TIN TỨC

Thời đương đại nghe lời thơ lục bát ru tình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-24 08:45:04
mail facebook google pos stwis
1221 lượt xem

Bằng cảm quan nhạy bén của một người đọc thơ và nghiên cứu văn chương, tiến sĩ Hà Thanh Vân đã có bài viết tinh tế về tập thơ Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau – tập thơ thứ ba của nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên, hội viên Hội Nhà văn TP. HCM, vừa ra mắt bạn đọc vào sáng 22/6/2025.

Chọn thể thơ lục bát – thể thơ truyền thống tưởng chừng cũ kỹ – Diễm Thuyên không làm cách tân hình thức, mà thổi vào đó một ngữ khí mới, chất liệu đời thường, nhịp điệu nữ tính hiện đại, để thơ vừa mềm mại vừa day dứt, vừa ru vừa rưng.

Diễm Thuyên không chỉ viết về tình yêu, mà còn khắc họa thân phận người phụ nữ đương thời – khao khát yêu, chủ động yêu, chịu đựng và bao dung, với tất cả sự mỏng manh và bản lĩnh. Bài viết của TS Hà Thanh Vân chỉ ra: dù thơ Diễm Thuyên có mượn giọng “ru” truyền thống hay ngôn ngữ “phi thơ” đời thường, thì điểm đến cuối cùng vẫn là tình cảm chân thành và vẻ đẹp nội tâm thầm thì của một người nữ làm thơ giữa đời sống hiện đại.

Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết này đến quý độc giả.
 

Tiến sĩ HÀ THANH VÂN

Người nữ làm thơ lục bát giữa lằn ranh truyền thống và hiện đại

Đoàn Thị Diễm Thuyên là một tác giả nữ đã gặt hái một số thành công trong lĩnh vực thơ ca. Cô sinh năm 1980, quê quán tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Hiện nay Diễm Thuyên làm biên kịch phim ở TPHCM. Cô là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre và là Hội viên Hội Nhà văn TPHCM.

Đoàn Thị Diễm Thuyên làm thơ từ khá sớm, khi mới 19 tuổi và đã có nhiều tác phẩm trong các tập thơ in chung. Nhưng khá lặng lẽ và kỹ lưỡng, cầu toàn với thơ ca, Diễm Thuyên chỉ mới cho ra mắt hai tập thơ “Để con về nhà hỏi má” (2017) và “Trời mưa cho ướt” (2018). Tuy vậy, khả năng văn chương của Đoàn Thị Diễm Thuyên đã được ghi nhận qua các giải thưởng như: Giải Ba cuộc thi Thơ Lục bát 2019 do Tập san Áo Trắng và Nhà xuất bản Trẻ tổ chức, giải Ba cuộc thi Thơ và Tạp bút “45 năm rực rỡ tên vàng” năm 2021 của Báo Người Lao Động, giải Tư cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất phương Nam” năm 2021, giải Ba cuộc thi thơ dành cho phụ nữ trên Tạp chí Lang Bian lần III năm 2022. Gần đây Diễm Thuyên nhận giải Nhì đồng hạng (không có giải Nhất) cuộc thi Thơ 1-2-3 năm 2025 do Trang Văn học Sài Gòn và Trang Nhịp sống Văn học tổ chức. Có thế mạnh ở thể thơ lục bát và bản thân cũng chọn lục bát là thể thơ yêu thích để sáng tác, năm 2025, Diễm Thuyên cho ra mắt độc giả tập thơ thứ ba mang tên “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” do NXB Hội Nhà văn ấn hành.

Theo lời của chính tác giả, tập thơ này có hai chủ đề: RU và MƯỢN, mà hàm ý của nó đã thể hiện ở ngay nhan đề của tập thơ. Chọn một thể thơ truyền thống, quen thuộc, dễ làm, nhưng lại khó làm cho hay, Đoàn Thị Diễm Thuyên đã tự thách thức chính mình. Thật ra thể thơ lục bát - một thể thơ dân tộc rất đặc trưng của Việt Nam - hoàn toàn có thể làm theo phong cách hiện đại, cách tân. Trên thực tế, nhiều nhà thơ đương đại của Việt Nam đã và đang thử nghiệm điều này. Có người thành công và cũng có người chưa gây được ấn tượng. Song điều quan trọng là những thể nghiệm đó chứng tỏ thơ lục bát vẫn có sức sống mãnh liệt và có vị trí quan trọng trong cảm hứng sáng tác, tư duy nghệ thuật của những nhà thơ đương đại.

Và Đoàn Thị Diễm Thuyên đã nỗ lực mang hơi thở mới mẻ của đời sống, tâm tư, tình cảm của con người đương đại để thổi hồn vào thể thơ lục bát truyền thống. Thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên mang đậm chất nữ tính, kết hợp giữa những yếu tố truyền thống và màu sắc hiện đại. Cô sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi nhưng không kém phần sâu sắc, thể hiện qua những hình ảnh đời thường và cảm xúc chân thành.

Giữ khung luật truyền thống nhưng làm mới nội dung theo kiểu “phi thơ” và phá cách ngôn từ

Đoàn Thị Diễm Thuyên giữ đúng niêm luật thơ lục bát truyền thống. Cô không phá cách lục bát như nhiều nhà thơ hiện đại, mà vẫn tôn trọng nhịp 2/2/2 hoặc 3/3, gieo vần bằng ở chữ 6, vần chân ở chữ 8. Điều này giúp thơ cô dễ đọc, dễ thuộc, gần với dân ca và ca dao.


Nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên và Tiến sĩ Hà Thanh Vân (phải)

Khi ra mắt tập thơ thứ ba “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau”, Đoàn Thị Diễm Thuyên đã chia tập thơ thành hai chủ đề, với hai phần rõ rệt. Phần một “Lục bát ru anh” gồm 34 bài, mỗi bài thơ đều được mang tên chung là “Ru anh” và đánh số thứ tự từ 1 đến 34. Phần hai là “Lục bát mượn” gồm 30 bài thơ thì trong nhan đề mỗi bài thơ đều có một chữ “mượn”. Chẳng hạn như “Cho em mượn một bờ vai”, “Cho em mượn thử lá gan”, “Cho em mượn cánh tay này”, “Cho em mượn chiếc răng khôn”… Có khá nhiều bài thơ lục bát của Diễm Thuyên đề cập đến việc mượn một bộ phận thân thể của nhân vật “anh”, từ bờ vai, bờ môi, vòng tay, máu tim, lá gan, ngón tay v.v… Sự độc đáo và khác lạ này có lẽ là bắt nguồn từ ý tưởng và cảm quan nghệ thuật của nhà thơ muốn thể hiện sự gắn bó, giao hòa giữa hai con người “em” và “anh”, trong đó nhân vật nữ xưng em là ở thế chủ động. Chủ động đến với tình yêu, chủ động vun đắp tình cảm, chủ động sống, chủ động gắn bó đời mình… để không hối tiếc vì đã sống như thế, cho dù ngày mai, ngày sau có thể là chia xa, ly biệt.

Cho em mượn một bờ vai

Tựa vào đêm tận rồi mai trả người.

(Cho em mượn một bờ vai)

Và:

Em mượn một chút rồi thôi

Cho qua cơn bão ngang đời em đang…

(Cho em mượn phía sau lưng)

Thơ lục bát có luật rất đặc trưng: dòng 6 và dòng 8, gieo vần lưng. Đoàn Thị Diễm Thuyên vẫn giữ khung luật này, thậm chí vẫn mượn một cảm hứng truyền thống là “lời ru”, nhưng thổi hồn tình cảm vào thành “lời ru anh”. Từ đó nhà thơ viết về những đề tài hiện đại như: chuyện kinh doanh, chiến tranh hờn ghen tinh thần, thời đại số hóa, sự cô đơn hiện sinh, những bi hài trong đời sống thường nhật, chút vô thường Phật giáo… tất cả được lồng ghép trong những lời ru tình yêu dành cho đối tượng “anh” như một cách tạo ra những nghịch lý thơ rất thú vị:

Em trở lại là “đàn bà”

Để mong anh trở lại là “đàn ông”

Thế mà sắc sắc không không

Em ru anh giữa đêm đông buốt lời

(Ru anh 16)

Hay:

Ru anh lòng bớt nhỏ nhen

Từ khi vườn mộng biết ghen úa tàn.

(Ru anh 18)

Nhưng tất cả những đề tài hiện đại ấy đều in đậm dấu ấn đời thường và cảm xúc cá nhân của nhà thơ về tình yêu nam nữ, đặc biệt là những tình cảm gian truân, dang dở, từ đó vẽ nên thân phận người phụ nữ: chịu thương, chịu khó, cam chịu nhưng cũng đầy bản lĩnh và nhân hậu, bao dung. Những trăn trở nội tâm như nỗi cô đơn, mất mát, khát vọng yêu thương và được thấu hiểu được gửi gắm vào những lời ru anh như là những ước nguyện.

Dùng từ ngữ đời thường và đưa những chất liệu “phi thơ” vào là cách để nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên lạ hóa tác phẩm của mình. Cho nên mới có những câu lục bát với những thuật ngữ rất “kinh tế thị trường” như:

- Cho anh mượn “Quỹ niềm tin”

“Đầu tư nhanh” chỗ cuộc tình còn non

- Chỉ e quỹ rót rất giòn

Mà em hụt vốn lại còn nợ hoang?

(Cho anh mượn cả niềm tin)

Nhưng dù có “phi thơ” như thế, thì điểm đến cuối cùng vẫn là tình yêu, là sự gắn kết:

Nếu vốn của anh là… em

Tụi mình nhập lại là thêm… lãi ròng.

(Cho em mượn vốn để dành)

Thế nên cho dù có cách tân hay đổi mới ngôn từ, thì cảm xúc của Diễm Thuyên vẫn trước sau như một: cảm xúc yêu thương mê đắm và hết mình vì tình yêu.

“Tự sự đời sống” trong từng câu lục bát

Tính chất “tự sự đời sống” thể hiện khá rõ trong thơ của Diễm Thuyên. Thơ cô không quá mang nặng tính triết lý hay biểu tượng. Thay vào đó, nó giống như nhật ký bằng thơ, đầy ắp chất tự sự nhẹ nhàng, đôi khi là tâm sự nhỏ nhẹ, đôi khi là tiếng lòng bật khóc không lời, thông qua những lời ru dịu dàng. Nhiều câu thơ thể hiện sự tinh tế trong cách diễn đạt cảm xúc, sử dụng hình ảnh quen thuộc để nói về tình yêu và sự chia ly. Phong cách của cô không chỉ giữ được nét truyền thống của thể thơ lục bát mà còn mang hơi thở hiện đại, phản ánh tâm hồn và suy nghĩ của người phụ nữ trong xã hội đương đại.​ Thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên là một sự kết tinh giữa vẻ đẹp truyền thống mang màu sắc văn hóa dân gian Nam Bộ và cảm quan hiện đại, cá nhân hóa của người sáng tác, như những câu thơ sau:

Em mượn để cười du côn

Cù nhây một trận vô ngôn hữu hình

Trả anh vết cắn bội tình

Để cho khôn dại của mình huề nhau…

(Cho em mượn chiếc răng khôn)

Ngôn từ rất giản dị nhưng đau đáu nỗi niềm, cho thấy khả năng chắt lọc xúc cảm sắc sảo. Ngôn ngữ thơ Diễm Thuyên mộc mạc, thuần Việt, mang phong vị Nam Bộ. Diễm Thuyên chọn lối viết tự nhiên, không kiểu cách, không cầu kỳ. Đây là điều làm nên bản sắc riêng của tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau”. Nhà thơ dùng những hình ảnh quen thuộc và không ngại đưa vào thơ những cụm từ đời sống, khẩu ngữ, thậm chí hơi... dân gian, dân dã một chút.

Ví như thương nhớ chết chìm

Xin đừng trục vớt kiếm tìm làm chi…

(Ru anh 28)

Ngôn ngữ thơ bình dân, đại chúng nhưng ẩn chứa một sức biểu đạt cảm xúc rất mãnh liệt. Trong thơ Diễm Thuyên, câu lục bát ngắn mà nặng, nhiều câu mang lại dư ba sâu lắng. Đặc biệt là cô biết “giấu nước mắt” dưới bề mặt từ ngữ, gợi nhiều hơn tả với sự nhấn nhá từ ngữ ấn tượng.

Buồn lơ lửng buồn ngẩn ngơ

Buồn trầy trật buồn vật vờ buồn tênh

Ru anh buồn rất tênh hênh

Lõa lồ cái chỗ chênh vênh rất buồn.

(Ru anh 10)

Tuy vẫn tuân theo niêm luật, nhưng Diễm Thuyên biết nhấn ở đúng chỗ để tạo điểm rơi cảm xúc, thường là ở những câu 8, hoặc dùng câu kết để lật ý, hoặc tạo sự đứt mạch cảm xúc nhẹ, khiến người đọc có biến đổi cảm xúc. Sự biến tấu linh hoạt và nhấn nhá tạo ra một giọng điệu thơ dịu dàng, tha thiết, giàu nữ tính. Thơ RU và MƯỢN của Diễm Thuyên giống như lời của một người phụ nữ Nam Bộ tâm tình thủ thỉ, đầy yêu thương nhưng không thiếu uẩn ức, phức tạp. Có lúc tha thiết như một câu ru, có lúc rưng rức như tiếng khóc, nhưng đều rất chân thành. Thơ Diễm Thuyên thường không lên gân, không “cường điệu hóa cảm xúc” như một số cây bút hiện nay, mà đặt mình giữa truyền thống và hiện đại. Dùng hình thức truyền thống, nhưng lại viết về tâm sự của con người thời hiện đại: một người phụ nữ làm nghề biên kịch, sống ở thành phố, có quá khứ quê nghèo và trái tim luôn "trôi ngược về phía yêu thương". Thơ Diễm Thuyên vì thế chênh vênh giữa lằn ranh cổ và kim, giữa quá vãng và hiện tại, giữa chân quê và thành thị. Tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” cho thấy một phong cách thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên với nội dung chứa chan tình cảm, đầy tính nữ. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, đậm chất Nam Bộ, gần với khẩu ngữ. Vần và nhịp thơ giữ đúng luật lục bát, mềm mại, có điểm rơi cảm xúc. Giọng điệu thơ tha thiết, sâu lắng, nhẹ nhàng mà ám ảnh. Đồng thời tập thơ vẫn mang một sắc thái hiện đại là viết cho đời sống hôm nay bằng “giọng nói cổ kim kết hợp” của thơ.

Tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” đúng như tên gọi, là những bài thơ không gào thét, không gồng gượng, mà thầm thì, thì thầm, tạo nên một chất thơ thủ thỉ như tiếng nói của lòng mình với lòng người. Chính điều đó khiến nhiều bài thơ của Diễm Thuyên có thể đọc thành tiếng, đọc trong lòng, hoặc để lại trong trí nhớ như một bài hát không giai điệu. Bởi lẽ bất cứ ai trong số chúng ta cũng từng yêu, từng cần tình yêu, từng hạnh phúc hay đau khổ vì yêu và có thể thấy thấp thoáng bóng mình qua một vài câu thơ của Diễm Thuyên trong tập thơ này.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm