TIN TỨC

Vũ Hồng ngân lên Đoản khúc số 8

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-09-24 11:36:40
mail facebook google pos stwis
4380 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Mấy năm trước, nhà văn Vũ Hồng ra mắt tập thơ với tựa đề mang ý tưởng rất lạ và thú vị, dễ gây sự tò mò cho bạn đọc: Đoản khúc số 8. Lại còn chọn khổ tập thơ 19x19cm, khá ngộ nghĩnh. Suy cho cùng đây thường là cái tạng của người nghệ sĩ đa tài khi đặt tựa dù là truyện ngắn hay thơ. Bởi “Nghệ thuật là không lặp lại chính mình và không lặp lại của người khác”. Ai đó đã từng nói như thế.

Nhà văn Vũ Hồng

Tựa thơ anh có Bài ca trái ớt, Ký họa giọt mưa… Truyện ngắn có Một, hai ba và bốn, Móng tay vầng trăng khuyết, Tiếng chuông trôi trên sông… Chính truyện ngắn Tiếng chuông trôi trên sông hơn hai mươi năm trước đã làm nên tên tuổi của anh ở tuổi ba mươi, qua cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân Đội. Và, sau đó anh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam trẻ nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long lúc bấy giờ. Truyện ngắn này đã được chuyển thể thành phim cùng tên do nữ Nghệ sĩ Nhân dân Kim Xuân thủ vai chính.

Anh có hơn hai mươi năm công tác biên tập cho Tạp chí Văn nghệ Bến Tre, (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Hàm Luông – Bến Tre) từng có nhiều nhiệm kỳ là Ủy viên hội đồng Văn xuôi và Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam rồi Trưởng Chi nhánh Tây Nam Bộ của Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Trong tập thơ này anh chọn đúng năm mươi bài. Trong đó có chín bài đoản khúc được đánh số, từ số năm đến số mười bốn. Đây là tập thơ thứ ba của anh sau tập Tháp bụi và tập Người phương Nam.

Anh thành danh cả truyện ngắn lẫn thơ. Thi phẩm Người phương Nam của anh được lưu giữ ở Phòng Văn học Ban văn nghệ của Đài tiếng nói Việt Nam hơn mười năm qua. Thỉnh thoảng được phát lại trong chương trình Tiếng thơ do nghệ sĩ Văn Chương diễn ngâm. Người phương Nam được xem là bài thơ khắc họa về tính cách, tâm tư, tình cảm của người Nam Bộ rõ nét nhất. Và tác phẩm này cũng được đưa vào giảng dạy phần văn học địa phương ở Bến Tre, nên càng có nhiều đối tượng bạn đọc biết tới. Đọc bài thơ Người phương Nam tôi lại liên tưởng rằng Vũ Hồng sáng tác tác phẩm ấy như đi dạo ngoài vườn hoa rồi nhẹ nhàng, thư thái với tay ngắt cành hoa tặng cho bạn đọc vậy. Bởi với tài hoa và khí chất hào hiệp, ngang tàng của Vũ Hồng rất “người phương Nam”:

Trăng phương Nam như tan trong sương
Người phương Nam cạn chén hồ trường
Từ giã kinh kỳ bạc lau lách
Đuổi thú hung tàn dạt biển Đông…

Người phương Nam đi thì cứ đi
Một chiếc ghe con có sá gì
Đời lắm phong trần nên lỡ hẹn
Không cần danh vị, bỏ vinh quy…

Hay với một khổ khác:

Người phương Nam say thì say trọn
Người phương Nam buồn thì buồn sâu
Nỗi nhớ cố hương còn chếnh choáng
Văng vẳng ầu ơ… giọng ví dầu

Thơ Vũ Hồng về sau dần “chảy xuôi” theo hướng trường phái thơ hiện đại. Khác với lúc đầu nhiều bài thơ của anh mang phong vị cổ thi, như bài Người phương Nam và nhất là những bài lục bát:

Trải qua mấy độ thu tàn
Ai đem sương giá rắc ngang lưng trời
Nỗi Hầu Vương, xót lệ rơi
Ngũ Hành Sơn ấy – bể đời trần luân
Tiếc cho một thuở tung hoành
Tự do giữa cõi non xanh sá gì
Mắc lời lừa dối từ bi
Để giờ ôm đá xanh rì cỏ rêu
(Tâm sự hầu vương).

Hay ở trường hợp khác:

Rượu chiều đón giá tịch liêu
Thẩn thờ vòm táo buồn hiu giữa trời
Cớ sao không nói một lời
Hồn như gần lắm cõi đời hoang sơ

Bạn về dệt trọn kiếp thơ
Thân tâm nhả kén mù mờ nhân gian
Thì thôi rượu cứ chảy tràn
Tay run, gió thoảng bóng nàng chìm đâu…
(Viết ở quán Cây Táo)

Trong cuộc sống anh là người quảng giao, cởi mở, xề xòa. Tuy nhiên, trong thơ anh rất chắt chiu, kỹ tính chưng cất từng con chữ như giọt rượu quí rót ra, ngõ hầu mang đến cho mọi người thưởng thức. Giọng thơ anh từ tốn, chậm rãi, trầm tích tính nhân văn dễ chạm đến trái tim người đọc đến ám ảnh, bồi hồi:

Ngoài phố
Rơi tiếng chim non
Đói lả

Hắn đến khu vườn lạ
Khẩu súng săn
– và hắn ra đi

Nửa đêm trở giấc
Tiếng chim lâm ly
Mất mẹ

Bên nhà khe khẽ
Vợ hắn cầu kinh
(Tiếng chim lạc loài)

Thơ kiệm ngôn và không giãi bày. Như thế mới khiến cho người đọc phải cùng tác giả “sáng tác thêm”. Như một thi hào Pháp đã từng bảo: “Tôi làm thơ chỉ làm một nửa, một nửa để độc giả làm”. Thơ của anh là thứ thơ để đọc chầm chậm bằng trái tim chứ không phải để đọc bằng mắt. Khi ngồi ở giảng đường đại học anh học chuyên sâu về ngữ âm học, nên anh bao giờ cũng chủ động tổ chức ngôn từ cho thơ có tiết điệu, nhạc tính du dương. Dù là thơ tự do hay thơ văn xuôi. Cũng như thơ lục bát của anh cũng không hề có những chữ bị ép vận.

Vũ Hồng thơ cũng như văn tuy người đọc không bắt gặp nhiều tứ lạ, song ý và tình thì vô cùng chan chứa. Đặc biệt đều có giọng sang trọng như nhà văn Đỗ Chu từng khen ngợi, khiến cho người đọc hình dung ra một tài tử hào hoa, lịch lãm điều đó cũng không sai:

Tiễn bạn chiều vàng rơi bến sông
Người đi hồ hải cõi non bồng
Ngàn lau tóc trắng hong sương khói
Nhà có buồn tênh, ai ngóng trong
(Tiễn bạn)

Hay ở trường hợp khác, cảnh huống khác giọng thơ buồn buồn nhưng không kém sang trọng khi đề tặng Kim Ba:

Đêm quê trăng thức đầu thềm
Căn nhà nhỏ nép bên triền sông con
Bóng người đốt rạ héo hon
Như đàn dế cũ nỉ non chân đồng…

Chuông chùa xa giọt trầm buông
Mấy vì sao mảnh rơi lòn mái quê
Thì thôi khói rạ tái tê
Lim dim làng mạc bốn bề quạnh hiu…
(Đêm quê)

Tuy nhiên, bên cạnh, Vũ Hồng cũng có những câu thơ ngồ ngộ, khiến người đọc vò đầu bứt tóc. Chẳng hạn như: “Ô hô, dòng sông sinh thành/Ô hô, dòng ông hùng anh…”. Hay: “… Cắm câu mò cá tình đầu…”

Nếu đúng là thơ thì bao giờ cũng có độ ngân – Ngân lên tiết điệu, đa tầng, đa nghĩa khiến cho người đọc bị ám ảnh, bâng khuâng một cách ngọt ngào, thú vị. Thế nên có viết mãi cũng không cùng. Lại tập thơ Đoản khúc số 8 của Vũ Hồng đến những năm mươi bài, mà viết cho cạn tỏ là điều khó mà đạt tới sự mong muốn của tác giả lẫn bạn đọc. Bên cạnh còn tùy vào giác độ của từng người cảm thụ, tiếp cận ở giác độ khác nhau.

Đoản khúc số 8 của Vũ Hồng không có những tác phẩm “còn trinh” (chữ của Huy Cận) nhằm thỏa mãn sự chờ đợi của bạn đọc. Hầu hết anh tuyển chọn những bài thơ của những tập thơ trước. Tiếc quá! Chẳng lẽ anh tắt tỵ lâu đến vậy chăng? Nhưng không, mấy năm trước, sau khi đi Hàn Quốc về anh có đăng nhiều bài thơ theo thể… ký sự, đọc cũng thấy là lạ, thích thích.

P.B.A.T

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm