TIN TỨC

Thời đương đại nghe lời thơ lục bát ru tình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-24 08:45:04
mail facebook google pos stwis
1141 lượt xem

Bằng cảm quan nhạy bén của một người đọc thơ và nghiên cứu văn chương, tiến sĩ Hà Thanh Vân đã có bài viết tinh tế về tập thơ Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau – tập thơ thứ ba của nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên, hội viên Hội Nhà văn TP. HCM, vừa ra mắt bạn đọc vào sáng 22/6/2025.

Chọn thể thơ lục bát – thể thơ truyền thống tưởng chừng cũ kỹ – Diễm Thuyên không làm cách tân hình thức, mà thổi vào đó một ngữ khí mới, chất liệu đời thường, nhịp điệu nữ tính hiện đại, để thơ vừa mềm mại vừa day dứt, vừa ru vừa rưng.

Diễm Thuyên không chỉ viết về tình yêu, mà còn khắc họa thân phận người phụ nữ đương thời – khao khát yêu, chủ động yêu, chịu đựng và bao dung, với tất cả sự mỏng manh và bản lĩnh. Bài viết của TS Hà Thanh Vân chỉ ra: dù thơ Diễm Thuyên có mượn giọng “ru” truyền thống hay ngôn ngữ “phi thơ” đời thường, thì điểm đến cuối cùng vẫn là tình cảm chân thành và vẻ đẹp nội tâm thầm thì của một người nữ làm thơ giữa đời sống hiện đại.

Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết này đến quý độc giả.
 

Tiến sĩ HÀ THANH VÂN

Người nữ làm thơ lục bát giữa lằn ranh truyền thống và hiện đại

Đoàn Thị Diễm Thuyên là một tác giả nữ đã gặt hái một số thành công trong lĩnh vực thơ ca. Cô sinh năm 1980, quê quán tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Hiện nay Diễm Thuyên làm biên kịch phim ở TPHCM. Cô là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre và là Hội viên Hội Nhà văn TPHCM.

Đoàn Thị Diễm Thuyên làm thơ từ khá sớm, khi mới 19 tuổi và đã có nhiều tác phẩm trong các tập thơ in chung. Nhưng khá lặng lẽ và kỹ lưỡng, cầu toàn với thơ ca, Diễm Thuyên chỉ mới cho ra mắt hai tập thơ “Để con về nhà hỏi má” (2017) và “Trời mưa cho ướt” (2018). Tuy vậy, khả năng văn chương của Đoàn Thị Diễm Thuyên đã được ghi nhận qua các giải thưởng như: Giải Ba cuộc thi Thơ Lục bát 2019 do Tập san Áo Trắng và Nhà xuất bản Trẻ tổ chức, giải Ba cuộc thi Thơ và Tạp bút “45 năm rực rỡ tên vàng” năm 2021 của Báo Người Lao Động, giải Tư cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất phương Nam” năm 2021, giải Ba cuộc thi thơ dành cho phụ nữ trên Tạp chí Lang Bian lần III năm 2022. Gần đây Diễm Thuyên nhận giải Nhì đồng hạng (không có giải Nhất) cuộc thi Thơ 1-2-3 năm 2025 do Trang Văn học Sài Gòn và Trang Nhịp sống Văn học tổ chức. Có thế mạnh ở thể thơ lục bát và bản thân cũng chọn lục bát là thể thơ yêu thích để sáng tác, năm 2025, Diễm Thuyên cho ra mắt độc giả tập thơ thứ ba mang tên “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” do NXB Hội Nhà văn ấn hành.

Theo lời của chính tác giả, tập thơ này có hai chủ đề: RU và MƯỢN, mà hàm ý của nó đã thể hiện ở ngay nhan đề của tập thơ. Chọn một thể thơ truyền thống, quen thuộc, dễ làm, nhưng lại khó làm cho hay, Đoàn Thị Diễm Thuyên đã tự thách thức chính mình. Thật ra thể thơ lục bát - một thể thơ dân tộc rất đặc trưng của Việt Nam - hoàn toàn có thể làm theo phong cách hiện đại, cách tân. Trên thực tế, nhiều nhà thơ đương đại của Việt Nam đã và đang thử nghiệm điều này. Có người thành công và cũng có người chưa gây được ấn tượng. Song điều quan trọng là những thể nghiệm đó chứng tỏ thơ lục bát vẫn có sức sống mãnh liệt và có vị trí quan trọng trong cảm hứng sáng tác, tư duy nghệ thuật của những nhà thơ đương đại.

Và Đoàn Thị Diễm Thuyên đã nỗ lực mang hơi thở mới mẻ của đời sống, tâm tư, tình cảm của con người đương đại để thổi hồn vào thể thơ lục bát truyền thống. Thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên mang đậm chất nữ tính, kết hợp giữa những yếu tố truyền thống và màu sắc hiện đại. Cô sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi nhưng không kém phần sâu sắc, thể hiện qua những hình ảnh đời thường và cảm xúc chân thành.

Giữ khung luật truyền thống nhưng làm mới nội dung theo kiểu “phi thơ” và phá cách ngôn từ

Đoàn Thị Diễm Thuyên giữ đúng niêm luật thơ lục bát truyền thống. Cô không phá cách lục bát như nhiều nhà thơ hiện đại, mà vẫn tôn trọng nhịp 2/2/2 hoặc 3/3, gieo vần bằng ở chữ 6, vần chân ở chữ 8. Điều này giúp thơ cô dễ đọc, dễ thuộc, gần với dân ca và ca dao.


Nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên và Tiến sĩ Hà Thanh Vân (phải)

Khi ra mắt tập thơ thứ ba “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau”, Đoàn Thị Diễm Thuyên đã chia tập thơ thành hai chủ đề, với hai phần rõ rệt. Phần một “Lục bát ru anh” gồm 34 bài, mỗi bài thơ đều được mang tên chung là “Ru anh” và đánh số thứ tự từ 1 đến 34. Phần hai là “Lục bát mượn” gồm 30 bài thơ thì trong nhan đề mỗi bài thơ đều có một chữ “mượn”. Chẳng hạn như “Cho em mượn một bờ vai”, “Cho em mượn thử lá gan”, “Cho em mượn cánh tay này”, “Cho em mượn chiếc răng khôn”… Có khá nhiều bài thơ lục bát của Diễm Thuyên đề cập đến việc mượn một bộ phận thân thể của nhân vật “anh”, từ bờ vai, bờ môi, vòng tay, máu tim, lá gan, ngón tay v.v… Sự độc đáo và khác lạ này có lẽ là bắt nguồn từ ý tưởng và cảm quan nghệ thuật của nhà thơ muốn thể hiện sự gắn bó, giao hòa giữa hai con người “em” và “anh”, trong đó nhân vật nữ xưng em là ở thế chủ động. Chủ động đến với tình yêu, chủ động vun đắp tình cảm, chủ động sống, chủ động gắn bó đời mình… để không hối tiếc vì đã sống như thế, cho dù ngày mai, ngày sau có thể là chia xa, ly biệt.

Cho em mượn một bờ vai

Tựa vào đêm tận rồi mai trả người.

(Cho em mượn một bờ vai)

Và:

Em mượn một chút rồi thôi

Cho qua cơn bão ngang đời em đang…

(Cho em mượn phía sau lưng)

Thơ lục bát có luật rất đặc trưng: dòng 6 và dòng 8, gieo vần lưng. Đoàn Thị Diễm Thuyên vẫn giữ khung luật này, thậm chí vẫn mượn một cảm hứng truyền thống là “lời ru”, nhưng thổi hồn tình cảm vào thành “lời ru anh”. Từ đó nhà thơ viết về những đề tài hiện đại như: chuyện kinh doanh, chiến tranh hờn ghen tinh thần, thời đại số hóa, sự cô đơn hiện sinh, những bi hài trong đời sống thường nhật, chút vô thường Phật giáo… tất cả được lồng ghép trong những lời ru tình yêu dành cho đối tượng “anh” như một cách tạo ra những nghịch lý thơ rất thú vị:

Em trở lại là “đàn bà”

Để mong anh trở lại là “đàn ông”

Thế mà sắc sắc không không

Em ru anh giữa đêm đông buốt lời

(Ru anh 16)

Hay:

Ru anh lòng bớt nhỏ nhen

Từ khi vườn mộng biết ghen úa tàn.

(Ru anh 18)

Nhưng tất cả những đề tài hiện đại ấy đều in đậm dấu ấn đời thường và cảm xúc cá nhân của nhà thơ về tình yêu nam nữ, đặc biệt là những tình cảm gian truân, dang dở, từ đó vẽ nên thân phận người phụ nữ: chịu thương, chịu khó, cam chịu nhưng cũng đầy bản lĩnh và nhân hậu, bao dung. Những trăn trở nội tâm như nỗi cô đơn, mất mát, khát vọng yêu thương và được thấu hiểu được gửi gắm vào những lời ru anh như là những ước nguyện.

Dùng từ ngữ đời thường và đưa những chất liệu “phi thơ” vào là cách để nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên lạ hóa tác phẩm của mình. Cho nên mới có những câu lục bát với những thuật ngữ rất “kinh tế thị trường” như:

- Cho anh mượn “Quỹ niềm tin”

“Đầu tư nhanh” chỗ cuộc tình còn non

- Chỉ e quỹ rót rất giòn

Mà em hụt vốn lại còn nợ hoang?

(Cho anh mượn cả niềm tin)

Nhưng dù có “phi thơ” như thế, thì điểm đến cuối cùng vẫn là tình yêu, là sự gắn kết:

Nếu vốn của anh là… em

Tụi mình nhập lại là thêm… lãi ròng.

(Cho em mượn vốn để dành)

Thế nên cho dù có cách tân hay đổi mới ngôn từ, thì cảm xúc của Diễm Thuyên vẫn trước sau như một: cảm xúc yêu thương mê đắm và hết mình vì tình yêu.

“Tự sự đời sống” trong từng câu lục bát

Tính chất “tự sự đời sống” thể hiện khá rõ trong thơ của Diễm Thuyên. Thơ cô không quá mang nặng tính triết lý hay biểu tượng. Thay vào đó, nó giống như nhật ký bằng thơ, đầy ắp chất tự sự nhẹ nhàng, đôi khi là tâm sự nhỏ nhẹ, đôi khi là tiếng lòng bật khóc không lời, thông qua những lời ru dịu dàng. Nhiều câu thơ thể hiện sự tinh tế trong cách diễn đạt cảm xúc, sử dụng hình ảnh quen thuộc để nói về tình yêu và sự chia ly. Phong cách của cô không chỉ giữ được nét truyền thống của thể thơ lục bát mà còn mang hơi thở hiện đại, phản ánh tâm hồn và suy nghĩ của người phụ nữ trong xã hội đương đại.​ Thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên là một sự kết tinh giữa vẻ đẹp truyền thống mang màu sắc văn hóa dân gian Nam Bộ và cảm quan hiện đại, cá nhân hóa của người sáng tác, như những câu thơ sau:

Em mượn để cười du côn

Cù nhây một trận vô ngôn hữu hình

Trả anh vết cắn bội tình

Để cho khôn dại của mình huề nhau…

(Cho em mượn chiếc răng khôn)

Ngôn từ rất giản dị nhưng đau đáu nỗi niềm, cho thấy khả năng chắt lọc xúc cảm sắc sảo. Ngôn ngữ thơ Diễm Thuyên mộc mạc, thuần Việt, mang phong vị Nam Bộ. Diễm Thuyên chọn lối viết tự nhiên, không kiểu cách, không cầu kỳ. Đây là điều làm nên bản sắc riêng của tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau”. Nhà thơ dùng những hình ảnh quen thuộc và không ngại đưa vào thơ những cụm từ đời sống, khẩu ngữ, thậm chí hơi... dân gian, dân dã một chút.

Ví như thương nhớ chết chìm

Xin đừng trục vớt kiếm tìm làm chi…

(Ru anh 28)

Ngôn ngữ thơ bình dân, đại chúng nhưng ẩn chứa một sức biểu đạt cảm xúc rất mãnh liệt. Trong thơ Diễm Thuyên, câu lục bát ngắn mà nặng, nhiều câu mang lại dư ba sâu lắng. Đặc biệt là cô biết “giấu nước mắt” dưới bề mặt từ ngữ, gợi nhiều hơn tả với sự nhấn nhá từ ngữ ấn tượng.

Buồn lơ lửng buồn ngẩn ngơ

Buồn trầy trật buồn vật vờ buồn tênh

Ru anh buồn rất tênh hênh

Lõa lồ cái chỗ chênh vênh rất buồn.

(Ru anh 10)

Tuy vẫn tuân theo niêm luật, nhưng Diễm Thuyên biết nhấn ở đúng chỗ để tạo điểm rơi cảm xúc, thường là ở những câu 8, hoặc dùng câu kết để lật ý, hoặc tạo sự đứt mạch cảm xúc nhẹ, khiến người đọc có biến đổi cảm xúc. Sự biến tấu linh hoạt và nhấn nhá tạo ra một giọng điệu thơ dịu dàng, tha thiết, giàu nữ tính. Thơ RU và MƯỢN của Diễm Thuyên giống như lời của một người phụ nữ Nam Bộ tâm tình thủ thỉ, đầy yêu thương nhưng không thiếu uẩn ức, phức tạp. Có lúc tha thiết như một câu ru, có lúc rưng rức như tiếng khóc, nhưng đều rất chân thành. Thơ Diễm Thuyên thường không lên gân, không “cường điệu hóa cảm xúc” như một số cây bút hiện nay, mà đặt mình giữa truyền thống và hiện đại. Dùng hình thức truyền thống, nhưng lại viết về tâm sự của con người thời hiện đại: một người phụ nữ làm nghề biên kịch, sống ở thành phố, có quá khứ quê nghèo và trái tim luôn "trôi ngược về phía yêu thương". Thơ Diễm Thuyên vì thế chênh vênh giữa lằn ranh cổ và kim, giữa quá vãng và hiện tại, giữa chân quê và thành thị. Tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” cho thấy một phong cách thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên với nội dung chứa chan tình cảm, đầy tính nữ. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, đậm chất Nam Bộ, gần với khẩu ngữ. Vần và nhịp thơ giữ đúng luật lục bát, mềm mại, có điểm rơi cảm xúc. Giọng điệu thơ tha thiết, sâu lắng, nhẹ nhàng mà ám ảnh. Đồng thời tập thơ vẫn mang một sắc thái hiện đại là viết cho đời sống hôm nay bằng “giọng nói cổ kim kết hợp” của thơ.

Tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” đúng như tên gọi, là những bài thơ không gào thét, không gồng gượng, mà thầm thì, thì thầm, tạo nên một chất thơ thủ thỉ như tiếng nói của lòng mình với lòng người. Chính điều đó khiến nhiều bài thơ của Diễm Thuyên có thể đọc thành tiếng, đọc trong lòng, hoặc để lại trong trí nhớ như một bài hát không giai điệu. Bởi lẽ bất cứ ai trong số chúng ta cũng từng yêu, từng cần tình yêu, từng hạnh phúc hay đau khổ vì yêu và có thể thấy thấp thoáng bóng mình qua một vài câu thơ của Diễm Thuyên trong tập thơ này.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm