TIN TỨC

Thời đương đại nghe lời thơ lục bát ru tình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-24 08:45:04
mail facebook google pos stwis
1108 lượt xem

Bằng cảm quan nhạy bén của một người đọc thơ và nghiên cứu văn chương, tiến sĩ Hà Thanh Vân đã có bài viết tinh tế về tập thơ Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau – tập thơ thứ ba của nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên, hội viên Hội Nhà văn TP. HCM, vừa ra mắt bạn đọc vào sáng 22/6/2025.

Chọn thể thơ lục bát – thể thơ truyền thống tưởng chừng cũ kỹ – Diễm Thuyên không làm cách tân hình thức, mà thổi vào đó một ngữ khí mới, chất liệu đời thường, nhịp điệu nữ tính hiện đại, để thơ vừa mềm mại vừa day dứt, vừa ru vừa rưng.

Diễm Thuyên không chỉ viết về tình yêu, mà còn khắc họa thân phận người phụ nữ đương thời – khao khát yêu, chủ động yêu, chịu đựng và bao dung, với tất cả sự mỏng manh và bản lĩnh. Bài viết của TS Hà Thanh Vân chỉ ra: dù thơ Diễm Thuyên có mượn giọng “ru” truyền thống hay ngôn ngữ “phi thơ” đời thường, thì điểm đến cuối cùng vẫn là tình cảm chân thành và vẻ đẹp nội tâm thầm thì của một người nữ làm thơ giữa đời sống hiện đại.

Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết này đến quý độc giả.
 

Tiến sĩ HÀ THANH VÂN

Người nữ làm thơ lục bát giữa lằn ranh truyền thống và hiện đại

Đoàn Thị Diễm Thuyên là một tác giả nữ đã gặt hái một số thành công trong lĩnh vực thơ ca. Cô sinh năm 1980, quê quán tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Hiện nay Diễm Thuyên làm biên kịch phim ở TPHCM. Cô là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre và là Hội viên Hội Nhà văn TPHCM.

Đoàn Thị Diễm Thuyên làm thơ từ khá sớm, khi mới 19 tuổi và đã có nhiều tác phẩm trong các tập thơ in chung. Nhưng khá lặng lẽ và kỹ lưỡng, cầu toàn với thơ ca, Diễm Thuyên chỉ mới cho ra mắt hai tập thơ “Để con về nhà hỏi má” (2017) và “Trời mưa cho ướt” (2018). Tuy vậy, khả năng văn chương của Đoàn Thị Diễm Thuyên đã được ghi nhận qua các giải thưởng như: Giải Ba cuộc thi Thơ Lục bát 2019 do Tập san Áo Trắng và Nhà xuất bản Trẻ tổ chức, giải Ba cuộc thi Thơ và Tạp bút “45 năm rực rỡ tên vàng” năm 2021 của Báo Người Lao Động, giải Tư cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất phương Nam” năm 2021, giải Ba cuộc thi thơ dành cho phụ nữ trên Tạp chí Lang Bian lần III năm 2022. Gần đây Diễm Thuyên nhận giải Nhì đồng hạng (không có giải Nhất) cuộc thi Thơ 1-2-3 năm 2025 do Trang Văn học Sài Gòn và Trang Nhịp sống Văn học tổ chức. Có thế mạnh ở thể thơ lục bát và bản thân cũng chọn lục bát là thể thơ yêu thích để sáng tác, năm 2025, Diễm Thuyên cho ra mắt độc giả tập thơ thứ ba mang tên “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” do NXB Hội Nhà văn ấn hành.

Theo lời của chính tác giả, tập thơ này có hai chủ đề: RU và MƯỢN, mà hàm ý của nó đã thể hiện ở ngay nhan đề của tập thơ. Chọn một thể thơ truyền thống, quen thuộc, dễ làm, nhưng lại khó làm cho hay, Đoàn Thị Diễm Thuyên đã tự thách thức chính mình. Thật ra thể thơ lục bát - một thể thơ dân tộc rất đặc trưng của Việt Nam - hoàn toàn có thể làm theo phong cách hiện đại, cách tân. Trên thực tế, nhiều nhà thơ đương đại của Việt Nam đã và đang thử nghiệm điều này. Có người thành công và cũng có người chưa gây được ấn tượng. Song điều quan trọng là những thể nghiệm đó chứng tỏ thơ lục bát vẫn có sức sống mãnh liệt và có vị trí quan trọng trong cảm hứng sáng tác, tư duy nghệ thuật của những nhà thơ đương đại.

Và Đoàn Thị Diễm Thuyên đã nỗ lực mang hơi thở mới mẻ của đời sống, tâm tư, tình cảm của con người đương đại để thổi hồn vào thể thơ lục bát truyền thống. Thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên mang đậm chất nữ tính, kết hợp giữa những yếu tố truyền thống và màu sắc hiện đại. Cô sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi nhưng không kém phần sâu sắc, thể hiện qua những hình ảnh đời thường và cảm xúc chân thành.

Giữ khung luật truyền thống nhưng làm mới nội dung theo kiểu “phi thơ” và phá cách ngôn từ

Đoàn Thị Diễm Thuyên giữ đúng niêm luật thơ lục bát truyền thống. Cô không phá cách lục bát như nhiều nhà thơ hiện đại, mà vẫn tôn trọng nhịp 2/2/2 hoặc 3/3, gieo vần bằng ở chữ 6, vần chân ở chữ 8. Điều này giúp thơ cô dễ đọc, dễ thuộc, gần với dân ca và ca dao.


Nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên và Tiến sĩ Hà Thanh Vân (phải)

Khi ra mắt tập thơ thứ ba “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau”, Đoàn Thị Diễm Thuyên đã chia tập thơ thành hai chủ đề, với hai phần rõ rệt. Phần một “Lục bát ru anh” gồm 34 bài, mỗi bài thơ đều được mang tên chung là “Ru anh” và đánh số thứ tự từ 1 đến 34. Phần hai là “Lục bát mượn” gồm 30 bài thơ thì trong nhan đề mỗi bài thơ đều có một chữ “mượn”. Chẳng hạn như “Cho em mượn một bờ vai”, “Cho em mượn thử lá gan”, “Cho em mượn cánh tay này”, “Cho em mượn chiếc răng khôn”… Có khá nhiều bài thơ lục bát của Diễm Thuyên đề cập đến việc mượn một bộ phận thân thể của nhân vật “anh”, từ bờ vai, bờ môi, vòng tay, máu tim, lá gan, ngón tay v.v… Sự độc đáo và khác lạ này có lẽ là bắt nguồn từ ý tưởng và cảm quan nghệ thuật của nhà thơ muốn thể hiện sự gắn bó, giao hòa giữa hai con người “em” và “anh”, trong đó nhân vật nữ xưng em là ở thế chủ động. Chủ động đến với tình yêu, chủ động vun đắp tình cảm, chủ động sống, chủ động gắn bó đời mình… để không hối tiếc vì đã sống như thế, cho dù ngày mai, ngày sau có thể là chia xa, ly biệt.

Cho em mượn một bờ vai

Tựa vào đêm tận rồi mai trả người.

(Cho em mượn một bờ vai)

Và:

Em mượn một chút rồi thôi

Cho qua cơn bão ngang đời em đang…

(Cho em mượn phía sau lưng)

Thơ lục bát có luật rất đặc trưng: dòng 6 và dòng 8, gieo vần lưng. Đoàn Thị Diễm Thuyên vẫn giữ khung luật này, thậm chí vẫn mượn một cảm hứng truyền thống là “lời ru”, nhưng thổi hồn tình cảm vào thành “lời ru anh”. Từ đó nhà thơ viết về những đề tài hiện đại như: chuyện kinh doanh, chiến tranh hờn ghen tinh thần, thời đại số hóa, sự cô đơn hiện sinh, những bi hài trong đời sống thường nhật, chút vô thường Phật giáo… tất cả được lồng ghép trong những lời ru tình yêu dành cho đối tượng “anh” như một cách tạo ra những nghịch lý thơ rất thú vị:

Em trở lại là “đàn bà”

Để mong anh trở lại là “đàn ông”

Thế mà sắc sắc không không

Em ru anh giữa đêm đông buốt lời

(Ru anh 16)

Hay:

Ru anh lòng bớt nhỏ nhen

Từ khi vườn mộng biết ghen úa tàn.

(Ru anh 18)

Nhưng tất cả những đề tài hiện đại ấy đều in đậm dấu ấn đời thường và cảm xúc cá nhân của nhà thơ về tình yêu nam nữ, đặc biệt là những tình cảm gian truân, dang dở, từ đó vẽ nên thân phận người phụ nữ: chịu thương, chịu khó, cam chịu nhưng cũng đầy bản lĩnh và nhân hậu, bao dung. Những trăn trở nội tâm như nỗi cô đơn, mất mát, khát vọng yêu thương và được thấu hiểu được gửi gắm vào những lời ru anh như là những ước nguyện.

Dùng từ ngữ đời thường và đưa những chất liệu “phi thơ” vào là cách để nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên lạ hóa tác phẩm của mình. Cho nên mới có những câu lục bát với những thuật ngữ rất “kinh tế thị trường” như:

- Cho anh mượn “Quỹ niềm tin”

“Đầu tư nhanh” chỗ cuộc tình còn non

- Chỉ e quỹ rót rất giòn

Mà em hụt vốn lại còn nợ hoang?

(Cho anh mượn cả niềm tin)

Nhưng dù có “phi thơ” như thế, thì điểm đến cuối cùng vẫn là tình yêu, là sự gắn kết:

Nếu vốn của anh là… em

Tụi mình nhập lại là thêm… lãi ròng.

(Cho em mượn vốn để dành)

Thế nên cho dù có cách tân hay đổi mới ngôn từ, thì cảm xúc của Diễm Thuyên vẫn trước sau như một: cảm xúc yêu thương mê đắm và hết mình vì tình yêu.

“Tự sự đời sống” trong từng câu lục bát

Tính chất “tự sự đời sống” thể hiện khá rõ trong thơ của Diễm Thuyên. Thơ cô không quá mang nặng tính triết lý hay biểu tượng. Thay vào đó, nó giống như nhật ký bằng thơ, đầy ắp chất tự sự nhẹ nhàng, đôi khi là tâm sự nhỏ nhẹ, đôi khi là tiếng lòng bật khóc không lời, thông qua những lời ru dịu dàng. Nhiều câu thơ thể hiện sự tinh tế trong cách diễn đạt cảm xúc, sử dụng hình ảnh quen thuộc để nói về tình yêu và sự chia ly. Phong cách của cô không chỉ giữ được nét truyền thống của thể thơ lục bát mà còn mang hơi thở hiện đại, phản ánh tâm hồn và suy nghĩ của người phụ nữ trong xã hội đương đại.​ Thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên là một sự kết tinh giữa vẻ đẹp truyền thống mang màu sắc văn hóa dân gian Nam Bộ và cảm quan hiện đại, cá nhân hóa của người sáng tác, như những câu thơ sau:

Em mượn để cười du côn

Cù nhây một trận vô ngôn hữu hình

Trả anh vết cắn bội tình

Để cho khôn dại của mình huề nhau…

(Cho em mượn chiếc răng khôn)

Ngôn từ rất giản dị nhưng đau đáu nỗi niềm, cho thấy khả năng chắt lọc xúc cảm sắc sảo. Ngôn ngữ thơ Diễm Thuyên mộc mạc, thuần Việt, mang phong vị Nam Bộ. Diễm Thuyên chọn lối viết tự nhiên, không kiểu cách, không cầu kỳ. Đây là điều làm nên bản sắc riêng của tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau”. Nhà thơ dùng những hình ảnh quen thuộc và không ngại đưa vào thơ những cụm từ đời sống, khẩu ngữ, thậm chí hơi... dân gian, dân dã một chút.

Ví như thương nhớ chết chìm

Xin đừng trục vớt kiếm tìm làm chi…

(Ru anh 28)

Ngôn ngữ thơ bình dân, đại chúng nhưng ẩn chứa một sức biểu đạt cảm xúc rất mãnh liệt. Trong thơ Diễm Thuyên, câu lục bát ngắn mà nặng, nhiều câu mang lại dư ba sâu lắng. Đặc biệt là cô biết “giấu nước mắt” dưới bề mặt từ ngữ, gợi nhiều hơn tả với sự nhấn nhá từ ngữ ấn tượng.

Buồn lơ lửng buồn ngẩn ngơ

Buồn trầy trật buồn vật vờ buồn tênh

Ru anh buồn rất tênh hênh

Lõa lồ cái chỗ chênh vênh rất buồn.

(Ru anh 10)

Tuy vẫn tuân theo niêm luật, nhưng Diễm Thuyên biết nhấn ở đúng chỗ để tạo điểm rơi cảm xúc, thường là ở những câu 8, hoặc dùng câu kết để lật ý, hoặc tạo sự đứt mạch cảm xúc nhẹ, khiến người đọc có biến đổi cảm xúc. Sự biến tấu linh hoạt và nhấn nhá tạo ra một giọng điệu thơ dịu dàng, tha thiết, giàu nữ tính. Thơ RU và MƯỢN của Diễm Thuyên giống như lời của một người phụ nữ Nam Bộ tâm tình thủ thỉ, đầy yêu thương nhưng không thiếu uẩn ức, phức tạp. Có lúc tha thiết như một câu ru, có lúc rưng rức như tiếng khóc, nhưng đều rất chân thành. Thơ Diễm Thuyên thường không lên gân, không “cường điệu hóa cảm xúc” như một số cây bút hiện nay, mà đặt mình giữa truyền thống và hiện đại. Dùng hình thức truyền thống, nhưng lại viết về tâm sự của con người thời hiện đại: một người phụ nữ làm nghề biên kịch, sống ở thành phố, có quá khứ quê nghèo và trái tim luôn "trôi ngược về phía yêu thương". Thơ Diễm Thuyên vì thế chênh vênh giữa lằn ranh cổ và kim, giữa quá vãng và hiện tại, giữa chân quê và thành thị. Tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” cho thấy một phong cách thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên với nội dung chứa chan tình cảm, đầy tính nữ. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, đậm chất Nam Bộ, gần với khẩu ngữ. Vần và nhịp thơ giữ đúng luật lục bát, mềm mại, có điểm rơi cảm xúc. Giọng điệu thơ tha thiết, sâu lắng, nhẹ nhàng mà ám ảnh. Đồng thời tập thơ vẫn mang một sắc thái hiện đại là viết cho đời sống hôm nay bằng “giọng nói cổ kim kết hợp” của thơ.

Tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” đúng như tên gọi, là những bài thơ không gào thét, không gồng gượng, mà thầm thì, thì thầm, tạo nên một chất thơ thủ thỉ như tiếng nói của lòng mình với lòng người. Chính điều đó khiến nhiều bài thơ của Diễm Thuyên có thể đọc thành tiếng, đọc trong lòng, hoặc để lại trong trí nhớ như một bài hát không giai điệu. Bởi lẽ bất cứ ai trong số chúng ta cũng từng yêu, từng cần tình yêu, từng hạnh phúc hay đau khổ vì yêu và có thể thấy thấp thoáng bóng mình qua một vài câu thơ của Diễm Thuyên trong tập thơ này.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm