TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Những nụ hôn như thế” – từ ngọn lửa yêu thương đến ngọn nguồn hy sinh

“Những nụ hôn như thế” – từ ngọn lửa yêu thương đến ngọn nguồn hy sinh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-06 08:35:55
mail facebook google pos stwis
834 lượt xem

Bài thơ “Ấm lòng những nụ hôn như thế” của Phạm Đình Phú không chỉ chan chứa yêu thương đời thường mà còn thấm đẫm tinh thần bi tráng của những nụ hôn tiễn biệt trong chiến tranh. Với cảm nhận tinh tế và giàu cảm xúc, nhà thơ Võ Đức Kỳ dẫn người đọc đi từ ngọn lửa yêu thương trong gia đình đến ngọn nguồn hy sinh vì Tổ quốc – nơi mỗi nụ hôn trở thành biểu tượng của sự sống, tình người và lòng tri ân bất tận. Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin chia sẻ cùng bạn đọc bài viết này.


Đại tá, Thầy thuốc ưu tú, Nhà thơ Phạm Đình Phú

 

VÕ ĐỨC KỲ

(Cảm nhận về bài thơ cùng tên trong tập thơ của Phạm Đình Phú – Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM)
 

Bài thơ “Ấm lòng những nụ hôn như thế” mang đến một thông điệp kết nối giữa tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi và sự hy sinh trong chiến tranh. Cảm xúc sâu sắc về sức mạnh của nụ hôn – như một biểu tượng của tình yêu bền chặt và sức sống mãnh liệt – đã được khơi dậy. Bài thơ không chỉ dừng lại ở những khoảnh khắc đời thường mà còn khái quát được sự bi hùng và thiêng liêng của cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, khiến người đọc không chỉ cảm nhận được tình yêu, mà còn thấu hiểu những hy sinh thầm lặng của những người con vì non sông đất nước.

Nụ hôn đời thường – ấm áp, thân thương, gần gũi

Phần đầu bài thơ mở ra bằng hình ảnh những nụ hôn của đời sống gia đình – nơi không gian và thời gian thường nhật nhưng chan chứa sự ấm áp và tươi mới:

“Ba mẹ nũng nịu/ ‘Chùn chụt’ lên đôi má con/ Ông bà ‘pầm pập’ trên bàn tay cháu…”

Hình ảnh ngọt ngào này không chỉ gợi nhắc về tình cảm gia đình, mà còn khắc họa sự gắn kết qua từng cử chỉ đơn giản trong mối quan hệ thân thiết. Từ ngữ như “chùn chụt”, “pầm pập” tạo nên những âm thanh riêng biệt của yêu thương đang lan tỏa trong từng câu chữ.

Đây mới chỉ là một phần trong thông điệp của bài thơ. Nụ hôn còn biểu đạt tình cảm, sự gắn bó giữa các thế hệ, giữa cha mẹ và con cái, ông bà và cháu chắt, tình yêu lứa đôi, và hơn thế, là sự tiếp nối máu thịt – truyền thống của mỗi gia đình.

“Nụ hôn truyền hơi ấm/ Toe toét môi cười tươi xinh kháu khỉnh/ Bi bô lớn nhanh từng ngày/ Vui gì hơn thế nữa!”

Sự phát triển của một đứa trẻ – từ khi lọt lòng đến lúc lớn dần – được ví như nhận về dưỡng chất từ những nụ hôn của yêu thương. Hạnh phúc vô bờ khi chứng kiến con trẻ trưởng thành được khắc họa bằng những hình ảnh sống động như: “Toe toét môi cười tươi xinh kháu khỉnh”. Một nụ hôn nhỏ bé nhưng chất chứa tình yêu bao la và niềm vui thầm lặng của ông bà, cha mẹ dành cho con cháu.

Hình ảnh “Vợ chồng vai kề vai/ Rong ruổi buổi xế chiều” là biểu tượng của một tình yêu bền vững – đầu bạc răng long – được nuôi dưỡng và duy trì từ những nụ hôn giản dị nhưng đầy gắn kết.

“Hâm nóng lại tình yêu/ Tiếc gì nụ hôn mỗi tuần mỗi tháng/ Đồng điệu rạo rực lúc vừng đông hừng sáng/ Chất chứa bao điều chưa nói hết với con tim…”

Từ những cử chỉ âu yếm trong gia đình, bài thơ mở rộng đến chiều sâu của tình yêu đôi lứa. Nụ hôn không chỉ biểu hiện tình yêu, mà còn là nơi cư ngụ của niềm tin, sự đồng điệu, gắn bó hai tâm hồn – giúp họ viên mãn trong đời sống và tràn đầy hạnh phúc.

Nụ hôn trong chiến tranh – thiêng liêng, cao cả

Sau những hình ảnh đời thường ấm áp, bài thơ chuyển sang một bối cảnh hoàn toàn khác: chiến tranh. Nụ hôn trong chiến tranh chất chứa cả đau thương lẫn thiêng liêng. Tác giả không ngần ngại nhắc đến những “nụ hôn chưa kịp trao”, “nụ hôn cuối cùng”, hay “nụ hôn tiễn biệt” – những khoảnh khắc ngắn ngủi, khi sự sống chỉ còn tính bằng giây.

“Nụ hôn cô y tá, cứu thương/ Nữ TNXP nơi chiến trường lửa đạn/ Tặng người chiến sĩ trước phút lâm chung…”

Nụ hôn gấp gáp mà đầy yêu thương, trân trọng và tiếc nuối, là biểu hiện của lòng biết ơn dành cho người sắp hy sinh. Đó cũng là hành động chia sẻ, nâng đỡ tinh thần – một thứ “tạm biệt” không lời, một cử chỉ thiêng liêng cuối cùng giữa những con người cùng chung lý tưởng.

Khoảnh khắc “Tặng riêng người chiến sĩ trước phút lâm chung” mang theo nỗi đau đớn xen lẫn nhân ái, là sự tri ân đối với người đã ngã xuống vì mục tiêu cao cả: “Độc lập – tự do”. Đó là nụ hôn “không cần giấy phép” – không đòi hỏi lý do hay đồng thuận – mà là hành động cứu rỗi tinh thần, là tiếng nói từ trái tim giữa cuộc đời dở dang.

Sự tạm biệt đầy đau xót

Phần cuối bài thơ là một khúc tráng ca bi thương, nói về sự hy sinh cao cả và nỗi tiếc nuối trước những ước mơ chưa kịp thành hình:

“Em ơi rất có thể/ Anh chết giữa chiến trường/ Đôi môi tươi xé đạn/ Chưa bao giờ được hôn…”

Đây là sự kết hợp giữa một nỗi niềm tiên đoán và một khát khao bị bỏ lỡ – khi người chiến sĩ hiểu rằng mình có thể ra đi bất cứ lúc nào, chưa kịp thực hiện điều giản dị nhất của đời người: một nụ hôn yêu dấu.

“Chưa bao giờ được hôn” – không chỉ là thiếu thốn tình cảm cá nhân, mà còn là biểu tượng của những giấc mơ bị dang dở, của sự sống chưa trọn vẹn.

Tóm lại, dù tác giả chưa nói hết, nhưng bài thơ “Ấm lòng những nụ hôn như thế” là một hành trình cảm xúc sâu sắc – từ sự ấm áp nhẹ nhàng trong gia đình và tình yêu lứa đôi, đến những bi kịch đầy đau thương của chiến tranh.

Nụ hôn – trong bài thơ – không chỉ là cử chỉ biểu đạt tình cảm, mà còn là biểu tượng của sự sống, sự hy sinh và gắn kết thiêng liêng.

  • Với tình cảm gia đình, nụ hôn là sự giao hòa giữa các thế hệ.
  • Trong chiến tranh, nụ hôn là lời tiễn biệt thiêng liêng – trước phút chia xa, trước khi hy sinh.

Dù trong hoàn cảnh nào, “những nụ hôn như thế” vẫn là sợi dây kết nối vô hình giữa người với người, là dấu ấn tình yêu thương, là niềm tin vào những điều thiêng liêng và vô cùng trân quý trong cuộc sống.

Cảm ơn bạn đã gửi tặng mình một tập thơ quý giá!

Hà Nội, ngày 29.06.2025
Võ Đức Kỳ
(Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm