TIN TỨC

Vũ Hồng ngân lên Đoản khúc số 8

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-09-24 11:36:40
mail facebook google pos stwis
4473 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Mấy năm trước, nhà văn Vũ Hồng ra mắt tập thơ với tựa đề mang ý tưởng rất lạ và thú vị, dễ gây sự tò mò cho bạn đọc: Đoản khúc số 8. Lại còn chọn khổ tập thơ 19x19cm, khá ngộ nghĩnh. Suy cho cùng đây thường là cái tạng của người nghệ sĩ đa tài khi đặt tựa dù là truyện ngắn hay thơ. Bởi “Nghệ thuật là không lặp lại chính mình và không lặp lại của người khác”. Ai đó đã từng nói như thế.

Nhà văn Vũ Hồng

Tựa thơ anh có Bài ca trái ớt, Ký họa giọt mưa… Truyện ngắn có Một, hai ba và bốn, Móng tay vầng trăng khuyết, Tiếng chuông trôi trên sông… Chính truyện ngắn Tiếng chuông trôi trên sông hơn hai mươi năm trước đã làm nên tên tuổi của anh ở tuổi ba mươi, qua cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân Đội. Và, sau đó anh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam trẻ nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long lúc bấy giờ. Truyện ngắn này đã được chuyển thể thành phim cùng tên do nữ Nghệ sĩ Nhân dân Kim Xuân thủ vai chính.

Anh có hơn hai mươi năm công tác biên tập cho Tạp chí Văn nghệ Bến Tre, (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Hàm Luông – Bến Tre) từng có nhiều nhiệm kỳ là Ủy viên hội đồng Văn xuôi và Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam rồi Trưởng Chi nhánh Tây Nam Bộ của Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Trong tập thơ này anh chọn đúng năm mươi bài. Trong đó có chín bài đoản khúc được đánh số, từ số năm đến số mười bốn. Đây là tập thơ thứ ba của anh sau tập Tháp bụi và tập Người phương Nam.

Anh thành danh cả truyện ngắn lẫn thơ. Thi phẩm Người phương Nam của anh được lưu giữ ở Phòng Văn học Ban văn nghệ của Đài tiếng nói Việt Nam hơn mười năm qua. Thỉnh thoảng được phát lại trong chương trình Tiếng thơ do nghệ sĩ Văn Chương diễn ngâm. Người phương Nam được xem là bài thơ khắc họa về tính cách, tâm tư, tình cảm của người Nam Bộ rõ nét nhất. Và tác phẩm này cũng được đưa vào giảng dạy phần văn học địa phương ở Bến Tre, nên càng có nhiều đối tượng bạn đọc biết tới. Đọc bài thơ Người phương Nam tôi lại liên tưởng rằng Vũ Hồng sáng tác tác phẩm ấy như đi dạo ngoài vườn hoa rồi nhẹ nhàng, thư thái với tay ngắt cành hoa tặng cho bạn đọc vậy. Bởi với tài hoa và khí chất hào hiệp, ngang tàng của Vũ Hồng rất “người phương Nam”:

Trăng phương Nam như tan trong sương
Người phương Nam cạn chén hồ trường
Từ giã kinh kỳ bạc lau lách
Đuổi thú hung tàn dạt biển Đông…

Người phương Nam đi thì cứ đi
Một chiếc ghe con có sá gì
Đời lắm phong trần nên lỡ hẹn
Không cần danh vị, bỏ vinh quy…

Hay với một khổ khác:

Người phương Nam say thì say trọn
Người phương Nam buồn thì buồn sâu
Nỗi nhớ cố hương còn chếnh choáng
Văng vẳng ầu ơ… giọng ví dầu

Thơ Vũ Hồng về sau dần “chảy xuôi” theo hướng trường phái thơ hiện đại. Khác với lúc đầu nhiều bài thơ của anh mang phong vị cổ thi, như bài Người phương Nam và nhất là những bài lục bát:

Trải qua mấy độ thu tàn
Ai đem sương giá rắc ngang lưng trời
Nỗi Hầu Vương, xót lệ rơi
Ngũ Hành Sơn ấy – bể đời trần luân
Tiếc cho một thuở tung hoành
Tự do giữa cõi non xanh sá gì
Mắc lời lừa dối từ bi
Để giờ ôm đá xanh rì cỏ rêu
(Tâm sự hầu vương).

Hay ở trường hợp khác:

Rượu chiều đón giá tịch liêu
Thẩn thờ vòm táo buồn hiu giữa trời
Cớ sao không nói một lời
Hồn như gần lắm cõi đời hoang sơ

Bạn về dệt trọn kiếp thơ
Thân tâm nhả kén mù mờ nhân gian
Thì thôi rượu cứ chảy tràn
Tay run, gió thoảng bóng nàng chìm đâu…
(Viết ở quán Cây Táo)

Trong cuộc sống anh là người quảng giao, cởi mở, xề xòa. Tuy nhiên, trong thơ anh rất chắt chiu, kỹ tính chưng cất từng con chữ như giọt rượu quí rót ra, ngõ hầu mang đến cho mọi người thưởng thức. Giọng thơ anh từ tốn, chậm rãi, trầm tích tính nhân văn dễ chạm đến trái tim người đọc đến ám ảnh, bồi hồi:

Ngoài phố
Rơi tiếng chim non
Đói lả

Hắn đến khu vườn lạ
Khẩu súng săn
– và hắn ra đi

Nửa đêm trở giấc
Tiếng chim lâm ly
Mất mẹ

Bên nhà khe khẽ
Vợ hắn cầu kinh
(Tiếng chim lạc loài)

Thơ kiệm ngôn và không giãi bày. Như thế mới khiến cho người đọc phải cùng tác giả “sáng tác thêm”. Như một thi hào Pháp đã từng bảo: “Tôi làm thơ chỉ làm một nửa, một nửa để độc giả làm”. Thơ của anh là thứ thơ để đọc chầm chậm bằng trái tim chứ không phải để đọc bằng mắt. Khi ngồi ở giảng đường đại học anh học chuyên sâu về ngữ âm học, nên anh bao giờ cũng chủ động tổ chức ngôn từ cho thơ có tiết điệu, nhạc tính du dương. Dù là thơ tự do hay thơ văn xuôi. Cũng như thơ lục bát của anh cũng không hề có những chữ bị ép vận.

Vũ Hồng thơ cũng như văn tuy người đọc không bắt gặp nhiều tứ lạ, song ý và tình thì vô cùng chan chứa. Đặc biệt đều có giọng sang trọng như nhà văn Đỗ Chu từng khen ngợi, khiến cho người đọc hình dung ra một tài tử hào hoa, lịch lãm điều đó cũng không sai:

Tiễn bạn chiều vàng rơi bến sông
Người đi hồ hải cõi non bồng
Ngàn lau tóc trắng hong sương khói
Nhà có buồn tênh, ai ngóng trong
(Tiễn bạn)

Hay ở trường hợp khác, cảnh huống khác giọng thơ buồn buồn nhưng không kém sang trọng khi đề tặng Kim Ba:

Đêm quê trăng thức đầu thềm
Căn nhà nhỏ nép bên triền sông con
Bóng người đốt rạ héo hon
Như đàn dế cũ nỉ non chân đồng…

Chuông chùa xa giọt trầm buông
Mấy vì sao mảnh rơi lòn mái quê
Thì thôi khói rạ tái tê
Lim dim làng mạc bốn bề quạnh hiu…
(Đêm quê)

Tuy nhiên, bên cạnh, Vũ Hồng cũng có những câu thơ ngồ ngộ, khiến người đọc vò đầu bứt tóc. Chẳng hạn như: “Ô hô, dòng sông sinh thành/Ô hô, dòng ông hùng anh…”. Hay: “… Cắm câu mò cá tình đầu…”

Nếu đúng là thơ thì bao giờ cũng có độ ngân – Ngân lên tiết điệu, đa tầng, đa nghĩa khiến cho người đọc bị ám ảnh, bâng khuâng một cách ngọt ngào, thú vị. Thế nên có viết mãi cũng không cùng. Lại tập thơ Đoản khúc số 8 của Vũ Hồng đến những năm mươi bài, mà viết cho cạn tỏ là điều khó mà đạt tới sự mong muốn của tác giả lẫn bạn đọc. Bên cạnh còn tùy vào giác độ của từng người cảm thụ, tiếp cận ở giác độ khác nhau.

Đoản khúc số 8 của Vũ Hồng không có những tác phẩm “còn trinh” (chữ của Huy Cận) nhằm thỏa mãn sự chờ đợi của bạn đọc. Hầu hết anh tuyển chọn những bài thơ của những tập thơ trước. Tiếc quá! Chẳng lẽ anh tắt tỵ lâu đến vậy chăng? Nhưng không, mấy năm trước, sau khi đi Hàn Quốc về anh có đăng nhiều bài thơ theo thể… ký sự, đọc cũng thấy là lạ, thích thích.

P.B.A.T

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm