TIN TỨC

Sự hồi quang ký ức trong “Bài thơ cánh võng”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-04 07:40:54
mail facebook google pos stwis
658 lượt xem

Nhà thơ ĐẶNG HUY GIANG

Khi bắt đầu chớm đến đầu con dốc phía bên kia cuộc đời, nhất là bước vào tuối “xưa nay hiếm”, con người ta thường có thói quen ngoảnh lại. Ở đây, ngoảnh lại để nhìn lại chặng hành trình đã qua. Ngoảnh lại để hồi tưởng những vui buồn của cuộc đời mình. Ngoảnh lại để nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ em, nhớ những người đồng đội. Ngoảnh lại cũng là để nhớ mình da diết. Thêm nữa, Ngoảnh lại cũng là dịp “xốc” lại mình, để sống sao cho phải với những tháng ngày đã qua.

Nguyễn Vũ Quỳnh với tác phẩm mới “Bài ca cánh võng” của ông, không phải là một trường hợp ngoại lệ. Chỉ có cái khác: Mức độ và phạm vi của sự ngoảnh lại của ông mang tính nhất quán, bao trùm và sự ngoảnh lại của ông như là sự hồi quang ký ức. Nói cách khác: Nguồn sáng của ký ức với những  nét riêng biệt của nó, trong nỗi ám ảnh khôn nguôi, đang trở lại với ông mãnh liệt và dào dạt hơn bao giờ hết. Đã thế, sự ngoảnh lại này lại được soi chiếu dưới con mắt của hiện tại, trải qua sự thử thách của thời gian, nên có giá trị thực chứng và thuyết phục rất cao.

 Đó là nỗi nhớ quê và nhớ mẹ đến “cồn cào cả khuya”, “nhớ xa xót, nhớ rưng rưng/ nhớ đến thế, nhớ chưa từng…bạn ơi” trong “cánh rừng thừa nắng thiếu mưa” mà nhớ “Quê nhà đang vụ lúa chiêm/ Chao ôi là nhớ ngả nghiêng cánh đồng” (“Trăng treo đầu võng”). Phải nói rằng nỗi nhớ thật là da diết.

Đó là nỗi nhớ mẹ gắn với cây lúa, với hạt thóc, với dảnh mạ, với tiếng trời, tiếng đất, tiếng mồ hôi, tiếng nước mắt của một đời người. Điều này được thể hiện qua “Mẹ và cây lúa ngày xưa”. Đây là một tứ thơ ấn tượng, mang tính khái quát cao, dành “kính tặng Mẹ Việt Nam một thời gian khổ”. Chỉ có ý thức sâu sắc về vai trò của cây lúa trong đời sống người Việt với nền “văn minh lúa nước” từ bao đời nay, tác giả mới có thể viết được những câu thơ nặng lòng như thế này:

Lúa là mẹ của thóc sinh ra gạo

Gạo quý hơn vàng nuôi nấng cuộc đời ta

  và:

Gạo nuôi người, lúa như đời bà ngoại

Mẹ sinh con, gạo nuôi dưỡng ước mơ

Tác giả thấu hiểu nỗi vất vả của người trồng lúa: “Thóc và lúa bắt đầu từ dảnh mạ/ Bão tố đời người gồng gánh bờ vai” nên càng thấm thía nỗi đau khi mùa vụ thất bát: “”Bao nhiêu đứa con, bao lời chan chứa/ Không ghi hết nỗi đau khi hạt thóc mất mùa”. Giờ đây, khi đã đủ ăn thì một bi kịch khác lại diễn ra - ấy là khi mẹ không còn nữa:

Thế là con đã mồ côi

Chỉ còn hạt gạo đầy nồi...ca dao

Quê ơi bên gốc đa cao

Vẫn còn nguyên vẹn gió lào ngày xưa

Hai câu kết như tôn cao tứ thơ lên một tầng nấc mới:

Hạt thóc gội nắng tắm mưa

Làm tôi nhớ mẹ cày bừa nên quê.

Đó là nỗi nhớ mẹ gắn với lời ru của mẹ đến nỗi dù “Con đã đi qua cả trăm núi ngàn khe” vẫn muốn “trở về nghe lời ru của mẹ”, vì chỉ nhờ có thế, tác giả mới “được trở về tuổi thơ” và coi đó là “hạnh ngộ” của đời mình trong “Tìm lại lời ru”. Đề tài mẹ gắn với lời ru như được bay lên trong “Bài thơ cánh võng”. Bài thơ được khai mở bởi bốn câu thơ đáng nhớ:

Mẹ mắc câu thơ lên hai đầu cánh võng

Lời hát ru ngấm thương nhớ vào con

Thành hành trang  cho con muôn thuở

Tiếng ru đêm trao vốn liếng làm người.

Và kết lại ở bốn câu như là dư ba chưa dứt và như một lời truyền lại cho thế hệ mai sau: 

 

Lời ru gom cả trời xanh

Mặt trời ngoan, ngủ ngon lành đêm đêm

Mai này con nhớ đừng quên

Bài thơ cành võng bên thềm...à ơi!  

Trong  tập thơ này, nỗi nhớ mẹ và nỗi xa vắng mẹ còn trở đi trở lại với Nguyễn Vũ Quỳnh nhiều lần. Nỗi đau mất mẹ khiến Nguyễn Vũ Quỳnh cay đắng nhận thấy rằng: “Về nhà vắng mẹ bơ vơ cả chiều” (“Về nhà”) và đau đớn nhận ra rằng: “Bây giờ con đã mồ côi/ Mẹ không còn, mất thật rồi ngày xưa”. Nói không quá thì mẹ và hình tượng mẹ là “hiện thực trung tâm” của “Bài ca cánh võng”, thể hiện cái tậm, cái tình sâu đậm ngỡ không thể sâu đậm thêm nữa của Nguyễn Vũ Quỳnh.

Chiến tranh đã lùi xa. Mọi phản ánh về chiến tranh cũng dần dà khác trước và có nhiều thay đổi. Nếu như trước kia (sau 1972), chỉ với “Vòng trắng” (“Có mất mát nào lớn bằng cái chết/ Khăn tang, vòng tròn như một số không”) của Phạm Tiến Duật và “Sẹo đất” (“Tưởng trên da thịt mình mới sẹo/ Ai ngờ đất cũng sẹo như người”) của Ngô Văn Phú, mới có cái nhìn manh nha về thảm khốc và hậu quả của chiến tranh đem lại mà đã bị cấm đoán, thì từ thập kỳ 90 của thế kỷ XX bằng “Khắc vào Trường Sơn”, Nguyễn Vũ Quỳnh khắc họa một bà mẹ nhìn chiến tranh, cụ thể là nhìn đứa con và kẻ thù con mình đã nằm lại chiến trường bằng một cái tâm không phân biệt:

Mẹ đi vào giấc thiên thu

Ru mày! Thương cả kẻ thù năm nao

Đọc những câu thơ này, tôi không thể không liên hệ đến một lời thoại trong một vở kịch của B. Brecht: “Khi cuộc chiến đi qua/ Chỉ có các bà mẹ là thất bại”. Từ góc nhìn khách quan, dù ở phía bên này, hay phía bên kia, mất mát nào cũng là mất mát (“thất bại”) của những người mẹ. Đây là một bài thơ lạ, mang cái nhìn nhân bản về chiến tranh rất khác biệt của Nguyễn Vũ Quỳnh. Nó mới ở cách nói và ở cả cách nghĩ của một người đã đi qua trận mạc.

Đó là nỗi nhớ em, nỗi nhớ tình yêu xưa và ngày xưa, cũng dai dẳng không kém. Nó cứ dập dờn hiện lên bởi chăng đó là những kỷ niệm đẹp trong những cuộc tình ông đã trãi qua:

Đây là ví dụ thứ nhất trong “Cất đêm”: “Giấu chiều vào lòng núi/ Dịu mát trời đam mê/ Em cất đêm vào ngực/ Gọi tình yêu hiện về”. Đây là ví dụ thứ hai trong “Bến chiều”: “Không biết em có bồn chồn/ Riêng anh vẫn giữ một hồn cốt quê”. Đây là ví dụ thứ ba trong “Em là thời gian của anh”: “Lận vào không gian xanh mãi ước mơ/ Em đổi màu thời gian trong anh”. Đây là ví dụ thứ tư trong “Hồi hộp”: “Người ngày ấy đã mấy mươi năm/ Giờ gặp lại qua bao mùa con gái/ Tình vẫn vậy dù mấy lần hoa trái/ Con tim xưa hồi hộp đến bây giờ”.

Trong nỗi nhớ đồng đội, Nguyễn Vũ Quỳnh nhớ đến những nữ thanh niên xung phong mà Trường Sơn là “Nơi cất giữ một thời con gái” của họ. Ông cũng không quên tri ân họ bằng những câu thơ chân thành mà nhân văn, chất chứa những cảm xúc sâu lắng và ngưỡng mộ:

Các chị làm nên dáng vóc, hình hài

Thì vị một thời mở đường đi cứu nước

Cống hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc

Hương thơm đầu đời dâng hiến Trường Sơn.

Đó là vẻ đẹp trong sáng của tình yêu lứa đôi một thuở. Đó là sự gặp nhau đầu đời, một đi không trở lại. Dẫu chỉ là “những khoảnh khắc toàn hoa/ chẳng bao giờ kết quả”, nhưng em vẫn có một vị trí quan trọng trong anh, có thể làm “thay đổi màu thời gian trong anh”. Vẻ đẹp của tình yêu vĩnh cửu ấy như còn lưu giữ dài lâu đến mức: “Con tim xưa hồi hộp đến bây giờ”.

Thơ trong “Bài ca cánh võng” có những câu thật hay. Có nhiều câu đáng được đánh dấu khuyên vào đó: “Ta thắp mình lên tìm hình bóng quê nhà”. (Mẹ để câu ca dao nơi phía dây gầu) “Hoa cúc không của riêng ai cả/ Mà màu vàng vẫn như ám ảnh ta” (Khúc giao mùa). ”Xô lệch hoàng hôn trôi xa bến đợi/ Bây giờ về vắng hết cả ngày xưa” (Vắng hết cả ngày xưa). Thơ viết về những dòng sông cũng có nhiều câu đáng nhớ: “Tôi đi qua nhiều lắm những dòng sông/ Nhưng chưa sông nào nhớ hơn sông Mã/ Tôi mang sông đi khắp phương trời xa lạ/ Mới hiểu chẳng nơi đâu thánh thiện tự quê mình” (Sông Mã quê ơi!) “Hương nước sông Lam kỳ diệu lắm/ Giặt sáng tắm chiều, mai vẫn còn thơm” (Tự tình với sông Lam). Cái chất tình tứ sâu lắng trong từng câu thơ cứ ngân nga mãi trong thâm tâm người đọc nhiều khi trở nên day dứt khó quên.

Chắc hẳn phải là người Xứ Thanh từ trong cội rễ, Nguyễn Vũ Quỳnh, ông mới có sự sẻ chia lớn lao với Hồ Quý Ly (1336 - 1407) - vị hoàng đế đầu tiên  của nhà nước Đại Ngu trong lịch sử Việt Nam, ông vua có nhiều cải cách trong bài“Qua thành nhà Hồ”:

Đất trời một cõi tiên - rồng

Bây giờ ruộng lúa nơi ông xây thành

Bảy năm giấc mộng tan tành

Nỗi đau Đại Việt đâu dành riêng ai?

Nỗi niềm nhà Hồ, còn theo Nguyễn Vũ Quỳnh đến tận hôm nay:

Nay còn cổng đá xây tường

Thành nhà Hồ! Một đoạn trường xót xa!

Tác phẩm “Bài thơ cánh võng” là sự hồi quang ký ức mang theo kỷ niệm đẹp về quá khứ trong một mạch thơ ngẫm cảm nối dài. Hồi quang kí ức đẹp đã lan tỏa sự minh triết ngôn ngữ từng vần thơ để lại cho hôm nay và mai sau trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Đó là phần cốt lõi và nền tảng của thơ ông. Đó cũng là những vần thơ giàu chất chiêm nghiệm và máu thịt của riêng ông.

Xin trân trọng giới thiệu tác phẩmmới “Bài thơ cánh võng” của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh cùng bạn đoc.

 Phố Khuất Duy Tiến đêm 13 tháng 4 năm 2025

Đ.H.G

   

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm