TIN TỨC

Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-09-19 16:57:03
mail facebook google pos stwis
94 lượt xem

Trong “Nước trên lá”, Phan Trung Thành đi từ những miền ký ức quê nhà đến nhịp sống phố thị, từ những va đập đời thường đến khoảng lặng của suy tư và tự vấn. Đọc tập thơ, nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc nhận ra một hành trình “từ cội nguồn xứ sở đến cõi an trú nội tâm”, nơi cái mong manh của kiếp người được nâng đỡ bằng tình yêu, ký ức và lòng bao dung. Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹBuổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
 

 

TỪ CỘI NGUỒN XỨ SỞ ĐẾN CÕI AN TRÚ NỘI TÂM TRONG TẬP THƠ “NƯỚC TRÊN LÁ”

HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
 

Trong dòng chảy phong phú của thơ ca Việt Nam đương đại, sự xuất hiện của những giọng thơ trầm tĩnh, thiên về chiều sâu chiêm nghiệm luôn mang lại một khoảng lặng quý giá. Phan Trung Thành là một tác giả như thế.

Tiếp nối bốn tập thơ và hai tập trường ca trước, nhà thơ Phan Trung Thành vừa cho xuất bản tại Huế tập thơ “Nước trên lá: (NXB Thuận Hóa, 9.2026). Tác phẩm là tiếng thơ giàu chất suy tư, nơi thi sĩ chắt chiu những hơi thở bình dị của cuộc sống thường nhật để soi chiếu những bài học triết lý về kiếp người, sự vĩnh hằng và lòng bao dung.
 

Từ vệt trôi vô thường đến cõi an trú

Ngay từ nhan đề, "Nước trên lá" đã gợi mở một hình ảnh thi vị nhưng chứa đựng dung lượng nghĩa phong phú. Giọt nước đọng trên chiếc lá thường tượng trưng cho sự mong manh, vô thường, dễ tan biến. Tuy nhiên, qua lăng kính của Thành, hình ảnh này đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật đa tầng, phản ánh tâm thái sống và chiêm nghiệm triết lý sâu sắc.

Trọng tâm của biểu tượng nằm ở sự hòa quyện giữa cái hữu hạn và cái vĩnh hằng. Giọt nước đọng trên lá sen chỉ cần một chuyển động nhẹ là vỡ tan hay trượt rơi. Thành bắt trọn khoảnh khắc ấy để đối thoại với thời gian và kiếp người:

“Những gì còn lại trong ta

Khác chi nước mát trên tòa lá sen

Cùng về soi bóng thân quen

Tấm gương mặt nước còn nguyên ảnh hình

Bụi thời gian cũng lặng thinh...

Ngất ngư trận mạc mơ hồ

Rồi yên như nước trên tờ lá rung...”

(Nước trên lá)

Ở đây, “nước mát trên tòa lá sen” là hình ảnh thu nhỏ của tâm hồn, của những giá trị chắt chiu còn đọng lại sau phong ba. Giọt nước dù chao đảo vẫn giữ nguyên tính chất “mát” và “ảnh hình” trong trẻo ban sơ. Sự tan biến của giọt nước không phải là mất đi vĩnh viễn. Sự hữu hạn của giọt nước chính là ẩn dụ cho kiếp người ngắn ngủi; nhưng nếu biết sống trọn vẹn và giữ mình trong trẻo, cái hữu hạn ấy lại chạm đến cõi vĩnh hằng.

Không chỉ biểu tượng cho tính vô thường, “nước” và “lá” còn đại diện cho mối quan hệ tương hỗ, sự nương tựa và lòng bao dung. Nước cần lá làm bệ đỡ để trút bỏ ồn ào; lá cần nước để giữ độ tươi mát. Triết lý này trở thành định nghĩa về thái độ sống có trách nhiệm: lấy sự tĩnh lặng và bao dung để đối diện bão giông. Trong bài Ngắm nước, Thành viết:

“Từng hột nước rỏ long bong

Cành nghiêng nhìn lá tắm trong gió lùa

Nước rơi lặng lẽ giọt thưa

Có ai nắm nước cho vừa nắm tay...

Lòng ta hứng chút nước này

Ban mai giùm tưới lên đầy ban mai”

Hành động “hứng chút nước” để “tưới lên đầy ban mai” cho thấy giọt nước không đọng lại thụ động mà mang sức mạnh chữa lành, tái tạo năng lượng sống. Từ một hiện thực khách quan, Thành đã nâng hình ảnh này thành biểu tượng chứa đựng chiều sâu triết lý Phật giáo: bài học về sự buông xả, trân trọng thực tại và tâm thái điềm nhiên.

Nếu biểu tượng “nước trên lá” là cột mốc khởi đầu tạo dựng sự tĩnh lặng, thì chiều sâu tư tưởng của tập thơ lại nằm ở hành trình tìm về bản ngã. Giữa bộn bề xô đẩy của đời sống hiện đại, thơ Phan Trung Thành như nhịp cầu gọi con người trở về với chính mình.

Sống trong không gian đô thị ngụ cư đầy biến động, con người dễ rơi vào trạng thái đánh mất bản ngã. Tác giả cảm nhận sâu sắc sự đứt gãy ấy khi tự vấn:

“đôi khi tôi hỏi tôi có còn là tôi không

tôi đang trong thân hay tôi ở ngoài thân

tôi đang đây hay là tôi đã chết

xác đang hỏi hồn hay hồn đang ngo ngoe ngoài xác”

(Khúc tháng tám tro tàn)

Trong bối cảnh ấy, sáng tạo nghệ thuật trở thành một liệu pháp tự chữa lành. Thơ là sợi dây kết nối thân và tâm, giúp thi sĩ tháo bỏ gánh nặng cơm áo để quay về quan chiếu nội tâm. Khoảnh khắc “khởi lên một niệm yêu thương” chính là lúc bản ngã được tìm thấy sau chuỗi ngày thất lạc giữa chốn phồn hoa.

Sự thức tỉnh tâm thức trong “Nước trên lá” không hướng con người đến sự lánh đời tiêu cực, mà hướng đến sự thấu cảm và buông xả. Triết lý Phật giáo thấm đượm qua những suy ngẫm bình dị. Đó còn là sự dũng cảm đối diện với khổ đau, bệnh tật và sự hữu hạn của đời người. Khi nằm trên giường bệnh, nhân vật trữ tình không oán than mà nhìn lại mọi chuyện bằng ánh mắt thấu hiểu: “Viết là một cuộc tái sinh!” (Bài thơ số thứ tự 05). Thái độ tĩnh lặng chấp nhận tổn thương, lấy tình yêu thương làm lực đẩy để tái sinh chính là biểu hiện của một tâm thức đã qua mài giũa, đạt đến sự minh triết.
 

Từ tiếng gọi cội nguồn đến nhịp đập phố thị

Thế giới nội dung trong tập thơ trải dài từ không gian hoài niệm cội nguồn đến bức tranh sinh hoạt đô thị. Dù thân xác ngụ cư phương Nam, tâm hồn Phan Trung Thành vẫn gắn chặt với dải đất miền Trung nắng xói mưa sa, nơi lưu giữ ký ức tuổi thơ và tình thân gia đình.

Ký ức cội nguồn trong thơ Phan Trung Thành luôn thao thức cùng dải đất miền Trung dội nắng tràn gió - nơi “mùa gió ngang tàng mùa khô khốc”, nơi hồn xưa còn nán lại bên vòm không gian cố đô với dòng sông Hương, phá Tam Giang hay bến đò Ca Cút hoài niệm.

Trong bài Viết trước mùa đông, bước chân thi sĩ rời bỏ chốn phố thị chao đảo để tìm về miền an trú cội nguồn. Nhịp sống quê nhà hiện lên dịu nhẹ như một khoảng lặng bình yên giữa bão giông cuộc đời: bóng mẹ tảo tần khoác áo ấm lên chùa nghe tiếng chuông chiều, dáng bố thong thả vót đũa xem truyền hình lúc hoàng hôn buông down. Chi tiết “Bố ngồi vót đũa / Truyền hình coi chơi” đơn sơ là thế mà làm nhói lòng người xa xứ, chạm vào khoảng trống trăn trở của mấy chục năm bạt mạng ngụ cư phương Nam. Để rồi từ sâu thẳm tâm hồn, tiếng thở dài tự vấn cất lên đầy ngập ngừng, chua xát: “Trở về không dám về lâu / Có ai đợi trước chờ sau / Không mình?”.

Đỉnh điểm của niềm hoài niệm dồn tụ lại trong hai câu thơ lục bát xuất thần:

“Bươi trăng trên động cát mềm

May ra gặp dấu chân em thuở nào...”

Thi ảnh “bươi trăng” trên dải cát bỏng miền Trung là một sáng tạo thi liệu tuyệt đẹp, vừa đỗi mộng mơ lại vừa chan chứa đắng cay, cô đọng nỗi nhớ mong mỏi mòn đến nao lòng. Giữa biển cát chập chùng của ký ức, người du tử cố cào xới từng vệt ánh trăng mờ tỏ, chắt chiu tìm lại chút vết dấu tinh khôi của ngày cũ.

Ký ức tuổi thơ còn gắn với tình bạn làng chân chất nơi “Rú xanh độn trắng hói sông rào làng”. Qua bao thăng trầm, cái thuở “hai thằng chấp đám bèo dâu trôi cùng” trên dòng Tam Giang ngày lụt vẫn là neo bám tinh thần vững chắc nhất.

Điểm tựa của hoài niệm cội nguồn là hình ảnh người mẹ tảo tần, nhẫn nại nuôi con. Bài thơ “Kể chuyện sông Hằng với mẹ” là một rung động miên man về tình mẫu tử, khi thi sĩ đối chiếu dòng sông Hằng linh thiêng với dòng Tam Giang, sông Hương quê nhà:

“Mẹ là sông Hằng đời con

bao đớn đau sóng đằm cuối bãi...

Mẹ chưa đến sông Hằng mẹ chưa tắm sông Hương

Mẹ chỉ lội xuống Tam Giang mò trìa bắt hến

mùa nước lạnh tím sông mẹ bơi qua từng bến

hái rau sam rau đọt choại mọc hoang”

Hình ảnh mẹ “mùa nước lạnh tím sông” là điểm tựa giải tỏa mọi gian khó trên bước đường mưu sinh của đứa con.

Sống trong không gian đô thị ngụ cư ở phương Nam tràn ngập những biến động và lo toan, con người rất dễ rơi vào trạng thái đánh mất bản ngã, “thân” một nơi và “tâm” một nẻo. Tác giả cảm nhận sâu sắc sự đứt gãy ấy khi tự vấn về sự tồn tại của chính mình: “đôi khi tôi hỏi tôi có còn là tôi không/ tôi đang trong thân hay tôi ở ngoài thân”(Khúc tháng tám tro tàn). Tuy nhiên, cảm thức hiện sinh trong “Nước trên lá” không dừng lại ở tuyệt vọng, mà chuyển hóa thành sự lựa chọn tự do và tinh thần buông xả. Kiếp người dù chỉ đọng lại như giọt nước mong manh sắp khô trên lá, nhưng vẫn tròn trịa, trong trẻo khi tìm thấy cõi an trú nội tâm: “Anh không giận hờn không khó chịu không còn tranh đua / vòng xe cứ thản nhiên cho vòng nhớ thản nhiên / cho em ngắm mây trời cho mùa thu không nhớ mình đang trôi” (Cùng mùa thu hát)

Bên cạnh đó, đô thị phương Nam còn là nơi diễn ra nỗi bất an chực chờ перед những tin tức về bệnh tật, tai nạn hay biến động thời cuộc:

"Tin từ bạn sang một người bạn khác...

chồng bạn đột quị trong chiều nay và không trở về nhà nữa...

Mình đã mất nhiều bạn vì ngủ không thức dậy

nhiều bạn đã mang trong mình một tập tin chưa save"

(Một bài thơ buồn cho H)

Ẩn dụ "tập tin chưa save" lột tả sự mong manh, đột ngột của kiếp người thời hiện đại. Tuy vậy, nỗi niềm ngụ cư của Phan Trung Thành không dừng ở sự than vắn thở dài, mà hướng về tâm thái ứng xử văn minh, bao dung. Giữa dòng xe ùn tắc, thi sĩ chọn cách "chậm bên mình" để trân trọng từng khoảnh khắc sống.
 

Phan Trung Thành nghĩ về thơ

“Đôi khi, Thơ có thể giúp mình vượt qua cơn đau”. Đã có lúc Thành nói với tôi như thế.

Hai bài Viết lúc thơ hành (trang 41) và Nghĩ về thơ (trang 43) tạo thành một cặp bài đối thoại sắc sảo, giải mã những trăn trở của Phan Trung Thành về bản chất nghệ thuật và nghiệp chữ nghĩa. Ở Viết lúc thơ hành, Thành nhìn chữ nghĩa dưới góc độ sự nổi loạn, vượt ra ngoài sự kiểm soát thông thường: “Chữ là đám quân vô kỷ luật”, không chịu gò ép vào các mỹ từ tô vẽ. Tờ giấy trắng đóng vai trò như “quan tòa” công minh, còn trang viết là một “bát nước xáo toàn chữ” thấm đượm vị cay đắng của hiện thực đời sống, nơi chỉ có ánh mắt yêu thương của “em” mới có thể vỗ về, giải thoát. Tiếp nối mạch suy tư ấy, Nghĩ về thơ đẩy triết lý sáng tác lên một tầng nấc buông xả và minh triết hơn. Nhà thơ phủ định lối “kỳ cọ chữ sạch từ trí não” sáo rỗng hay huyền thoại hóa danh xưng “nhà thơ lớn” (vốn chỉ là “khái niệm đùa vui” giữa cuộc bon chen cơm áo). Với Thành, thơ ca là phương thức “dưỡng sinh tâm hồn bằng sẻ chia”, nơi đời sống của chữ mượn sự thử thách của thời gian để hồi sinh. Sự kết hợp của hai bài thơ thể hiện thái độ trung thực, dũng cảm đối diện với bi kịch trần gian và sự giản dị vô vi của một thi sĩ luôn lấy trải nghiệm sống làm cốt lõi cho trang viết.

Song hành cùng chiều sâu tư tưởng, sức hấp dẫn của "Nước trên lá" còn nằm ở sự linh hoạt trong thể loại và những thể nghiệm nghệ thuật độc đáo. Phan Trung Thành di chuyển tự do giữa thể thơ truyền thống và hiện đại.

Các thể thơ truyền thống như lục bát, năm chữ, bảy chữ đóng vai trò nhịp cầu nối liền cảm xúc hoài niệm. Ở thể lục bát, ngắt nhịp và vần điệu được xử lý uyển chuyển, mang giọng điệu ca dao nhưng đậm sắc thái triết lý. Trong khi đó, các bài thơ tự do và thơ văn xuôi lại cho phép nhà thơ mở rộng dung lượng, ghi lại trọn vẹn dòng suy tưởng và những lát cắt sinh hoạt đô thị phức tạp.

Điểm cách tân nổi bật là việc vận dụng tinh thần Tân hình thức, rõ nhất trong tác phẩm Tân hình thức buổi tối. Tác giả sử dụng triệt để thủ pháp vắt dòng, xóa bỏ viết hoa đầu câu, đưa ngôn ngữ thơ tiệm cận lời nói thường nhật:

“Dạo này như cụ già vô ra vườn rau gốc ổi xá

lị trồng cả năm trái có chút

éc như hòn bi em giai tám

chín tuổi ngọt giòn không đây

mình lại nhớ hồi kháng chiến chưa

đi ngày nào nằm mơ thấy cụt đầu thủng bụng ghê

quá em ạ đúng là chiến tranh như cái cùi giẻ anh không thích

thú đâu không ai thích thú đâu”

Thủ pháp vắt dòng cắt đứt từ ngữ giữa chừng (“xá / lị”, “chút / éc”) tạo sự ngắt quãng bất ngờ, mô phỏng chính xác dòng chảy tâm trí miên man. Câu thơ cuộn chảy liên tục như một cuộc trò chuyện không hồi kết. Linh hoạt trong tổ chức nhịp điệu giúp tác giả diễn tả trọn vẹn mọi trạng thái đời sống – từ cái xô xát trần ai đến sự thanh tịnh vô vi.

Thơ Phan Trung Thành xa lạ với lối xưng tụng sáo rỗng hay mỹ từ hoa mỹ. Thi sĩ chọn tiệm cận hiện thực bằng thứ ngôn ngữ thô ráp, tự nhiên, mang đậm hơi thở đường phố, công trường và ký ức vùng miền.

Thế giới thơ ngập tràn mảnh ghép sinh động: góc hẻm nhỏ Bình Tân, ngã tư đèn đỏ, quán cà phê, chiếc khẩu trang, cho đến chiếc gối ôm rơi khỏi tay trong đêm... Những chi tiết rất đời như "ống nội soi", "cây ATM", "xe rác" đã xô đổ khoảng cách giữa nghệ thuật bác học và hiện thực đời thường, chứng minh mọi chất liệu thô mộc đều có thể tỏa sáng giá trị thẩm mỹ.

Đặc biệt, Thành kết hợp độc đáo giữa ngôn ngữ địa phương và khẩu ngữ hiện đại:

- Ngôn ngữ địa phương, tiếng quê hương miền Huế như “mạ”, “rú”, “hói”, “rào”, “mò trìa”, “rau đọt choại”... vẫn vọng bên tai người đọc. Thì ra dẫu có bốn bể chân trời, công nghệ thế giới có đi đến đâu, tiếng nói cội nguồn quê hương vẫn luôn là nền móng trong tâm tưởng thi ca.

- Thành khai thác tối đa tiếng nói đời thường (“tào lao thấy ớn”, “thấy mà ghê”), thuật ngữ công nghệ (“password”, “google”, “tập tin chưa save”) và thuật ngữ nghề nghiệp thực tế:

“- Cho thùng hồ trộn xi bốn sáu”

(Phụ hồ và mưa)

Sự kết hợp giữa câu lệnh công trường (“xi bốn sáu”) với tâm sự tình cảm tréo ngoe của người phụ hồ tạo nên nhịp điệu chân thực, hóm hỉnh mà nhói đau. Thơ ông chạm thẳng vào trái tim người đọc bằng sức mạnh của sự thật.

Khép lại "Nước trên lá", cái còn đọng lại trong lòng người đọc là một khoảng lặng chữa lành đầy an tịnh. Với tư duy thơ giàu trải nghiệm, kết hợp giữa chất trữ tình đằm thắm của tâm hồn miền Trung và góc nhìn thấu cảm trước đời sống ngụ cư phố thị, anh gieo vào lòng người đọc những rung cảm chân thành, sâu lắng. Tập thơ trở thành cõi an trú nội tâm bao dung, nơi mỗi người tìm thấy sức mạnh buông xả và giữ trọn sự trong trẻo giữa giông bão đời thường.

Nhà thơ PHAN TRUNG THÀNH


Chùm thơ rút từ tập thơ "Nước trên lá"
 

NƯỚC TRÊN LÁ

 

Những gì còn lại trong ta

Khác chi nước mát trên tòa lá sen

Cùng về soi bóng thân quen

Tấm gương mặt nước còn nguyên ảnh hình

 

Bụi thời gian cũng lặng thinh

Phủ trên lớp sóng chỉ mình em xô

Ngất ngư trận mạc mơ hồ

Rồi yên như nước trên tờ lá rung...
 

 

KỂ CHUYỆN SÔNG HẰNG VỚI MẸ

 

Ngồi với mẹ lúc ốm đau này

lòng con như nước ngấm trong dây

da mẹ tấy phồng chỗ kim tiếp nước

con lau bằng mắt cứ sợ mẹ đau

 

Dòng Tam Giang chảy trước hiên nhà

gặp cuối nguồn hòa nhánh sông Hương

mang phù sa đi chân trời góc bể

nước sông Hằng trên tóc mẹ bình yên

 

Mẹ là sông Hằng đời con

bao đớn đau sóng đằm cuối bãi

những đứa con rời đi lo bàn tay mẹ mỏi

tay mẹ trong đời quờ nắm phía con xa

 

Con đã đến sông Hằng, xúc động trước bao la

mặt trời lên như tấm chăn đắp giùm sóng nước

đàn hải âu dang cánh trời tiễn biệt

con thả theo dòng một khúc vài cánh hoa

 

Mẹ chưa đến sông Hằng mẹ chưa tắm sông Hương

Mẹ chỉ lội xuống Tam Giang mò trìa bắt hến

mùa nước lạnh tím sông mẹ bơi qua từng bến

hái rau sam rau đọt choại mọc hoang

 

Nuôi lòng con từ giọt sữa đầu nguồn

đời khô khát âm thầm thương tay mẹ

con ngồi lắng mây trời qua đất Huế

kể với sông Hằng tóc mẹ mát hơi sương!

25/11/2019

 

BUỔI SÁNG - XE RÁC & SỰ CÔNG BẰNG
 

1

Chim đang hót cả những ngày không thấy mặt trời, chim rừng hay chim kiểng đều lấy âm thanh giao lưu.

Dù có người đón từng sợi ngân có người không, họ bận nhặt từng cọng tơ kí ức hay đang sống về một ngày mai ở nơi đâu.

Tiếng chim chữa lành buổi mai trầy xước, đôi khi mùi phân cho ta cảm giác đang sống, phân chim nuôi có dịp lên men.

 

2

Khi xe rác đi qua, chị đứng trong thùng xe trên “nệm” rác huơ tay trong không khí đón lấy mọi thứ người ta bỏ đi.

Sau khẩu trang, đôi mắt chị cười lấp lánh, tiếng máy xe lam nổ rền rền, phân phối khói đều khắp ngõ rồi mang đi các thứ sắp lên men.

Nhà của những người hay giết mổ thì rác mùi hơn, chị đùa.

 

3

Tôi hài lòng với tiếng chim miễn phí và hay nghĩ về sự-công-bằng.

Bữa nhậu tưng bừng tôi phát hiện trong nhà vệ sinh bao giờ cũng trật tự

Ai tới đây cũng đi cùng chỗ

Nước trên khay chảy đều đều

Thằng bần đứng lâu hơn cũng chả sao

Thằng mặt trư, mấy mươi năm làm vương làm tướng cũng thế

Tè trong khi dòng họ nó run.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm