- Góc nhìn văn học
- Nhà văn làm báo ở chiến trường - Trên tuyến đầu chống Mỹ - Tất cả cho ngày thống nhất non sông
Nhà văn làm báo ở chiến trường - Trên tuyến đầu chống Mỹ - Tất cả cho ngày thống nhất non sông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, văn nghệ sĩ vào chiến trường rất sớm. Đã sớm hình thành một “binh chủng văn nghệ sĩ” tại chiến trường vừa cầm trực tiếp cầm súng vừa trực tiếp sáng tác, đây là một điều đặc biệt của cuộc chiến tranh, một dấu ấn đặc sắc, để sau này nhìn lại chúng ta càng nhận thức rõ nét hơn, ý thức sâu sắc hơn về chiến tranh, để từ đó xây dựng vững chắc nền hòa bình với sự hiểu biết và trưởng thành của con người Việt Nam thời đại mới.

Nhà văn Dương Thị Xuân Quý tại chiến trường. Ảnh tư liệu
Các nhà văn vào chiến trường đã cho thấy lý tưởng và nhân cách, nhất là trách nhiệm của trí thức với Tổ quốc, với nhân dân. Họ chiến đấu, sáng tác và hy sinh như một người chiến sĩ quả cảm trên tuyến đầu. Đó là, Nguyễn Thi (1928-1968); Lê Anh Xuân (1940-1968); Dương Thị Xuân Quý (1941-1969); Chu Cẩm Phong (1941-1971); Nguyễn Mỹ (1935-1971); Vũ Đình Văn (1951-1972);… đã cho thấy không chỉ sự khốc liệt của chiến tranh mà còn là những biểu tượng của giới văn nghệ sĩ - trí thức đã cống hiến toàn bộ tuổi thanh xuân - mạng sống của mình cho non sông đất nước. Đây chính là một trong những vẻ đẹp ngời sáng nhất của con người Việt Nam, của các nhà văn Việt Nam.
Nhà văn làm báo ở chiến trường là một trong những nhiệm vụ mà họ luôn yêu thích và đề cao trách nhiệm. Nhà văn Nguyễn Thi xung phong vào chiến trường từ năm 1962, cùng các nhà văn, nhà thơ làm báo Văn nghệ quân giải phóng ngay trong lòng cuộc chiến. Tác phẩm Người mẹ cầm súng với nhân vật chị Út Tịch đã trở thành biểu tượng của cuộc chiến đấu anh hùng của quân và dân miền Nam. Hàng loạt bút ký, ghi chép của Nguyễn Thi đều là từ thực tiễn cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh của quân và dân miền Nam là những đóng góp rất lớn, là hình tượng tiêu biểu của nhà văn làm báo ở chiến trường. Nhà văn Nguyễn Thi hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 tại chân cầu Chữ Y đã cho thấy bản lĩnh và phẩm chất cao nhất của người cầm bút, niềm tự hào của đội ngũ nhà văn chống Mỹ, sự khâm phục và tiếc thương của các thế hệ đối với Nguyễn Thi tới hôm nay.
Nhà văn Dương Thị Xuân Quý khi đang công tác ở Báo Phụ nữ Việt Nam lúc con mới sáu tháng tuổi đã nằng nặc viết đơn tình nguyện vào chiến trường đầu năm 1968. Ở đó, các tác phẩm văn chương, báo chí nóng hổi đã đến với bạn đọc. Cũng tại chiến trường, trên đất Xuyên Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Dương Thị Xuân Quý đã hy sinh đúng vào ngày mùng 8-3-1969 khi chị mới vừa 28 tuổi. Chúng tôi đã lặng người mỗi khi đứng trước tấm di ảnh đen trắng chụp tại chiến trường của nhà văn - nhà báo Dương Thị Xuân Quý.

Thế hệ chúng tôi, không chỉ rất thấm thía mà còn luôn tự nhủ với chính mình, với thế hệ mình, những đồng nghiệp đang từng ngày cầm bút ý thức trách nhiệm và tinh thần lao động sáng tạo để xứng đáng với những gì lớp cha anh đã tạo dựng lên bằng toàn bộ trí tuệ, niềm tin và cả xương máu nữa. Điều đó, phải luôn là nguyên tắc trong thực hành cuộc sống hôm nay.
Trên tinh thần ấy, mỗi khi nhắc đến các nhà văn làm báo ở chiến trường, những người trực tiếp cầm súng và cầm bút, những nhân chứng lịch sử mà các nhà văn đã gặp, những câu chuyện dường như chỉ có trong chiến tranh, những hồi tưởng về người đã hy sinh, các tác phẩm văn chương, báo chí đã trở thành dấu mốc, đó là những câu chuyện được kể về chiến tranh, trong chiến tranh và sau chiến tranh của người trong cuộc, về người trong cuộc. Có câu chuyện đã trở thành huyền thoại, thành tên phố tên đường như cặp nhà văn - nhân vật: Nguyễn Thi - Út Tịch. Nhân vật chiến đấu hy sinh dũng cảm và nhà văn cũng chiến đấu dũng cảm hy sinh. Có nhà văn đã trở thành biểu tượng của chí khí anh hùng như nhà thơ Lê Anh Xuân, nhà văn Dương Thị Xuân Quý. Người còn sống và người đã khuất, thảy đều một lòng một dạ hướng tới Tổ quốc và nhân dân.
Khi các nhà nghiên cứu từ nhiều nơi trên thế giới nghiên cứu qua các trang văn, trang báo, nhật ký chiến trường của chúng ta đã phải kinh ngạc khâm phục con người Việt Nam trong chiến tranh ở những điều bình dị nhất. Chúng ta đã chiến đấu và chiến thắng những kẻ thù xâm lược hùng mạnh với vũ khí tối tân, hiện đại không chỉ bằng sức mạnh vật chất, mà cái chính yếu hơn, thẳm sâu hơn, đó là sức mạnh tinh thần, sức mạnh văn hóa từ cội nguồn dân tộc. Điều đó có được từ sự cống hiến của toàn thể chúng ta trong đó có đội ngũ nhà văn làm báo ở chiến trường.
Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên. Chúng ta, sau dấu mốc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước ngày 30-4-1975 đã hai đầu biên giới lại vang lên tiếng súng. Người chiến sĩ bỏ lại đó ngôi nhà còn lợp dở, người vợ trẻ vừa mới ấm hơi chồng, đứa con thơ mới chập chững bi bô tập nói để lên đường bảo vệ đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ tính mạng và của cải của nhân dân. Ở khúc này đây, các nhà văn đã lập tức khoác ba lô lên đường đồng hành với bộ đội, cầm súng nơi các mặt trận biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc. Ở nơi đó, không chỉ thực tiễn của cuộc chiến đấu hấp dẫn ngòi bút các nhà văn mà cái cao hơn, lớn lao hơn, chính là thông điệp mà các nhà văn đưa ra từ các sáng tác văn chương, báo chí với người dân trong nước và cộng đồng quốc tế.
Nhiều nhà văn từng ở chiến trường chống Mỹ lại tiếp tục có mặt ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc. Hơn ai hết, các nhà văn hiểu rằng, chỉ có thể từ thực tiễn cuộc chiến đấu dũng cảm của quân và dân ta, quân và dân nước bạn mới có thể khẳng định sự chính nghĩa của người chính nghĩa. Nhà văn, với phẩm chất và lương tri của mình, phẩm chất và lương tri đã được tôi rèn qua các cuộc chiến tranh vệ quốc đã cất lên tiếng nói trung thực nhất, mạnh mẽ nhất. Chính điều đó đã góp phần khẳng định rõ nét những đóng góp của các nhà văn làm báo ở chiến trường với lý tưởng, nhân cách sáng tạo chính là những điểm căn cốt nhất, phẩm chất cao quý nhất của mỗi nhà văn.
Chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc rất cần được trang bị đầy đủ tri thức, kỹ năng, nhất là niềm tin và khát vọng để mạnh mẽ bước về phía trước. Từ những hình ảnh đẹp đẽ; tấm gương hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân; những cống hiến xuất sắc của đội ngũ văn nghệ sĩ trong đó có các nhà văn nhiều thế hệ làm báo ở chiến trường đã góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ vừa chân thực vừa sinh động. Chính điều đó đã và đang trở thành một trong những nền tảng vững chắc để người chiến sĩ chúng ta hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Phùng Văn Khai
Nguồn: Báo Quân Đội Nhân Dân