TIN TỨC

Dưới gầm trời lưu lạc – Bản ngã nhà báo trong vỏ bọc nhà văn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-18 11:53:40
mail facebook google pos stwis
844 lượt xem

“Dưới gầm trời lưu lạc” không chỉ là tựa đề một tập sách bút ký xuất sắc của nhà báo Đỗ Doãn Hoàng, mà còn là một hành trình tinh thần đầy trăn trở giữa lằn ranh của báo chí và văn chương. Với bài viết sâu sắc dưới đây, cây bút trẻ Ngô Xuân Vy đã phân tích tinh tế sự hòa quyện hiếm hoi giữa cái nhìn thời sự và chiều sâu nhân văn – một bản ngã báo chí được thức tỉnh trong vỏ bọc lặng thầm của một nhà văn. Một bài viết lay động và gợi suy tư, đặc biệt đối với những ai đang sống với nghiệp chữ nghĩa và sự thật”
 

NGÔ XUÂN VY

Chọn ngẫm cùng Dưới gầm trời lưu lạc của nhà báo Đỗ Doãn Hoàng là chấp nhận một cuộc đồng hành đặc biệt: cuộc lữ hành giữa sự thật khốc liệt của đời sống và vẻ đẹp đầy ám ảnh của văn chương. Không đơn thuần là một tập bút ký, cũng không chỉ là những ghi chép báo chí kiểu truyền thống. Nó là sự kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp, thấu hiểu với nỗi đau và cứng cỏi trong hành trình đi đến tận cùng sự thật.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng - một cây bút sắc sảo, giàu bản lĩnh trong làng báo chí điều tra, nay lại hiện diện với một giọng điệu khác: đằm sâu, man mác buồn, nhiều chất suy tư, hơn là phơi bày. Anh không từ bỏ nghề báo, mà đưa báo chí lên một nấc thang khác, nơi chữ nghĩa vừa mang tính thời sự, vừa mang tính nhân sinh. Và chính ở nơi ấy, người đọc bắt gặp một Đỗ Doãn Hoàng, một nhà báo viết văn, trong hình hài đầy mâu thuẫn mà quyến rũ.

1. Khi văn chương là đường dẫn ngầm vào lòng sự thật

 Dưới gầm trời lưu lạc gợi mở một không gian gập ghềnh, bất định. Gầm trời: một cách nói ngược đầy thi vị, như thể tác giả đang bước đi trong bóng tối của hiện thực, nhưng đôi mắt luôn ngước tìm vòm trời cao. Lưu lạc: không phải là sự lạc lối, mà là hành trình không ngừng nghỉ của một kẻ đi tìm con người, đi tìm chân lý trong những xó xỉnh bị lãng quên.

Và quả thật, từ những trang đầu tiên, chúng ta nhận ra đây là cuốn sách được viết bằng đôi chân của một nhà báo từng đi, từng chứng kiến, từng chịu va đập, nhưng lại thấm đẫm linh hồn của một nhà văn “Từ bấy, những vườn bướm màu sắc, những bãi biển mê hồn, những kiến trúc thực dân, cả sự tử tế chan hoà và lối sống chậm bên các toà cao ốc của người cù lao Cau luôn khiến tôi nhung nhớ...” Những phận người xuất hiện trong sách: người mẹ gùi con đi qua biên giới, người đàn ông làm nghề bẫy rắn, bé gái đi nhặt than bên bờ suối chết. Tất cả đều là thật, nhưng dưới ngòi bút của tác giả, họ không chỉ là những nhân vật báo chí, họ trở thành biểu tượng của nỗi chịu đựng, của khát vọng sống và vẻ đẹp tiềm tàng nơi tận cùng thống khổ.

Văn chương của Đỗ Doãn Hoàng không tô hồng sự thật, không làm dịu đi nỗi đau, nhưng lại có một cách rất riêng để khiến người đọc phải dừng lại, phải nghĩ ngợi. Anh không giật tít bằng cảm xúc rẻ tiền, mà lay động bằng hình ảnh: một cái nhìn xa xôi, một bàn tay lạnh run, một tiếng thở dài trong đêm rừng. Từng chi tiết nhỏ ấy, được níu kéo để sống dậy từng trang văn. 

2. Nhà báo và sự cô độc trong vai trò người kể chuyện

Làm báo đã là đơn độc. Làm báo mà còn mang trong mình tâm hồn nhà văn - đó là một kiểu cô độc khôn nguôi. Dưới ngầm trời lưu lạc là nơi Đỗ Doãn Hoàng hiện lên như một lữ khách bị lưu đày khỏi thế giới ồn ào, thực dụng. Anh đi xuyên qua những vùng đất “ngoài lề truyền thông”, không phải để săn tin mà để lắng nghe. Anh không quan tâm đến tốc độ đăng tải, mà đau đáu về điều chưa kịp nói.

Không ít lần, Hoàng để người đọc cảm nhận sự trống trải trong chính hành trình của mình. Giữa núi rừng heo hút hay trên chuyến xe đêm đổ về miền biên viễn, nhân vật “tôi” trong sách luôn mang theo sự lặng thầm, ngẫm ngợi. Nhà báo ấy không đơn thuần là người thu thập tư liệu, mà còn là kẻ đối thoại với chính mình: “Tôi đã viết đủ chưa? Tôi có quyền kể về nỗi đau của người khác không?”.

Đó là câu hỏi của một người viết có lương tri – điều đang trở nên hiếm hoi giữa thời đại mà nhà báo dễ bị cuốn vào vòng xoáy của tin nhanh. Và chính vì có lương tri, anh mới dám đau, mới dám chọn cách viết khó hơn, chậm rãi, sâu sắc, thậm chí không “thời sự” nữa, nhưng lại mang tính vĩnh cửu.

3. Sự hòa quyện hiếm hoi giữa chất liệu đời và tinh thần văn học

Dưới ngầm trời lưu lạc có kết cấu như một bản giao hưởng với nhiều cung bậc. Mỗi bài viết là một chương, mỗi nhân vật là một nốt nhạc. Nhưng điểm kỳ lạ là: dù đề tài đa dạng từ người tị nạn, di cư, thân phận người lính cũ, đến những vùng đất hoang sơ, thì toàn bộ cuốn sách vẫn mang một nhịp điệu thống nhất: nhịp của sự cảm thông.

Đỗ Doãn Hoàng không kể chuyện như một nhà báo, anh kể như một người từng sống qua đời sống của nhân vật. Anh viết bằng trải nghiệm, bằng va đập, bằng sự “đắm chìm” chứ không “tác nghiệp”. Ở đó, ngôn ngữ báo chí được chuyển hóa thành ngôn ngữ văn học.

Không nhiều nhà báo có khả năng tạo ra những hình ảnh như thế. Nhưng Hoàng không làm vậy để phô diễn. Anh viết như một bản năng. Và điều ấy làm nên chất riêng: vừa nhòe ranh giới giữa báo chí và văn học, vừa định hình một dòng chảy mới cho thể loại bút ký hiện đại, nơi con chữ vừa mang tin, vừa mang tình.

4. Một tấm gương soi lại nghề viết: Thức tỉnh và tự vấn

Có thể nói, Dưới ngầm trời lưu lạc không chỉ là cuốn sách để đọc, mà còn là để soi. Soi vào những giới hạn của nghề viết hôm nay. Soi vào những câu hỏi muôn thuở: Viết để làm gì? Viết cho ai? Và liệu người viết còn đủ can đảm để đặt nhân phẩm lên trên sự nghiệp?

Bằng chính lối viết nhiều tầng bậc của mình, Hoàng đã đặt ra những tiêu chuẩn ngầm cho người làm báo mang tâm hồn văn sĩ: Không thỏa hiệp với sự dễ dãi. Không đánh mất sự đồng cảm. Và quan trọng nhất: không từ bỏ trách nhiệm kể lại thế giới này bằng đôi mắt nhân văn nhất có thể.

Không phải ai cũng cần viết như Hoàng. Nhưng đọc Hoàng, người làm báo sẽ thấy mình cần sống sâu hơn với nghề. Người đọc sẽ thấy mình cần chậm lại để lắng nghe. Và văn chương trong cái vỏ bọc báo chí, sẽ lại có chỗ đứng như một thứ ánh sáng, soi vào những góc khuất mà ánh đèn thời sự thường bỏ qua, một ngòi bút mang dáng dấp của đôi chân.

Người ta thường ví ngòi bút nhà báo như một thứ vũ khí. Nhưng ở Đỗ Doãn Hoàng, ngòi bút không chiến đấu bằng sự giận dữ, mà bằng sự lặng thầm của một đôi chân không ngừng lưu lạc. Chân đi đến đâu, chữ thấm đến đó. Chân bước vào vùng tối, chữ hóa thành ánh sáng.

Dưới ngầm trời lưu lạc là minh chứng cho một kiểu viết hiếm hoi, nơi nghề báo không là kẻ thợ săn thông tin, mà là người hành hương. Và Đỗ Doãn Hoàng, trong sự hòa quyện giữa nhà báo và nhà văn, đã viết nên một hành trình đầy ám ảnh, đầy cảm xúc, khiến người đọc không thể thờ ơ, khiến người làm báo phải nhìn lại mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm