TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • 5 sắc thái của một giọng thơ lạ trong “Ru say muợn tỉnh – Ru tình mượn nhau”

5 sắc thái của một giọng thơ lạ trong “Ru say muợn tỉnh – Ru tình mượn nhau”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-26 06:17:24
mail facebook google pos stwis
1637 lượt xem

Ru say mượn tỉnh – Ru tình mượn nhau" của Diễm Thuyên – ví như "năm tầng mùi trong một loại rượu thơ rất riêng". Từ cái "tưng tửng" đầy nội tâm đến sự "đàn bà" nhưng không ủy mị, từ trạng thái "tỉnh mà vẫn say" đến chất "lạ mà không lập dị", và cuối cùng là thơ như "nơi tha thứ cuối cùng" – bài viết của Lương Cẩm Quyên sẽ đưa bạn đọc khám phá một hồn thơ đầy bản lĩnh, dám giễu đời, thương đời và đủ tỉnh táo để tha thứ cuộc đời bằng thơ. Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin giới thiệu bài viết này, mời quý độc giả cùng đọc và đồng cảm!


Các nhà thơ Lương Cẩm Quyên (trái) và Đoàn Thị Diễm Thuyên


LƯƠNG CẨM QUYÊN
(Viết về tập thơ “Ru say muợn tỉnh – Ru tình mượn nhau” của Đoàn Thị Diễm Thuyên)

Trong rất nhiều giọng thơ nữ đương đại, Diễm Thuyên là một trường hợp “khó xếp loại”. Không dịu dàng kiểu lục bát mướt mát, cũng chẳng trào phúng theo kiểu “thơ tếu” xu thời. Chị đi một lối riêng – một kiểu đàn bà biết đau, biết giễu, biết yêu, nhưng nhất định không làm khổ thơ vì nước mắt.

Thơ Diễm Thuyên ngắn, dứt gọn – nhưng thường để lại một vết khía thầm. Một nụ cười bật ra ở khổ đầu, chưa dứt đã thấy cay xè ở cuối bài. Một ngón tay khều nhẹ ở câu một, nhưng đến câu ba thì đã nhói tim rồi.

Dưới đây là 5 sắc thái đặc trưng, như năm tầng mùi trong một loại rượu thơ rất riêng – Ru say muợn tình:

1. Tưng tửng – nhưng không hề nhảm

Cái “tửng” của Diễm Thuyên không phải để mua vui. Nó là cách tự vệ, là áo khoác cho những mảnh run run phía trong thân thể.

Ru anh hoa sứ đưa hương

Còn em – “quỷ sứ” ẩm ương lắm trò

Anh ngủ đi, mình hẹn hò

Em leo vào mộng, em bò vào mơ

(Ru anh 9)

Nghe thì tưởng đùa. Nhưng đằng sau dáng bò, dáng mơ ấy là cả một nội tâm xáo động. Cái “quỷ sứ” của chị – vừa nghịch, vừa thương.

2. Đàn bà – nhưng không ủy mị

Thơ chị đàn bà đến tận chân tóc, nhưng chưa từng van vỉ một tình yêu nào. Đàn bà trong thơ Diễm Thuyên biết mình cô đơn, và biết mình vẫn đáng yêu trong chính cô đơn ấy.

Đàn bà xuân chẳng còn son

Đàn ông hạ úa sao còn chê nhau?

(Ru anh 5)

Một câu lục bát dằn lòng – nhưng không bi lụy. Là giọng nói thẳng, không hờn dỗi, không nhún nhường. Là tiếng đàn bà dám đối thoại sòng phẳng với tình yêu – kể cả khi nó trễ.

3. Tỉnh – mà vẫn say

Tập thơ tên “Ru say muợn tỉnh – Ru tình mượn nhau”, nhưng người viết không hề mụ mị. Trái lại, càng say – lại càng tỉnh. Tỉnh để nhận ra những giới hạn, những ngã ba của đời sống tình cảm.

Ru anh lời của trăng rằm

Của đêm ta lạc chỗ nằm gần nhau

Chỉ là thoang thoảng hương cau

Mộng xưa vườn cũ bạc đầu còn vương

(Ru anh 6)

Cái say của Diễm Thuyên là một cách đắm mình để soi lại bản thể. Là khi đàn bà dám bước qua những dở dang, với đôi mắt vẫn mở.

4. Lạ – mà không lập dị

Sự “lạ” trong thơ Diễm Thuyên không đến từ hình thức, không đến từ những chơi chữ cực đoan. Nó đến từ cách cảm. Một kiểu cảm rất riêng, vừa bản năng, vừa tinh tế – và tuyệt nhiên không vô nghĩa.

Ru anh gió chướng luồn đêm

Đôi ta ngược mộng, buồn chêm giấc gầy

...

Ru anh xuân mộng rập rình

Mộng xuôi, ta ngược bóng mình vào yêu…

(Ru anh 32)

Những liên tưởng như “bóng mình vào yêu” không chỉ là một hình ảnh – mà là một trạng thái. Trạng thái yêu không cần logic, chỉ cần rung động.

5. Thơ – là nơi tha thứ cuối cùng

Diễm Thuyên không oán trách đời. Không buộc tội ai trong thơ. Chị chỉ viết – như một cách tha thứ. Tha thứ cho mình. Tha thứ cho người. Tha thứ cho những vụn vỡ không hình hài.

Ru anh trả bóng cho hình

Trả cũ cho mới trả mình cho ta

Ru anh tiễn ánh trăng tà

Tiễn đêm cạn giấc. Ngày ra cạn lời…

(Ru anh 14)

Lời ru – như lời tiễn biệt. Không níu kéo, không đay nghiến. Mềm. Nhẹ. Nhưng vẫn chạm được vào những nơi sâu kín nhất trong lòng người đọc.

Thơ Diễm Thuyên giống như một ly rượu ủ lâu – mở ra nghe thơm, uống rồi mới tê. Tê vì những điều tưởng là đã quên. Tê vì một nụ cười dịu dàng – mà khiến ta tái buốt vì lạnh.

“Ru say muợn tỉnh – Ru tình mượn nhau” không phải là một tập thơ để đọc cho vui, mà là để đọc khi buồn. Đọc để thấy: có một người đàn bà từng đau giống mình – mà vẫn viết ra được những câu thơ mỏng nhẹ như khói, nhưng lắng lại rất lâu sau đó.

Và điều đáng quý nhất là: chị không cố làm thơ để được khen là lạ. Thơ Diễm Thuyên lạ – vì chị là một người đàn bà lạ. Lạ ở chỗ: đủ thông minh để giễu đời, đủ sâu để thương đời, và đủ tỉnh táo để tha thứ nó bằng thơ.

Yêu thương và chúc em với những đứa con tinh thần tương lai ngày càng độc lạ sâu sắc lên một tầm cao hơn nữa nhé.

L.C.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm