- Góc nhìn văn học
- Văn học có thực sự chữa được cô đơn?
Văn học có thực sự chữa được cô đơn?
Ngày nay, thông qua mạng xã hội và các phương tiện công nghệ, con người kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Nhưng một thực tại lại xảy ra: Dường như con người đang cô đơn hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, văn học nghệ thuật được kỳ vọng là sợi dây hàn gắn liên kết giữa người với người. Liệu một cuốn sách có thể mang tới sự gắn kết? Từ những cuộc đối thoại trong chuỗi sự kiện Những ngày Văn học châu Âu 2026, câu hỏi ấy đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Nhà văn Anh Rebecca Watson đọc trích đoạn tác phẩm Little Scratch của mình. Ảnh: PV
Những ngày Văn học châu Âu 2026 diễn ra từ ngày 7/5 đến 17/5 tại ba thành phố: Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm nay, chương trình chọn nỗi cô đơn và tinh thần đoàn kết làm sợi chỉ xuyên suốt.
Cô đơn thời đại này không phải là thiếu kết nối, mà là mất đi “thế giới chung”, tức không gian chia sẻ nơi con người cùng nhìn thấy, cùng trải nghiệm, cùng quy chiếu về một thực tại.
Ông Oliver Brandt, Viện trưởng Viện Goethe Hà Nội đã chạm đúng vào điểm này khi nhận định rằng nỗi cô đơn vốn là một điều kiện sẵn có bên trong con người, nó cũng đi liền với khao khát được kết nối, gắn kết với những người xung quanh mình. “Ở tầng sâu nhất, những cuốn tiểu thuyết luôn kể về cách một ai đó chịu đựng cuộc đời đang tuột khỏi tay mình. Từ đó, tiểu thuyết không hẳn là một liều thuốc chữa lành, thường thì nó dạy con người ta cách chịu đựng.”
Vậy câu hỏi đặt ra là: Nếu cô đơn bắt nguồn từ sự đổ vỡ giữa bên trong và bên ngoài, giữa cá nhân và thế giới, thì văn học có thể hàn gắn vết nứt đó không?
Khi đọc một cuốn tiểu thuyết, ta tạm thời “sống” trong ý thức của một nhân vật khác, cảm nhận nỗi đau không phải của mình. Tiểu thuyết cũng được coi là trường học của lòng trắc ẩn, nơi ta được thực hành khả năng thấu hiểu người khác.
Nhà văn người Anh Rebecca Watson khi phát biểu tại tọa đàm Quá ồn những nỗi cô đơn - Câm lặng, đè nén và khát vọng tái sinh cũng nhấn mạnh, văn học có khả năng gắn kết con người thông qua cảm giác được đồng cảm, khi nhìn thấy chính mình trên trang sách, con người nhận ra rằng họ không đơn độc trong những lo âu, lạc lõng hay tổn thương của mình.
Cô đơn - hàn gắn trong tác phẩm của hai nhà văn châu Âu
Trong tiểu thuyết Kintsugi của nhà văn Đức Miku Sophie Kühmel, tác phẩm đoạt giải văn học Jürgen Ponto-Stiftung và giải Aspekte cho “Văn xuôi tiếng Đức hay nhất 2019”, có chi tiết một chiếc tách trà bị vỡ. Nó được hàn lại bằng kỹ thuật kintsugi của Nhật Bản: Dùng vàng gắn những mảnh vỡ, biến vết nứt thành phần đẹp nhất của đồ vật. Phép ẩn dụ ấy đẹp đến mức người ta muốn tin ngay rằng mọi thứ đổ vỡ đều có thể được hàn gắn, thậm chí đẹp hơn trước.
Nhưng đọc kỹ Kintsugi, ta nhận ra điều khác. Bốn nhân vật, cặp đôi Max và Reik, người bạn thân Tonio, cô con gái Pega, trải qua một cuối tuần tại ngôi nhà bên hồ vùng Uckermark. Hai mươi năm họ đã hình thành cái mà Kühmel gọi là “gia đình do mình lựa chọn.” Nhưng cuối tuần ấy, Max chợt đếm tóc bạc và tự hỏi còn gì để mong đợi ở đời, trong khi Reik cảm thấy mọi tác phẩm nghệ thuật mình tạo ra đều vô nghĩa. Kühmel viết: “Nếu ta quên rằng mình cần tôn trọng cảm xúc của chính mình như tôn trọng cảm xúc người khác, thì cảm xúc sẽ nhanh chóng tổn thương”, như tách trà được hàn lại bằng vàng, nhưng vết nứt vẫn còn đó. Hàn gắn không có nghĩa là nguyên vẹn.
Và đây chính là điểm cần chất vấn. Đồng cảm khi đọc sách là đồng cảm một chiều. Ta cảm thấy được hiểu bởi Rebecca Watson khi đọc cuốn Xước xát (Little Scratch) của cô, cuốn tiểu thuyết đầu tay lọt vào danh sách đề cử giải Goldsmiths và giải Desmond Elliott, được giới thiệu rộng rãi như một ví dụ điển hình cho chủ đề chính trong Những ngày Văn học châu Âu 2026. Nhưng Watson không biết ta tồn tại. Cô viết cho hàng nghìn, hàng vạn người đọc không tên không tuổi. Vậy nên kết nối với một cuốn sách không đồng nghĩa kết nối với một con người. Sách không đáp lại, không hỏi han, không có mặt lúc nửa đêm khi ta cần ai đó.
Và nếu ta tìm thấy sự thấu hiểu trong tiểu thuyết dễ hơn trong đời thực, liệu văn học có đang giúp ta bước ra khỏi cô đơn hay giúp ta trang trí lại cô đơn cho đẹp hơn? Có một khác biệt rất mỏng giữa “cảm thấy bớt cô đơn” và “thực sự bớt cô đơn”. Một người đọc xong Xước xát cảm thấy xúc động vì nhận ra ai đó cũng từng trải qua những đứt gãy nội tâm giống mình, rồi gấp sách lại, quay về cuộc sống vẫn với những mối quan hệ rạn nứt cũ, thì người đó đã được hàn gắn chưa, hay chỉ được an ủi trong một khoảnh khắc?
Và còn một câu hỏi ít được nhắc đến: Ai đang đọc văn học đương đại? Ai có thời gian, điều kiện kinh tế và vốn văn hóa để ngồi trong một tọa đàm có tên Quá ồn những nỗi cô đơn - Câm lặng, đè nén và khát vọng tái sinh? Văn học kết nối con người là một mệnh đề có điều kiện, không phải chân lý phổ quát. Còn những người cô đơn nhất trong xã hội, những người lao động xa nhà, người già neo đơn, những thanh niên mắc kẹt giữa kỳ vọng gia đình và khát vọng cá nhân, họ có nằm trong tầm với của văn học không?
“Giải phóng” văn học khỏi những chức năng bị gán
Nhưng tất cả những điều trên không phải để phủ nhận văn học. Mà là để giải phóng nó khỏi một vai trò quá lớn mà người ta đang gán cho.
Xước xát của Rebecca Watson là ví dụ rõ ràng nhất cho điều này. Cuốn sách không “chữa” gì cả. Nó tái hiện một ngày trong đời một phụ nữ trẻ ở London đang tự chia mình thành nhiều phiên bản: “tôi trước kia” người từng vui vẻ; “tôi cũ”; “tôi nhỏ bé, hạnh phúc, thuộc về quá khứ”, và “tôi” hiện tại, người đã kết thúc kể từ khi bị xâm hại bởi chính sếp của mình. Văn bản trên trang giấy bị xẻ thành nhiều cột chạy song song, chen lấn nhau như tiếng ồn bên trong đầu một người đang cố sống bình thường giữa những vết xước chưa lành. Watson đã nói, cô cần một cấu trúc mới để diễn tả chính xác cảm giác tồn tại bên trong tâm trí con người. Cô không kể lại cô đơn, cô tái tạo nhịp điệu của nó trên trang giấy.
Tạp chí The New Republic nhận xét về Xước xát: Nhân vật cào xước da mình suốt cả cuốn sách, và cuối cùng, người đọc cũng cảm nhận được điều đó. Đó không phải là chữa lành, đó là được phép cô đơn mà không bị phán xét, được thấy nỗi đau của mình có hình dạng, có tên gọi. Đôi khi, gọi tên một thứ đã đủ để nó bớt đè nặng, không phải vì nó đã biến mất, mà vì ta không còn vật lộn với nó trong bóng tối nữa.
Vài năm gần đây, các tác phẩm với “tác dụng” phải “chữa lành”, phải “kết nối” được ưa chuộng. Văn chương quả là có những chức năng đó, nhưng một tác phẩm không thay thế được một cuộc gọi cho người thân lúc nửa đêm; không thay thế được việc có ai đó ngồi cạnh khi ta khóc; không thay thế được chính sách xã hội chăm lo cho người cô đơn. Bù lại, văn học cho ta một thứ mà không gì khác cho được. Ngôn ngữ để nói về cô đơn một cách rõ ràng hơn.
Phát biểu tại tọa đàm trong chuỗi chương trình Những ngày Văn học châu Âu 2026, tác giả Rebecca Watson bày tỏ hy vọng độc giả Việt Nam dù sống trong một bối cảnh văn hóa khác, vẫn có thể tìm thấy cảm giác được thấu hiểu từ cuốn Xước xát. Tác giả Miku Sophie Kühmel cũng tin rằng văn học mở ra khả năng kết nối con người vượt qua không gian và thời gian. Trong thời đại siêu kết nối, thứ ta cần nhất không phải thêm một sợi dây hàn gắn, mà là sự cho phép gọi tên sự cô đơn, cho phép ngồi yên với nó một lúc trước khi đứng lên đi tiếp.
Văn học, ít nhất, cho phép điều đó.
Vũ Thủy
Nguồn: Báo Văn Nghệ