TIN TỨC

Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-02 08:42:35
mail facebook google pos stwis
122 lượt xem

PHẠM ĐÌNH THÀNH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.

 

Tác giả tại nhà riêng của nhà thơ Phạm Thiên Thư

 

Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

Động hoa vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư có lẽ đã trở thành một miền ký ức khó phai đối với người yêu thơ miền Nam trước năm 1975. Người yêu nhạc lại càng mê đắm ca khúc “Đưa em tìm động hoa vàng” của nhạc sỹ Phạm Duy – một bản phổ nhạc được chắt lọc từ những câu thơ đẹp nhất trong thi phẩm này. Nhưng vượt lên trên sức lan tỏa của âm nhạc, Động hoa vàng trước hết vẫn là một hiện tượng thơ độc đáo của văn học Việt Nam hiện đại, nơi Phạm Thiên Thư tạo dựng cho mình một cõi thơ riêng: vừa bảng lảng thiền vị phương Đông, vừa phóng khoáng trong cảm thức hiện đại.

Tập thơ gồm bốn trăm câu lục bát chia thành một trăm đoạn ngắn, nhưng gần như đoạn nào cũng thấp thoáng một ánh sáng thi ca riêng biệt. Đặc biệt, hình tượng bốn mùa xuất hiện với tần suất dày đặc: mùa xuân 15 lần, mùa hạ 3 lần, mùa đông 11 lần và mùa thu nhiều nhất với 19 lần. Điều đáng nói là ở Phạm Thiên Thư, bốn mùa không chỉ là tín hiệu thời gian mà đã trở thành một hệ mỹ cảm, một cấu trúc biểu tượng mang tính thi pháp.

Thi thoảng trong tập thơ, nhà thơ nhắc đến mùa rất tự nhiên, gần như chỉ để ghi nhận một vòng quay đời sống. Nhưng chính sự giản dị ấy lại tạo nên cái duyên riêng cho thơ:

Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân
                                    (Đoạn 31)

Cái thú “uống đông”, “uống xuân” ở đây không chỉ là thú tao nhã của người xưa mà còn gợi một quan niệm sống mang màu sắc Đông phương: con người hòa nhập với tiết điệu của đất trời. Mùa không đứng ngoài đời sống mà đi vào chén trà, bầu rượu, thấm vào nhịp sinh hoạt thường ngày. Ẩn sau những câu thơ tưởng như mộc mạc ấy là tinh thần “thiên nhân tương dữ”, nơi con người giao cảm với tự nhiên như một phần máu thịt.

Sự hồi tưởng về những tháng ngày yêu thương vốn thường được nhiều thi sĩ gắn với tà áo thiếu nữ. Nguyên Sa nhớ người yêu “bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”, rồi từ màu áo mà yêu luôn cả sắc hoa, màu lá:

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường…

Còn Phạm Thiên Thư lại đặt sắc áo người yêu trong dòng chảy bốn mùa:

Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa
                                     (Đoạn 8)

Ở đây, thời gian không còn là khái niệm trừu tượng mà trở thành màu sắc. Mỗi mùa là một gam màu trên thân thể người thiếu nữ. Thi pháp ấy khiến hình tượng nhân vật trữ tình mang vẻ đẹp vừa thực vừa mộng. Nhà thơ không miêu tả trực tiếp nhan sắc mà để mùa thay mình nói hộ. Chính sự “thi vị hóa thời gian” ấy đã làm nên nét tài hoa của Phạm Thiên Thư.

Nếu mùa thu trong thơ ca truyền thống thường gắn với nỗi buồn ly biệt, với gió heo may và tiếng mưa ngâu, thì mùa thu trong thơ Phạm Thiên Thư lại mang một vẻ đẹp rất khác: nhẹ, xanh và trong trẻo:

Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân
                                   (Đoạn 21)

“Thu xanh” là một sáng tạo ngôn ngữ đặc biệt. Về logic thị giác, thu thường gắn với sắc vàng; nhưng ở đây nhà thơ cố tình phá vỡ quán tính liên tưởng quen thuộc để tạo nên một trường nghĩa mới. Mùa thu không tàn phai mà mang màu của tuổi trẻ, của thanh xuân chưa úa. Chính sự chuyển đổi cảm giác ấy đã cho thấy khuynh hướng tượng trưng và siêu thực thấp thoáng trong thơ ông.

Đến đoạn:

Chim nào hát giữa thôn hoa
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay
Lụa nào phơi nắng sông tây
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông
(Đoạn 25)

cái đẹp dường như đã đạt đến độ phi thời gian. “Xanh hoài thu đông” không chỉ là màu áo mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp vượt thoát quy luật tàn phai. Thi pháp lục bát của Phạm Thiên Thư ở đây không đi theo lối kể mà nghiêng về gợi. Câu thơ mở ra nhiều khoảng trắng liên tưởng hơn là khép lại bằng một ý nghĩa xác định.

Một đặc điểm nổi bật khác là nhà thơ thường đặt bốn mùa bên dòng sông. Trong thi ca Việt Nam, sông vốn là biểu tượng của thời gian, của nỗi nhớ và sự lưu chuyển. Nhưng ở Phạm Thiên Thư, dòng sông còn là nơi hội tụ cảm xúc thẩm mỹ:

Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm
(Đoạn 26)

và:

Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
                                      (Đoạn 30)

Sông hạ trong thơ ông không dữ dội mà trong xanh, dịu nhẹ, đủ để mây trắng soi bóng mình. Đó là vẻ đẹp của một tâm hồn không bi lụy. Nếu Hàn Mặc Tử từng nhìn thấy “mây chết đuối giữa dòng sông vắng lặng”, thì Phạm Thiên Thư lại nhìn thấy một dòng sông biết “ngâm mây trắng”. Thiên nhiên trong thơ ông luôn mang trạng thái giao cảm hiền hòa, như thể vạn vật đều có linh hồn.

Khi mùa thu hiện ra, dòng sông lại trở nên bảng lảng cổ điển:

Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
                                       (Đoạn 27)

Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.

Bên cạnh hệ thống hình ảnh giàu chất họa, nghệ thuật tu từ trong thơ ông cũng đặc biệt tinh tế. Phép đối ngữ xuất hiện tự nhiên mà vẫn tạo được độ ngân:

Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa
                                     (Đoạn 65)

“Cuối xuân” đối với “sớm thu”, “thềm hoa dại tàn” đối với “cỏ mộ vàng cúc hoa”, tất cả tạo nên một nỗi ngậm ngùi nhẹ mà sâu. Đó không phải nỗi đau dữ dội của mất mát, mà là cảm thức vô thường rất gần với tinh thần Phật giáo trong thơ Phạm Thiên Thư.

Dường như ông còn chủ ý làm mới cấu trúc lục bát bằng những đảo ngữ bất ngờ:

Đón em như ngóng chim trời
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu
                                    (Đoạn 69)

“Bãi xuân”, “khói thu” được đặt trong một trật tự cú pháp khác thường, khiến câu thơ vừa có độ chênh của hội họa siêu thực vừa giữ được nhạc điệu mềm mại của lục bát truyền thống. Có thể nói, Phạm Thiên Thư là một trong những người đã góp phần hiện đại hóa lục bát mà không làm mất đi hồn cốt dân tộc của thể thơ này.

Nghệ thuật nhân hóa bốn mùa cũng là một nét đặc sắc:

Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa
                               (Đoạn 34)

và:

Mùa xuân mặc lá trên ngàn
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư
                            (Đoạn 49)

Ở đây, mùa xuân và mùa thu hiện lên như những thiếu nữ biết “mặc”, biết “chơi”, biết làm duyên cùng cỏ cây. Thiên nhiên không còn là phông nền mà trở thành một sinh thể sống động. Điều đó cho thấy cái nhìn vạn vật hữu linh rất rõ trong thơ ông.

Nếu Nguyễn Du trong Truyện Kiều từng khắc họa bốn mùa bằng bút pháp ước lệ cổ điển, thì Phạm Thiên Thư lại vẽ bốn mùa bằng một thi pháp hiện đại hơn, giàu trực giác và cảm giác. Ông không đi theo lối mô tả quen thuộc của thơ truyền thống. Hạ trong thơ ông không rực lửa; thu không lá vàng hiu hắt; đông không rét buốt quạnh hiu; xuân cũng không tràn ngập tiếng reo vui. Các mùa hiện ra như những miền cảm xúc nội tâm hơn là những thực thể tự nhiên.

Đó chính là nét riêng không thể trộn lẫn của Phạm Thiên Thư. Ông không chỉ “tả cảnh” mà còn “tạo cảnh”. Bốn mùa trong Động hoa vàng là bốn miền tâm tưởng, nơi hiện thực được gạn lọc qua cảm giác và trực giác nghệ sĩ. Có lẽ vì thế mà thơ ông luôn đẹp như một giấc mộng, mong manh mà ám ảnh.

Và nếu cần một lời lý giải vì sao mùa ở đây lại nhẹ nhàng, thanh thoát đến vậy, thì có lẽ câu trả lời giản dị nhất vẫn là: bởi đó là bốn mùa trong “Động hoa vàng”, một động thi ca lục bát mang tên Phạm Thiên Thư.

P.Đ.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm