựa của hoài niệm cội nguồn là hình ảnh người mẹ tảo tần, nhẫn nại nuôi con. Bài thơ “Kể chuyện sông Hằng với mẹ” là một rung động miên man về tình mẫu tử, khi thi sĩ đối chiếu dòng sông Hằng linh thiêng với dòng Tam Giang, sông Hương quê nhà:
“Mẹ là sông Hằng đời con
bao đớn đau sóng đằm cuối bãi...
Mẹ chưa đến sông Hằng mẹ chưa tắm sông Hương
Mẹ chỉ lội xuống Tam Giang mò trìa bắt hến
mùa nước lạnh tím sông mẹ bơi qua từng bến
hái rau sam rau đọt choại mọc hoang”
Hình ảnh mẹ “mùa nước lạnh tím sông” là điểm tựa giải tỏa mọi gian khó trên bước đường mưu sinh của đứa con.
Sống trong không gian đô thị ngụ cư ở phương Nam tràn ngập những biến động và lo toan, con người rất dễ rơi vào trạng thái đánh mất bản ngã, “thân” một nơi và “tâm” một nẻo. Tác giả cảm nhận sâu sắc sự đứt gãy ấy khi tự vấn về sự tồn tại của chính mình: “đôi khi tôi hỏi tôi có còn là tôi không/ tôi đang trong thân hay tôi ở ngoài thân”(Khúc tháng tám tro tàn). Tuy nhiên, cảm thức hiện sinh trong “Nước trên lá” không dừng lại ở tuyệt vọng, mà chuyển hóa thành sự lựa chọn tự do và tinh thần buông xả. Kiếp người dù chỉ đọng lại như giọt nước mong manh sắp khô trên lá, nhưng vẫn tròn trịa, trong trẻo khi tìm thấy cõi an trú nội tâm: “Anh không giận hờn không khó chịu không còn tranh đua / vòng xe cứ thản nhiên cho vòng nhớ thản nhiên / cho em ngắm mây trời cho mùa thu không nhớ mình đang trôi” (Cùng mùa thu hát)
Bên cạnh đó, đô thị phương Nam còn là nơi diễn ra nỗi bất an chực chờ перед những tin tức về bệnh tật, tai nạn hay biến động thời cuộc:
"Tin từ bạn sang một người bạn khác...
chồng bạn đột quị trong chiều nay và không trở về nhà nữa...
Mình đã mất nhiều bạn vì ngủ không thức dậy
nhiều bạn đã mang trong mình một tập tin chưa save"
(Một bài thơ buồn cho H)
Ẩn dụ "tập tin chưa save" lột tả sự mong manh, đột ngột của kiếp người thời hiện đại. Tuy vậy, nỗi niềm ngụ cư của Phan Trung Thành không dừng ở sự than vắn thở dài, mà hướng về tâm thái ứng xử văn minh, bao dung. Giữa dòng xe ùn tắc, thi sĩ chọn cách "chậm bên mình" để trân trọng từng khoảnh khắc sống.
Phan Trung Thành nghĩ về thơ
“Đôi khi, Thơ có thể giúp mình vượt qua cơn đau”. Đã có lúc Thành nói với tôi như thế.
Hai bài Viết lúc thơ hành (trang 41) và Nghĩ về thơ (trang 43) tạo thành một cặp bài đối thoại sắc sảo, giải mã những trăn trở của Phan Trung Thành về bản chất nghệ thuật và nghiệp chữ nghĩa. Ở Viết lúc thơ hành, Thành nhìn chữ nghĩa dưới góc độ sự nổi loạn, vượt ra ngoài sự kiểm soát thông thường: “Chữ là đám quân vô kỷ luật”, không chịu gò ép vào các mỹ từ tô vẽ. Tờ giấy trắng đóng vai trò như “quan tòa” công minh, còn trang viết là một “bát nước xáo toàn chữ” thấm đượm vị cay đắng của hiện thực đời sống, nơi chỉ có ánh mắt yêu thương của “em” mới có thể vỗ về, giải thoát. Tiếp nối mạch suy tư ấy, Nghĩ về thơ đẩy triết lý sáng tác lên một tầng nấc buông xả và minh triết hơn. Nhà thơ phủ định lối “kỳ cọ chữ sạch từ trí não” sáo rỗng hay huyền thoại hóa danh xưng “nhà thơ lớn” (vốn chỉ là “khái niệm đùa vui” giữa cuộc bon chen cơm áo). Với Thành, thơ ca là phương thức “dưỡng sinh tâm hồn bằng sẻ chia”, nơi đời sống của chữ mượn sự thử thách của thời gian để hồi sinh. Sự kết hợp của hai bài thơ thể hiện thái độ trung thực, dũng cảm đối diện với bi kịch trần gian và sự giản dị vô vi của một thi sĩ luôn lấy trải nghiệm sống làm cốt lõi cho trang viết.
Song hành cùng chiều sâu tư tưởng, sức hấp dẫn của "Nước trên lá" còn nằm ở sự linh hoạt trong thể loại và những thể nghiệm nghệ thuật độc đáo. Phan Trung Thành di chuyển tự do giữa thể thơ truyền thống và hiện đại.
Các thể thơ truyền thống như lục bát, năm chữ, bảy chữ đóng vai trò nhịp cầu nối liền cảm xúc hoài niệm. Ở thể lục bát, ngắt nhịp và vần điệu được xử lý uyển chuyển, mang giọng điệu ca dao nhưng đậm sắc thái triết lý. Trong khi đó, các bài thơ tự do và thơ văn xuôi lại cho phép nhà thơ mở rộng dung lượng, ghi lại trọn vẹn dòng suy tưởng và những lát cắt sinh hoạt đô thị phức tạp.
Điểm cách tân nổi bật là việc vận dụng tinh thần Tân hình thức, rõ nhất trong tác phẩm Tân hình thức buổi tối. Tác giả sử dụng triệt để thủ pháp vắt dòng, xóa bỏ viết hoa đầu câu, đưa ngôn ngữ thơ tiệm cận lời nói thường nhật:
“Dạo này như cụ già vô ra vườn rau gốc ổi xá
lị trồng cả năm trái có chút
éc như hòn bi em giai tám
chín tuổi ngọt giòn không đây
mình lại nhớ hồi kháng chiến chưa
đi ngày nào nằm mơ thấy cụt đầu thủng bụng ghê
quá em ạ đúng là chiến tranh như cái cùi giẻ anh không thích
thú đâu không ai thích thú đâu”
Thủ pháp vắt dòng cắt đứt từ ngữ giữa chừng (“xá / lị”, “chút / éc”) tạo sự ngắt quãng bất ngờ, mô phỏng chính xác dòng chảy tâm trí miên man. Câu thơ cuộn chảy liên tục như một cuộc trò chuyện không hồi kết. Linh hoạt trong tổ chức nhịp điệu giúp tác giả diễn tả trọn vẹn mọi trạng thái đời sống – từ cái xô xát trần ai đến sự thanh tịnh vô vi.
Thơ Phan Trung Thành xa lạ với lối xưng tụng sáo rỗng hay mỹ từ hoa mỹ. Thi sĩ chọn tiệm cận hiện thực bằng thứ ngôn ngữ thô ráp, tự nhiên, mang đậm hơi thở đường phố, công trường và ký ức vùng miền.
Thế giới thơ ngập tràn mảnh ghép sinh động: góc hẻm nhỏ Bình Tân, ngã tư đèn đỏ, quán cà phê, chiếc khẩu trang, cho đến chiếc gối ôm rơi khỏi tay trong đêm... Những chi tiết rất đời như "ống nội soi", "cây ATM", "xe rác" đã xô đổ khoảng cách giữa nghệ thuật bác học và hiện thực đời thường, chứng minh mọi chất liệu thô mộc đều có thể tỏa sáng giá trị thẩm mỹ.
Đặc biệt, Thành kết hợp độc đáo giữa ngôn ngữ địa phương và khẩu ngữ hiện đại:
- Ngôn ngữ địa phương, tiếng quê hương miền Huế như “mạ”, “rú”, “hói”, “rào”, “mò trìa”, “rau đọt choại”... vẫn vọng bên tai người đọc. Thì ra dẫu có bốn bể chân trời, công nghệ thế giới có đi đến đâu, tiếng nói cội nguồn quê hương vẫn luôn là nền móng trong tâm tưởng thi ca.
- Thành khai thác tối đa tiếng nói đời thường (“tào lao thấy ớn”, “thấy mà ghê”), thuật ngữ công nghệ (“password”, “google”, “tập tin chưa save”) và thuật ngữ nghề nghiệp thực tế:
“- Cho thùng hồ trộn xi bốn sáu”
(Phụ hồ và mưa)
Sự kết hợp giữa câu lệnh công trường (“xi bốn sáu”) với tâm sự tình cảm tréo ngoe của người phụ hồ tạo nên nhịp điệu chân thực, hóm hỉnh mà nhói đau. Thơ ông chạm thẳng vào trái tim người đọc bằng sức mạnh của sự thật.
Khép lại "Nước trên lá", cái còn đọng lại trong lòng người đọc là một khoảng lặng chữa lành đầy an tịnh. Với tư duy thơ giàu trải nghiệm, kết hợp giữa chất trữ tình đằm thắm của tâm hồn miền Trung và góc nhìn thấu cảm trước đời sống ngụ cư phố thị, anh gieo vào lòng người đọc những rung cảm chân thành, sâu lắng. Tập thơ trở thành cõi an trú nội tâm bao dung, nơi mỗi người tìm thấy sức mạnh buông xả và giữ trọn sự trong trẻo giữa giông bão đời thường.
.jpg)
Nhà thơ PHAN TRUNG THÀNH
Chùm thơ rút từ tập thơ "Nước trên lá"
NƯỚC TRÊN LÁ
Những gì còn lại trong ta
Khác chi nước mát trên tòa lá sen
Cùng về soi bóng thân quen
Tấm gương mặt nước còn nguyên ảnh hình
Bụi thời gian cũng lặng thinh
Phủ trên lớp sóng chỉ mình em xô
Ngất ngư trận mạc mơ hồ
Rồi yên như nước trên tờ lá rung...
KỂ CHUYỆN SÔNG HẰNG VỚI MẸ
Ngồi với mẹ lúc ốm đau này
lòng con như nước ngấm trong dây
da mẹ tấy phồng chỗ kim tiếp nước
con lau bằng mắt cứ sợ mẹ đau
Dòng Tam Giang chảy trước hiên nhà
gặp cuối nguồn hòa nhánh sông Hương
mang phù sa đi chân trời góc bể
nước sông Hằng trên tóc mẹ bình yên
Mẹ là sông Hằng đời con
bao đớn đau sóng đằm cuối bãi
những đứa con rời đi lo bàn tay mẹ mỏi
tay mẹ trong đời quờ nắm phía con xa
Con đã đến sông Hằng, xúc động trước bao la
mặt trời lên như tấm chăn đắp giùm sóng nước
đàn hải âu dang cánh trời tiễn biệt
con thả theo dòng một khúc vài cánh hoa
Mẹ chưa đến sông Hằng mẹ chưa tắm sông Hương
Mẹ chỉ lội xuống Tam Giang mò trìa bắt hến
mùa nước lạnh tím sông mẹ bơi qua từng bến
hái rau sam rau đọt choại mọc hoang
Nuôi lòng con từ giọt sữa đầu nguồn
đời khô khát âm thầm thương tay mẹ
con ngồi lắng mây trời qua đất Huế
kể với sông Hằng tóc mẹ mát hơi sương!
25/11/2019
BUỔI SÁNG - XE RÁC & SỰ CÔNG BẰNG
1
Chim đang hót cả những ngày không thấy mặt trời, chim rừng hay chim kiểng đều lấy âm thanh giao lưu.
Dù có người đón từng sợi ngân có người không, họ bận nhặt từng cọng tơ kí ức hay đang sống về một ngày mai ở nơi đâu.
Tiếng chim chữa lành buổi mai trầy xước, đôi khi mùi phân cho ta cảm giác đang sống, phân chim nuôi có dịp lên men.
2
Khi xe rác đi qua, chị đứng trong thùng xe trên “nệm” rác huơ tay trong không khí đón lấy mọi thứ người ta bỏ đi.
Sau khẩu trang, đôi mắt chị cười lấp lánh, tiếng máy xe lam nổ rền rền, phân phối khói đều khắp ngõ rồi mang đi các thứ sắp lên men.
Nhà của những người hay giết mổ thì rác mùi hơn, chị đùa.
3
Tôi hài lòng với tiếng chim miễn phí và hay nghĩ về sự-công-bằng.
Bữa nhậu tưng bừng tôi phát hiện trong nhà vệ sinh bao giờ cũng trật tự
Ai tới đây cũng đi cùng chỗ
Nước trên khay chảy đều đều
Thằng bần đứng lâu hơn cũng chả sao
Thằng mặt trư, mấy mươi năm làm vương làm tướng cũng thế
Tè trong khi dòng họ nó run.