TIN TỨC

Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-02 08:42:35
mail facebook google pos stwis
401 lượt xem

PHẠM ĐÌNH THÀNH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.

 

Tác giả tại nhà riêng của nhà thơ Phạm Thiên Thư

 

Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

Động hoa vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư có lẽ đã trở thành một miền ký ức khó phai đối với người yêu thơ miền Nam trước năm 1975. Người yêu nhạc lại càng mê đắm ca khúc “Đưa em tìm động hoa vàng” của nhạc sỹ Phạm Duy – một bản phổ nhạc được chắt lọc từ những câu thơ đẹp nhất trong thi phẩm này. Nhưng vượt lên trên sức lan tỏa của âm nhạc, Động hoa vàng trước hết vẫn là một hiện tượng thơ độc đáo của văn học Việt Nam hiện đại, nơi Phạm Thiên Thư tạo dựng cho mình một cõi thơ riêng: vừa bảng lảng thiền vị phương Đông, vừa phóng khoáng trong cảm thức hiện đại.

Tập thơ gồm bốn trăm câu lục bát chia thành một trăm đoạn ngắn, nhưng gần như đoạn nào cũng thấp thoáng một ánh sáng thi ca riêng biệt. Đặc biệt, hình tượng bốn mùa xuất hiện với tần suất dày đặc: mùa xuân 15 lần, mùa hạ 3 lần, mùa đông 11 lần và mùa thu nhiều nhất với 19 lần. Điều đáng nói là ở Phạm Thiên Thư, bốn mùa không chỉ là tín hiệu thời gian mà đã trở thành một hệ mỹ cảm, một cấu trúc biểu tượng mang tính thi pháp.

Thi thoảng trong tập thơ, nhà thơ nhắc đến mùa rất tự nhiên, gần như chỉ để ghi nhận một vòng quay đời sống. Nhưng chính sự giản dị ấy lại tạo nên cái duyên riêng cho thơ:

Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân
                                    (Đoạn 31)

Cái thú “uống đông”, “uống xuân” ở đây không chỉ là thú tao nhã của người xưa mà còn gợi một quan niệm sống mang màu sắc Đông phương: con người hòa nhập với tiết điệu của đất trời. Mùa không đứng ngoài đời sống mà đi vào chén trà, bầu rượu, thấm vào nhịp sinh hoạt thường ngày. Ẩn sau những câu thơ tưởng như mộc mạc ấy là tinh thần “thiên nhân tương dữ”, nơi con người giao cảm với tự nhiên như một phần máu thịt.

Sự hồi tưởng về những tháng ngày yêu thương vốn thường được nhiều thi sĩ gắn với tà áo thiếu nữ. Nguyên Sa nhớ người yêu “bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”, rồi từ màu áo mà yêu luôn cả sắc hoa, màu lá:

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường…

Còn Phạm Thiên Thư lại đặt sắc áo người yêu trong dòng chảy bốn mùa:

Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa
                                     (Đoạn 8)

Ở đây, thời gian không còn là khái niệm trừu tượng mà trở thành màu sắc. Mỗi mùa là một gam màu trên thân thể người thiếu nữ. Thi pháp ấy khiến hình tượng nhân vật trữ tình mang vẻ đẹp vừa thực vừa mộng. Nhà thơ không miêu tả trực tiếp nhan sắc mà để mùa thay mình nói hộ. Chính sự “thi vị hóa thời gian” ấy đã làm nên nét tài hoa của Phạm Thiên Thư.

Nếu mùa thu trong thơ ca truyền thống thường gắn với nỗi buồn ly biệt, với gió heo may và tiếng mưa ngâu, thì mùa thu trong thơ Phạm Thiên Thư lại mang một vẻ đẹp rất khác: nhẹ, xanh và trong trẻo:

Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân
                                   (Đoạn 21)

“Thu xanh” là một sáng tạo ngôn ngữ đặc biệt. Về logic thị giác, thu thường gắn với sắc vàng; nhưng ở đây nhà thơ cố tình phá vỡ quán tính liên tưởng quen thuộc để tạo nên một trường nghĩa mới. Mùa thu không tàn phai mà mang màu của tuổi trẻ, của thanh xuân chưa úa. Chính sự chuyển đổi cảm giác ấy đã cho thấy khuynh hướng tượng trưng và siêu thực thấp thoáng trong thơ ông.

Đến đoạn:

Chim nào hát giữa thôn hoa
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay
Lụa nào phơi nắng sông tây
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông
(Đoạn 25)

cái đẹp dường như đã đạt đến độ phi thời gian. “Xanh hoài thu đông” không chỉ là màu áo mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp vượt thoát quy luật tàn phai. Thi pháp lục bát của Phạm Thiên Thư ở đây không đi theo lối kể mà nghiêng về gợi. Câu thơ mở ra nhiều khoảng trắng liên tưởng hơn là khép lại bằng một ý nghĩa xác định.

Một đặc điểm nổi bật khác là nhà thơ thường đặt bốn mùa bên dòng sông. Trong thi ca Việt Nam, sông vốn là biểu tượng của thời gian, của nỗi nhớ và sự lưu chuyển. Nhưng ở Phạm Thiên Thư, dòng sông còn là nơi hội tụ cảm xúc thẩm mỹ:

Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm
(Đoạn 26)

và:

Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
                                      (Đoạn 30)

Sông hạ trong thơ ông không dữ dội mà trong xanh, dịu nhẹ, đủ để mây trắng soi bóng mình. Đó là vẻ đẹp của một tâm hồn không bi lụy. Nếu Hàn Mặc Tử từng nhìn thấy “mây chết đuối giữa dòng sông vắng lặng”, thì Phạm Thiên Thư lại nhìn thấy một dòng sông biết “ngâm mây trắng”. Thiên nhiên trong thơ ông luôn mang trạng thái giao cảm hiền hòa, như thể vạn vật đều có linh hồn.

Khi mùa thu hiện ra, dòng sông lại trở nên bảng lảng cổ điển:

Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
                                       (Đoạn 27)

Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.

Bên cạnh hệ thống hình ảnh giàu chất họa, nghệ thuật tu từ trong thơ ông cũng đặc biệt tinh tế. Phép đối ngữ xuất hiện tự nhiên mà vẫn tạo được độ ngân:

Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa
                                     (Đoạn 65)

“Cuối xuân” đối với “sớm thu”, “thềm hoa dại tàn” đối với “cỏ mộ vàng cúc hoa”, tất cả tạo nên một nỗi ngậm ngùi nhẹ mà sâu. Đó không phải nỗi đau dữ dội của mất mát, mà là cảm thức vô thường rất gần với tinh thần Phật giáo trong thơ Phạm Thiên Thư.

Dường như ông còn chủ ý làm mới cấu trúc lục bát bằng những đảo ngữ bất ngờ:

Đón em như ngóng chim trời
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu
                                    (Đoạn 69)

“Bãi xuân”, “khói thu” được đặt trong một trật tự cú pháp khác thường, khiến câu thơ vừa có độ chênh của hội họa siêu thực vừa giữ được nhạc điệu mềm mại của lục bát truyền thống. Có thể nói, Phạm Thiên Thư là một trong những người đã góp phần hiện đại hóa lục bát mà không làm mất đi hồn cốt dân tộc của thể thơ này.

Nghệ thuật nhân hóa bốn mùa cũng là một nét đặc sắc:

Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa
                               (Đoạn 34)

và:

Mùa xuân mặc lá trên ngàn
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư
                            (Đoạn 49)

Ở đây, mùa xuân và mùa thu hiện lên như những thiếu nữ biết “mặc”, biết “chơi”, biết làm duyên cùng cỏ cây. Thiên nhiên không còn là phông nền mà trở thành một sinh thể sống động. Điều đó cho thấy cái nhìn vạn vật hữu linh rất rõ trong thơ ông.

Nếu Nguyễn Du trong Truyện Kiều từng khắc họa bốn mùa bằng bút pháp ước lệ cổ điển, thì Phạm Thiên Thư lại vẽ bốn mùa bằng một thi pháp hiện đại hơn, giàu trực giác và cảm giác. Ông không đi theo lối mô tả quen thuộc của thơ truyền thống. Hạ trong thơ ông không rực lửa; thu không lá vàng hiu hắt; đông không rét buốt quạnh hiu; xuân cũng không tràn ngập tiếng reo vui. Các mùa hiện ra như những miền cảm xúc nội tâm hơn là những thực thể tự nhiên.

Đó chính là nét riêng không thể trộn lẫn của Phạm Thiên Thư. Ông không chỉ “tả cảnh” mà còn “tạo cảnh”. Bốn mùa trong Động hoa vàng là bốn miền tâm tưởng, nơi hiện thực được gạn lọc qua cảm giác và trực giác nghệ sĩ. Có lẽ vì thế mà thơ ông luôn đẹp như một giấc mộng, mong manh mà ám ảnh.

Và nếu cần một lời lý giải vì sao mùa ở đây lại nhẹ nhàng, thanh thoát đến vậy, thì có lẽ câu trả lời giản dị nhất vẫn là: bởi đó là bốn mùa trong “Động hoa vàng”, một động thi ca lục bát mang tên Phạm Thiên Thư.

P.Đ.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm