TIN TỨC

Cảm thức thời gian hiện sinh trong thơ Nguyễn Văn Mạnh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-11 18:48:36
mail facebook google pos stwis
2020 lượt xem

"Cảm thức thời gian hiện sinh trong thơ Nguyễn Văn Mạnh" là một bài viết công phu, có chiều sâu của PGS.TS Hồ Thế Hà. Dựa trên hai tập thơ Miền hoa phượngDấu thời gian, tác giả đã khám phá một cách hệ thống thế giới thi ca của Nguyễn Văn Mạnh – một hồn thơ gắn liền với nỗi niềm ly hương, thao thức về quê nhà, lịch sử, tình yêu và thân phận con người trong dòng thời gian không ngừng biến động.

Bài viết không chỉ khắc họa hình ảnh một cây bút đậm chất nhân văn và hiện sinh, mà còn góp phần gợi mở một cách tiếp cận mới đối với thơ ca Việt Nam hiện đại từ góc nhìn mỹ học và triết lý sống sâu sắc. Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin trân trọng giới thiệu bài viết này tới độc giả.

PGS-TS HỒ THẾ HÀ

Nguyễn Văn Mạnh là nhà thơ của nỗi niềm ly hương, sầu xứ trên suốt hành trình tâm linh và hoài vãng của chính người thơ. Hiện thực cuộc sống và hiện thực tâm trạng hoà quyện vào nhau để thành cảm thức hiện sinh trong từng hình tượng thơ, ngôn ngữ thơ và cảm xúc thơ. Qua đó, nhà thơ phản ánh những trạng thái vui buồn, âu lo, bất ổn và hy vọng của mình trước dòng đời và dòng thời gian luôn thao thiết chảy về phía trước, bỏ lại phía sau những không gian hoài niệm đến nhức buốt và nặng sâu ân nghĩa. Từ tập thơ đầu tay Miền hoa phượng (Văn học, 2022) đến tập thơ Dấu thời gian (Hội Nhà văn, 2023), cảm thức thời gian hiện sinh ấy hiện ra rất cụ thể và đa dạng trên từng sự vật và chứng tích u trầm đủ chứng thực cho tâm hồn yêu quê hương, đất nước và luôn khát vọng về những điều tốt đẹp cho nhân sinh. Tất cả được thể hiện bằng tiếng nói thi ca chân thành, nồng nhiệt. Thơ Nguyễn Văn Mạnh, vì vậy, thuộc về mỹ cảm của cái đẹp, cái cao cả và nhân văn, dễ nội cảm trong lòng người đọc.

Khi cầm bút, Nguyễn Văn Mạnh luôn nghĩ về những gì đồng nghĩa với sự có ích của thơ ca. Nhìn con người và thế giới hiện thực chung quanh, anh luôn đặt mình trong nhiều mối quan hệ bản chất và quan hệ tương tác để biết yêu thương và ứng xử trước nhân tình, thế thái: “Xin đàn chớ ngân những nốt vô tình/ Và bút ơi đừng viết dòng vô nghĩa/ Những ánh mắt trong veo soi vào tôi/ Mà tôi thì quá nhỏ/ Khi lòng dâng bão tố trùng trùng” (Ánh mắt trẻ thơ trên cát vạn chài).

Dù anh không tuyên bố cụ thể về quan niệm sáng tác và chức năng thi ca, nhưng qua tình cảm và câu chữ, người đọc vẫn nhận ra khát vọng và ý hướng của anh khi cầm bút. Với Nguyễn Văn Mạnh, hiện thực cuộc đời luôn “đập vào thơ muôn nghìn lớp sóng” (Chế Lan Viên) đã đem lại cho anh những thức nhận mới lạ để kết thành những câu thơ mang hồn sự sống. Trước đảo Trường Sa, anh đã nghiệm sinh và thể hiện bằng thơ rất bất ngờ về những quan hệ giữa thiên nhiên và người lính đảo đang từng ngày, từng giờ sinh sôi và biếc xanh màu hy vọng nơi trùng khơi bão tố:

Nơi tưởng chừng không có chỗ cho thơ

Núi lại biết cắm xuống lòng biển thẳm

Cây bám giữa cỗi cằn tìm chất sống

Chim vín gió trời, lính tựa vào nhau.

Cơn sốt một người cả đảo biết đau

Nỗi buồn sẵn bờ vai để thấm

San hô cháy đỏ ngời trong bể mặn

Ngọn gió nào không hướng phía bờ Nam?

Nơi trên đầu vẫn một mảnh trời xanh

Đảo đá thức cho giấc mơ Tổ quốc

Nơi người lính đem trụi trần xương thịt

Dựng thành lũy thép giữa trùng khơi

   (Một thoáng Trường Sa)

Với cái nhìn hoài niệm và thực chứng về sinh thái thiên nhiên và sinh thái xã hội - tinh thần như thế nên trong thơ Nguyễn Văn Mạnh, cảnh vật và con người luôn hiện lên nhiều ân nghĩa, vẹn nguyên trong ký ức gần và ký ức xa. Ngày thống nhất đất nước, chứng kiến niềm vui vĩ đại của dân tộc, anh liền nhớ đến quê nhà với dáng mẹ mỏi mòn đợi chờ con nơi ngõ vắng: “Bỗng nhớ quê ta, làng Gạo ven sông/ Hoa gạo tháng Ba rụng vào mùa đói/ Dáng gầy guộc nghiêng vào chiều đổ/ Ngõ nhà mẹ đứng đợi con.../ Gánh nợ đời trai con đã trả xong/ Và mẹ ơi con sẽ về với mẹ” (Nghĩ giữa trưa im tiếng súng). Anh sẽ về quê xưa “rũ sạch bùa mê”, “trút lại những phù du” để mở lòng cảm nhận uyên nguyên tình quê, chân quê và hồn quê sau bao năm ly cách:

Trút lại những phù du trả lại tháng năm

Rũ sạch bùa mê

Cởi mảnh hồn ra thau rửa

Mẹ vẫn thắp trái tim đầu ngõ

Cháy không nguôi ngóng gọi ta về.

               (Hồn quê)

Trong ngăn cách, nhà thơ nghe được tiếng quê/ giọng quê trong tận cùng âm sắc, qua đó, nhận ra mọi âm vang và tiếng vọng của quá khứ và biết mình dẫu xa xứ, nhưng không dễ xa quê: “Chìm trong mưa nắng đất người tiếng quê vẫn còn âm ỉ cháy

Dẫu có tỏ mờ những âm sắc ngày xưa/ Tôi nghe bằng lòng mình,/Lần tìm lại những tên xóm, tên người, tên đất cũ/ Nhận được một mảnh hồn/ Xa xứ chẳng xa quê” (Tiếng quê). Về lại quê xưa, gặp lại cảnh vật gần gũi, thân thương ngày nào, anh không nguôi thao thức: “Bây giờ trút hết bụi đường/ Về quê nhung nhớ yêu thương tìm về” (Về quê). Nơi đó, có bao người thân và bạn hữu gọi anh về trong hoài niệm bóng mùa qua, có chén rượu, câu thơ và dậu mồng tơi hoá giải mọi vui buồn nhân thế:

Trải qua bến bể nương dâu

lòng nghe tiếng bạn trên đầu sương phơi

Lại về bên dậu mồng tơi

Tiếng lòng xếp chặt một cơi với trầu

Rượu ngang ấm ruột trái bầu

Chén sành dốc cạn cặp câu thơ buồn

Bạn làm câu lục mưa tuôn

Gọi tôi câu bát về nguồn chân quê.

  (Bạn quê)

Trong không gian làng quê ấy, anh lại nhớ về không gian trường huyện thuở áo trắng sân trường, nơi có bao kỷ niệm ngọt ngào thời gấm hương, hoa mộng. Thời gian hoài vãng, giờ đây, có dịp đánh thức trong anh những rung cảm ngọt ngào trong rộn rã tiếng ve ran, chói chang màu phượng đỏ:

Ba năm cùng bạn vui đèn sách

Trường huyện mở ra cửa cuộc đời

Một chút yêu thương thời mực tím

Sẽ còn vương vấn mãi trong tôi.

       (Nhớ về trường huyện)

Nguyễn Bính ngày xưa cũng nhớ về trường huyện, nhưng cụ thể và nhiều duyên cớ khiến lòng đôi bạn cùng lớp rung cảm, yêu thương: “Học trò trường huyện ngày năm ấy/ Anh tuổi bằng em lớp tuổi thơ/ Những buổi học về không có nón/ Đội đầu chung một lá sen tơ” (Trường huyện). Ở đây, Nguyễn Văn Mạnh cũng nhớ về trường huyện với quan hệ đam luyến ấy, nhưng kín đáo và sâu nặng hơn khi anh gắn kỷ niệm tuổi học trò với đường chân trời rộng mở khi đất nước có chiến tranh, mọi yêu thương lặng thầm thời mực tím cũng đành gác lại để thành kỷ niệm vương vấn mãi suốt hành trình khát khao và dâng hiến. Nhớ về trường huyện, anh hồi nhớ khoảnh khắc gặp cô giáo ngày xưa nơi không gian thân thuộc với khung cảnh học đường thời gian khó: “Bất chợt gặp cô giữa ngõ sâu đơn độc/ Ngọn nến lung linh ngày mất điện giữa hè/ Cô như nến cháy hết mình, cháy hết/ Để lại sân trường thắc thỏm tiếng ve” (Cô giáo dạy toán). Và từ đó, anh nghĩ đến mình, đến bạn bè và mái trường với màu hoa phượng mỗi độ hè về thắp lửa nhớ người xa:

Và chúng tôi bay dưới trời như lá

Ai đã đi xa? thành bại? vui buồn?

Sân trường cũ gió trôi thầm thĩ

Phượng cuối mùa vẫn ủ lửa bâng khuâng.

  (Mái trường)

Nhớ quê xưa, nhớ trường cũ, anh càng nhớ về những cảnh vật và không gian hoài niệm gắn bó thuở đầu trần, chân đất, tóc đỏ, da nâu nơi làng quê yêu dấu. Trong anh, bến sông quê vẫn còn đây trong hoài nhớ day dứt gắn với nỗi niềm riêng khó tả: “Vẫn là cái bến ấy thôi/ Mà tôi thấy ruột gan tôi như cào/ Vô tình cánh én cứ chao/ Dòng trôi xanh biếc hoa đào cứ xuân/ Hình như dùng dắng bước chân/ Hình như hơi thở rất gần sau lưng/ Hình như mây rụng lưng chừng/ Mưa bay lất phất ngập ngừng... như ai”. Quá khứ đồng hiện trong hiện tại để anh giật mình trước bến sông xưa, ngày em sang ngang với pháo cưới, rượu nồng, còn anh thì lặng thầm trong chia biệt. Bất chợt, một cảm giác trôi dạt trong tâm hồn chàng trai hiện lên ngỡ ngàng, hoang vắng, tưởng như con nước và ngọn gió chiều cũng thở dài, xao xuyến, rẽ chia:

Giật mình tiếng gió thở dài

Mái chèo mòn vẹt vỗ hoài mặt sông

Ngày em pháo cưới rượu nồng

Thuyền tôi mất bến nên không bến về.

      (Qua bến cũ)

Trạng thái cô đơn trong hoài nhớ đã làm cho lòng chàng trai không khỏi ngỡ ngàng, tiếc nuối trước lòng mình và trước thiên nhiên đang nhạt nhòa theo mưa gió: “Cỏ may nở tím triền đê/ Bây chừ rụng xuống câu thề ngày xưa/ Hình như trời cũng bớt mưa/ Ngày thì nhạt nắng đêm thừa một canh/ Hình như cây cũng quên xanh/ Bơ vơ song cửa trăng thanh hao gầy/ Ai làm chớp rạch chân mây/ Để mưa nước mắt rơi đầy lòng nhau” (Bây chừ). Hình tượng chàng trai cũng chính là hình tượng tác giả đang xúc động và phân thân thành cái tôi trữ tình ngôi thứ nhất. Nhịp điệu lục bát của bài thơ chính là nhịp tâm trạng - là tiếng nhạc lòng của tác giả, có khả năng đánh thức mối tình ly tan và nguyện thề xưa cũ.

Tiếp cận toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Văn Mạnh, người đọc nhận ra sự sóng đôi trong cấu trúc tâm lý của chủ thể sáng tạo. Những gì mất đi và trôi vào quên lãng thì lập tức được tác giả gọi về trong tiếc nuối và hy vọng. Vui - buồn, được - mất, hiện tại - quá khứ, hiện thể - khả thể, hiện thực - tâm linh, thất vong - hy vọng… đều được anh đồng hiện trong ý thức và tâm lý tự vệ rất cụ thể và tích cực. Vì vậy, thơ Nguyễn Văn Mạnh phản ánh chân thật hành trình ra đi và hành trình trở về của chính người thơ. Qua đó, anh được giàu có và tin yêu để tiếp tục mộng mơ và an bằng tâm thế trước bao biến đổi và phức tạp của dòng đời và tình người. Như đã tìm hiểu, hành trình ra đi và hành trình trở về trong ý thức thường trực của Nguyễn Văn Mạnh chính là cố hương, nơi chôn nhau cắt rốn,“nơi ta buông neo một mảnh tâm hồn” để anh không thôi khao khát nhớ về. Đó chính là Hải Phòng. Hải Phòng đã là cố hương, kết tinh thành cổ mẫu (archétype) luôn ám ảnh và hiện hữu trong những giấc mơ chập chờn, mộng mị của anh. Nơi đây đã chứng kiến không khí sôi động một thời  “đồng đội đi cùng cha gọi mặt trời” vượt qua mọi bão tố hiểm nguy để cùng cánh buồm trở về giao tình yêu và biển cả cho mẹ và em: “Hoa thắp trong em hy vọng đợi anh về”. Bởi vì đã yêu rồi, tình không lo chiến tranh, biển động và bão tố nghìn trùng. Những người mẹ và người yêu đứng trên bờ nhìn khơi xa thấy lửa, biết thuyền về xoá hết nỗi lo âu và chói chang màu hy vọng. Những người đi gọi mặt trời đã vượt qua khói lửa, đạn bom để chiến đấu và chiến thắng:

Nước mắt mẹ sáng ngời ánh lửa

Cho một Hải Phòng

Đi trước về sau

(Miền hoa phượng)

Dùng tiêu đề Miền hoa phượng đặt tên cho tập thơ của mình, hẳn Nguyễn Văn Mạnh đã sống chết với Hải Phòng - thành phố hoa phượng đỏ, nơi anh sinh ra và lớn lên trong đắm say và nặng sâu ân nghĩa, nhắc thức anh luôn nhớ về trong hiện thực và cả trong những giấc mơ vô thức, nhất là trong những năm tháng đất nước chẳng bình yên, nơi quê nhà, có người thân và người yêu đang mong chờ anh trở về vẹn nguyên sau ngày chiến thắng: “Phượng mùa này nở chín những triền đê/ Và tỏa sáng những con đường ra biển lớn”. Trong đổ nát, đau thương, Hải Phòng - miền hoa phượng vẫn ngời lên nhớ thương, tin yêu và hy vọng:Hải Phòng của biết bao đổi thay, thăng trầm trong bể dâu, giông gió vẫn hướng về đường chân trời dào dạt đại dương: “Thành phố của vầng trăng nơi chân trời gọi sóng/ Của tiếng còi tàu khao khát những đại dương/ Hạt muối trắng hơn, mặn nồng hơi thở biển/ Và hoa tươi nở thắm góc đời thường”. Và hiện tại dựng xây càng hồng tươi màu phố mới:

Nơi trái tim của một vùng duyên hải

Hải Phòng lung linh như ngọn hải đăng

Trong  mỗi con người hình như đều có lửa

Trời xanh gần hơn khi phố mới lên tầng

  (Thành phố bên bờ sóng)

Từ Hải Phòng và miền hoa phượng, nhà thơ mở rộng lòng mình, liên hệ và thao thức về những vấn đề rộng lớn, có liên quan đến quê hương, đất nước và con người cũng như những vấn đề trầm tích và hiển minh của lịch sử, văn hoá. Thông qua đó, nhà thơ muốn làm sống lại những kinh nghiệm lịch sử và giá trị văn hoá trong quá khứ và hiện tại của nhân dân và dân tộc để khẳng định chân lý cũng như những quy luật hằng cửu của chúng. Đó là hành trình ký ức mà tác giả luôn thao thức và chiêm cảm để lịch sử và văn hoá bật lên lượng thông tin tâm hồn và ý nghĩa mới mẻ. Những miền quê, di tích, thắng cảnh trong nước và thế giới mà anh đã đến và chiêm quan đều để lại trong anh những hiểu biết, đánh giá và nghiền ngẫm bổ sung khi liên hệ với thực tại.

Đến Yên Tử trong ngày xuân, anh không khỏi ngỡ ngàng trước cảnh vật, đất trời đang giao hoà trong không gian và thời gian thiêng liêng, kỳ ảo mà tiếng chuông ngân là tín hiệu đánh thức sự bừng ngộ của lòng người: “Sương như lưới giăng mùng tình tứ/ Ta hóa con nai vướng sợi tơ trời/ Lúng liếng mắt ngập ngừng hơi thở/ Bỗng giật mình, khi tiếng chuông rơi” (Mùa xuân Yên Tử). Cảm quan thiên nhiên trong thơ Nguyễn Văn Mạnh luôn được nhìn ngắm và cắt nghĩa bằng cái nhìn nhân văn, tương hợp với con người và do con người làm chủ, chứ không phải thiên nhiên làm chủ như quan niệm của thơ trung đại:

Đường dựng dốc quanh co hun hút gió

Như sợi dây kéo ta ngược vào mây

Mù Cả chìm giữa ngàn cây

Hoa ban trắng nở như hồn biên ải

Nghìn năm mặc định ở cuối trời.

              (Hẹn về Mù Cả)

Đến Thác Bạc hùng vĩ, nhà thơ cũng thống nhất cái nhìn tương hỗ giữa con người và thiên nhiên, cảnh vật như thế để thấy được sự ý thức và cái nhìn sinh thái tích cực của con người: “Dưới gầm trời có biết bao ngọn thác/ Đâu chỉ một mình ngọn thác núi Lư/ Thác Bạc vắt ngang mảnh trời Tây Bắc/ Tự nghìn đời chảy mãi vào thơ” (Bên Thác Bạc). Với xứ Lạng - nơi hội tụ những sinh hoạt nhân sinh đặc biệt đã quyến rũ anh để lòng mình chan hoà cùng tình người, non xanh, nước biếc:

Câu ca xưa rủ anh về ải bắc

Ở cuối trời xa lắc đất Đồng Đăng

Bất chợt... em giữa đỉnh mây Kỳ Cấp

Sương như đùa thấp thoáng cánh mùng giăng

Ở đó, cảnh và người hoà quyện đến tự nhiên và quyến rũ: “Hoàng hôn nhuộm Kỳ Cùng đến tím/ Tóc gió thả hương thắt buộc đến xao lòng/ Người ngọc liếc ánh nhìn  bịn rịn/ Nửa nụ cười, nem rượu cũng bằng không”. Cuối cùng, trước cảnh đẹp và người đẹp, nhà thơ không khỏi mạnh dạn ngỏ lời trước mắt cười lúng liếng của cô gái và men rượu bừng thức trong lòng mình:

Đất nước mình có mấy miền gái đẹp

Anh đã đi qua để mua lấy nặng lòng

Lúng liếng muốn nhủ gì trong mắt

Đêm Kỳ Lừa  em có hẹn anh không ?

(Chiều xứ Lạng)

Như đã nói, Nguyễn Văn Mạnh là một hồn thơ không tĩnh vật. Anh luôn có cái nhìn vận động và biện chứng để thức nhận về những điều cao hơn, sâu hơn hiện thực; từ đó, anh luôn thao thức về quá khứ và hiện tại bằng tấm lòng nặng sâu của con người hậu thế: “Đất nước, chiếc nôi thơm hồn cốt Tiên Rồng/ Giông tố ngàn năm chưa bao giờ lay chuyển/ Ta là ta!/ Dẫu mưa nguồn chớp biển/ Giọng thơ Thần/ Hào sảng giữa trùng dương” (Tiếng biển xanh). Bên mộ gió Colin, anh liền liên tưởng đến đế nỗi đau tột cùng của 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu và anh dũng hy sinh để bảo vệ toàn vẹn Gạc Ma - đảo thiêng của Tổ quốc: “Chiều nay bên đảo Cô Lin/ Đứt từng khúc ruột lặng nhìn Gạc Ma/ Một thời bão lửa mưa sa/ Nỗi hờn nợ nước thù nhà còn đây”. Các anh đã thành bất tử trong hoài nhớ và sự biết ơn của nhân dân và đất nước. Những ngôi mộ gió trên bãi cát vàng chính là chứng tích bi hùng nhắc thức và lay động hồn người trong hiện tại:

Các anh đã hóa thành mây

Tan vào biển nước vơi đầy nhớ thương

Hóa thành cột mốc biên cương

Cắm trên đầu sóng kiên cường ngàn năm

Nén nhang mang khói hương trầm

Các anh ơi, các anh nằm nơi đâu

Cát đem trộn nước mắt sầu

Đắp thành mộ gió canh thâu đợi người.

(Bên mộ gió Colin)

Nguyễn Văn Mạnh luôn có cái nhìn xoáy sâu vào hiện tượng, sự vật để phát hiện những tiềm ẩn bên trong; từ đó, đúc rút những điều mới mẻ cho cuộc sống. Đó là cách “Ôn cố tri tân” của anh để nối liền xưa với nay, truyền thống với hiện đại. Đến Kẻ Nú vào tháng Ba, liên hệ thời vua Hùng mở nước và dựng nước, nhà thơ nghĩ về những điều có liên quan đến sự thật và huyền tích về Lạc Long Quân và Âu Cơ để hiểu tận cùng ý nghĩa của hình tượng đồng bàotrăm qủa trứng mà cha ông ta đã hiện thực hoá bằng ước mơ thần thoại để thành tên đất, tên làng sống mãi cùng quá trình dựng nước và giữ nước của nhân dân: “Những huyền tích theo tháng Ba cứ hiện dần lên/ Trăm quả trứng tìm đất lành sinh nở/ Vua cũng như thường dân, cũng lội bùn cấy lúa/ Đất vuông, trời tròn,/ Âm dương giao hòa sinh khí Văn Lang”. Và bao nhiêu tưởng tượng kỳ diệu khác của cha ông đã khẳng định sự tồn sinh bất diệt của dân tộc Việt Nam cho đến ngày nay:“Còn dân tộc mới còn tất cả/ Có nhân dân Tổ quốc mới sinh tồn”. Và nhà thơ thả hồn theo khói hương trầm mùa xuân Kẻ Nú để mơ ước về những điều vĩnh hằng, cao cả:

Ta thả hồn ta bay theo khói hương trầm

Nếu được ước, xin cho thành hạt lúa

Hòa muôn hạt đang rì rầm dưới trời Kẻ Nú

Tới muôn vạn mái quê truyền nhựa sống vĩnh hằng.

  (Tháng ba qua Kẻ Nú)

Còn nhiều những bài thơ về cảnh vật tươi đẹp của thiên nhiên và quê hương, đất nước mà tác gỉa đã chiêm cảm và triết luận rất hay và sâu sắc bằng thơ mà trong giới hạn của một bài viết có tính khái quát này, tôi không thể minh chứng hết. Bạn đọc tiếp nhận toàn bộ Miền hoa phượngDấu thời gian của Nguyễn Văn Mạnh sẽ rút ra được những nhận định đồng sáng tạo của mình để làm đầy ý nghĩa cho tác phẩm.

Tôi muốn nói thêm về vẻ đẹp tình yêu trong thơ Nguyễn Văn Mạnh ở cạnh khía trữ tình để hiểu thêm những cung bậc cảm xúc của anh vừa cụ thể vừa khát khao, mộng tưởng. Đêm Khâu Vai, anh không ngần ngại thổ lộ những mê đắm mãnh liệt: “Đã từng đặt nụ hôn lên môi em/ Bằng tình trai nóng hổi/ Và ngủ quên trong hương tóc em/ Với giấc yêu đắm đuối/ Cuộc tình tưởng vùi giũa lãng quên/ Giữa dòng trôi ba mươi năm có lẻ/ Nhưng đêm nay ai đánh thức trái tim/ Bằng mùi hương con gái?” (Đêm Khâu Vai của tôi). Anh được tiếp thêm sức sống và khát vọng tươi xanh khi có em bên đời xôn xao cùng hoa cỏ: “Em như là ngọn gió lành/ Thổi vào năm tháng cho xanh đất trời/ Bốn mùa mưa nắng đầy vơi/ Có em xuân vẫn cùng tôi hành trình”. Từ đó, bao ký ức hiện về gắn với nghĩa tình trải dài theo năm tháng: “Gừng cay, muối mặn đinh ninh/ Đường xa cái nghĩa cái tình thấm sâu/ Qua sông tôi nhớ nhịp cầu/ Qua đồng tôi nhớ sắc màu đất quê”. Tình yêu, tình quê và thiên nhiên, hoa cỏ tương hợp, tương cảm trong mùa xuân đẹp:

Trời cao cánh én say mê

Nàng xụân đã ở cận kề nơi đây

Ngực tôi uống ngọn gió đầy

Yêu từng ngọn cỏ, mầm cây bên đường

   (Đến mùa xuân)

Tình yêu trong cái nhìn lãng mạn của Nguyễn Văn Mạnh đã thể hiện cụ thể nội tâm và nỗi nhớ thường trực của chính người thơ khi vắng em trong chiều hò hẹn: “Không em chỉ thấy bao nhiêu gió đùa”. Lỡ hẹn rồi, tình dậy lên như biển động mà cỏ thì cứ hết mình xanh thầm thì cùng cánh chuồn chuồn trong gió:

Ngóng em hết đứng lại ngồi

Ngóng em lòng dạ rối bời cả lên

Nhìn theo cái nón chung chiêng

Trách lòng vững tựa chân kiềng làm chi

Dưới chân cỏ cứ thầm thì

Sỏi kêu lạo xạo lối đi thường ngày

Giật mình tháng bảy heo may

Chuồn chuồn giăng kín cánh bay, bão về

        (Lỡ hẹn)

Chỉ có cách là để lòng mình quay về thời trai trẻ “Tìm con mắt ai lúng liếng giếng đình/ Thả vào tim ta nỗi nhớ”, thì mới mong làm sống lại kỷ niệm tình yêu luôn đắm say và ngọt ngào như trái nho tươi: “Kỷ niệm hình như không có tuổi/ Trăm năm vẫn một sắc xanh/ Và em một thời thiếu nữ/ Vẫn trong thương nhớ tim anh” (Trở lại tuổi hai mươi). Phải nói là tình yêu trong thơ Nguyễn Văn Mạnh lãng mạn, thuỷ chung và đa cung bậc, đa sắc thái, có cỏ hoa và thiên nhiên cùng lời thề làm chứng:

Cỏ may nở tím triền đê

Bây chừ rụng xuống câu thề ngày xưa

Hình như trời cũng bớt mưa

Ngày thì nhạt nắng đêm thừa một canh

Hình như cây cũng quên xanh

Bơ vơ song cửa trăng thanh hao gầy

Ai làm chớp rạch chân mây

Để mưa nước mắt rơi đầy lòng nhau.

(Bây chừ)

Còn rất nhiều những câu thơ, khổ thơ và bài thơ nói về tình yêu, về nhân sinh và đời tư - thế sự sâu sắc, giàu nghiệm sinh, triết lý được Nguyễn Văn Mạnh thể hiện bằng kinh nghiệmsự sống thật của chính mình nên chân thành và chân cảm. Một hồn thơ như thế làm sao mà vắng người yêu quý, cảm thông. Rất tiếc trong bài viết ngắn này, tôi không thể phân tích về bình diện hình thức tác phẩm như ngôn ngữ, giọng điệu, nhạc tính thể thơ sở trường của anh, nhất là thể lục bátthể tự do để thấy sự yêu thích và sự làm chủ thể loại một cách tối đa anh - điều mà bất kỳ nhà thơ nào cũng mong đạt được trong qua trình sáng tạo.

***

Qua hai tập thơ Miền hoa phượngDấu thời gian, Nguyễn Văn Mạnh đã thành công trong việc chiếm lĩnh và cắt nghĩa hiện thực đời sống một cách cụ thể, sinh động và nhân ái. Thơ anh cân bằng giữa truyền thống và hiện đại, làm chủ và làm giàu thể loại trên cơ sở giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ để tạo nên tính chân thật cho hình tượng thơ và ngôn ngữ thơ. Từ phạm trù thời gian và cảm thức hiện sinh về thời gian, nhà thơ đã làm sống lại ký ức gần và ký ức xa bằng cách tạo sinh nghĩa mới cho từng sự vật và hiện tượng theo tinh thần thể hiện Cái Mới và Cái Khác, phù hợp với nhu cầu tiếp nhận của người đọc đồng sáng tạo hiện nay. Đó cũng chính là cách làm mới thể loại, thể hiện cái tôi đang tư duycái nhìn nghệ thuật mới mẻ của chủ thể sáng tạo. Thơ anh, vì vậy, thuộc mỹ học của cái đẹp và cái có ích, ngày càng được bạn đọc tiếp nhận và đồng cảm.

Vỹ Dạ, Huế, 6/ 2025

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm