TIN TỨC

“Khúc ru trầm” -Tiếng lòng đồng điệu giữa hồn thơ và giai điệu

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-03-03 10:17:03
mail facebook google pos stwis
2477 lượt xem

                                                                                     Nguyễn Văn Hòa

Hầu như ca từ trong Khúc ru trầm thể hiện đầy đủ mọi cung bậc cảm xúc, bao quát mọi khía cạnh của đời sống bằng sự quan sát tinh tế và thấu đáo của một con người từng trải. 77 ca khúc được phổ từ thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh trong tuyển tập này như bản hòa ca đẹp về thơ, về đời, về người, về tình cảm với quê hương, đất mẹ. Khúc ru trầm đã thêm một minh chứng cho hành trình sáng tạo và lao động nghệ thuật bền bỉ, nghiêm túc của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh. Hơn ai hết chính ông là người hiểu sâu sắc mối quan hệ giữa nhà thơ với thơ, giữa thơ ca và âm nhạc. Đó là nơi trú ngụ, nương thân, tỏa sáng, nâng đỡ nhau và làm đẹp cho nhau.

Tập sách Khúc ru trầm

77 ca khúc phổ thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh bản thân nó đã là những khúc nhạc lòng, du dương trầm bổng. Nhà thơ đã theo sát nhịp đập của cuộc sống để phản ánh thế giới tâm hồn rộng lớn của con người với những biến khúc đa chiều của cái tôi nhiều suy tư, trăn trở; gieo mầm cho những khát khao, hi vọng về cuộc sống và tình yêu. Ở phương diện ngôn từ, thơ Nguyễn Ngọc Hạnh lại chứa đựng khả năng biểu cảm lớn, mang ý nghĩa sâu xa, bởi đó là ngôn từ của cảm xúc, cất lên từ sự thôi thúc của chính trái tim nhạy cảm, yêu thương vô bờ. Thơ anh giàu tính nhạc, thơ đọc lên đã thành những giai điệu đậm chất trữ tình. Đó là lợi thế để thơ Nguyễn Ngọc Hạnh được phổ nhạc nhiều và trở thành những ca khúc hay trong lòng công chúng.

Điều làm nên nét riêng trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, cũng là điểm gây chú ý, tạo nên ấn tượng, sự đồng cảm sâu sắc với độc giả nói chung, các nhạc sĩ nói riêng đó là việc ông xây dựng không - thời gian trong thơ một cách độc đáo. Không gian trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh có thể là bến sông quê, cánh cổng làng, con đường quen thuộc, mái nhà xưa nơi chất chứa nhiều kỷ niệm... cũng có thể là không gian rộng lớn của bao tâm hồn xa cái làng quê nhỏ bé của mình. Song hành với nó là thời gian của quá khứ - hiện tại và cả những dự cảm ở tương lai. Điều đặc biệt, bên cạnh không gian hiện thực ấy, Nguyễn Ngọc Hạnh còn tập trung vào khai thác không gian tâm tưởng. Để rồi hình ảnh nào cũng chất chứa những nỗi niềm, hình ảnh nào dường như cũng có linh hồn riêng ký thác khắc sâu. Vừa thực, vừa ảo, đôi khi chập chờn giữa hai bờ hư thực, khó có thể phân định rạch ròi.  Chính cách xây dựng kiểu không - thời gian như vậy đã làm cho thơ Nguyễn Ngọc Hạnh có sự ám ảnh, gợi đến miền sâu thẳm của thế giới tinh thần. Vì thế, thơ anh có một số lượng bạn đọc lớn, nhất là những người đã từng có nhiều trải nghiệm. Đó cũng là câu trả lời vì sao thơ anh được các nhạc sĩ trong nước và cả những người đang ở hải ngoại tìm đến để phổ thành khúc hát. Có những ca khúc mà các nhạc sĩ đã phổ thơ của anh từ những năm 80 của thế kỉ trước được nhiều người yêu thích. Và trong những năm gần đây, nhiều ca khúc phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh được giới thiệu, được nhắc đến thường xuyên trên các phương tiện truyền thông đại chúng: đài DRT, QRT, VTV1, VTV5, VTV8, VOV, DaNang TV... Điều đáng quý là có những ca khúc phổ từ thơ anh được công chúng yêu thích, giới chuyên môn âm nhạc đánh giá cao và đạt những giải thưởng danh giá của Hội Nhạc sĩ Việt Nam như các bài hát Nhớ mùa hoa ven sông, Làng trong tôi, Đêm xa làng của nhạc sĩ Đình Thậm...

77 ca khúc với những ca từ cất lên đầy nhung nhớ, hiện lên bao hình ảnh thân thương của quê nhà, phố thị, của tình người. Thơ hay, ca từ được gióng lên làm rung động bao nhiêu trái tim khi họ nhận ra trong đó chiều sâu nội cảm: Chỉ mình tôi côi cút phố đêm/ Ngỡ như lạc vào cõi khác/ Ở đây bốn bề dịu ngọt/ Mà bơ vơ từng bước lặng thầm… Rét cuối năm muộn màng ẩm ướt/ Đêm trôi về phía ngày đang mọc/ Tôi trôi theo từng tiếng còi tàu…(Hà Nội phố đêm của Thế Bảo). Nhà thơ ra đi từ làng, về sống nơi phố thị nhưng tình cảm với quê hương, với những điều gắn bó từ làng vẫn vẹn nguyên, vẫn dạt dào, âm ỉ chảy trong huyết mạch. Ở đó, bên cạnh tình cảm dành cho làng nói chung, đứa con xa quê còn dành cho mẹ thứ tình cảm thiêng liêng nhất đó là tình mẫu tử. Với những đứa con hiếu nghĩa, chắc chắn họ sẽ luôn dõi theo và đối xử tử tế với người đã mang nặng đẻ đau để sinh ra chính mình. Những người còn mẹ, những ai mất mẹ, những người mãi mãi không được nhìn thấy mẹ và cả những người dù mẹ còn sống nhưng vẫn không được gần gũi bên mẹ để phụng dưỡng, chăm sóc mẹ cho tròn đạo hiếu đều cảm thấy rưng rưng. Để rồi trên suốt cuộc hành trình làm người ở chốn nhân gian dài rộng, nhiều thăng trầm, biến động này không lúc nào đứa con lại nguôi quên, nhớ thương đến mẹ: Không gọi đò/ Con gọi mẹ ơi/ Sông thì hẹp mà vô bờ đến vậy/ Con đi qua hết một thời trai trẻ/ Từ chiếc đò lòng mẹ qua sông/ Ôi con đò lòng mẹ mênh mông (Qua đò nhớ mẹ). Có phải vì thế mà mỗi lần trở về bên giòng sông ấy lại gợi lên trong lòng nhà thơ bao nuối tiếc: Không còn thì thôi xin đành/ Người ơi tôi cuối hôn mình trên sông (Hôn mình trên sông).

Những bài thơ đầy ắp nỗi niềm thương cảm của nhà thơ đã được gần 40 nhạc sĩ phổ thành 77 ca khúc thật ấn tượng. Có nhiều tên tuổi lớn như nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu với ca khúc Làng; Nguyễn Thụy Kha với ca khúc Quê tôi; Thế Bảo với Hà Nội phố đêm, Nguyễn Cường với Serenade - Thu rơi, Sông chỉ một dòng; Trọng Đài với Phố núi là quê, Biển lặng, Đà Nẵng trên cao, Giấc mơ cỏ xanh, Chợ quê, Nhớ Hội An, Lục bát qua sông, Lời yêu, Tìm lại tuổi thơ…Nhạc sĩ Trọng Lưu với Qua đò nhớ mẹ, Gửi em chỗ ướt mẹ nằm, Thu xa rồi, Cạn cháy cơn mơ, Phạm Đăng Khương với Bến mê, Phố bên sông. Quỳnh Lệ với Tôi bên đời, Thương hoài phố xưa; Nguyễn Đình Thậm với Nhớ mùa hoa ven sông, Làng trong tôi, Đêm xa làng; Nguyễn Vĩnh Tiến của Bà tôi nổi tiếng rất lạ khi phổ bài thơ bài Nhan sắc, Quỳnh Hợp với nhiều ca khúc về quê hương đất Quảng, Trịnh Tuấn Khanh với Ký ức làng quê; Huỳnh Văn Tấn với Phơi cơn mưa lên chiều, Hà Nội và em, Khúc ru trầm, Xanh mãi một dòng sông. Hai anh em nhạc sĩ trẻ tên tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh là Hoài An và Võ Hoài Phúc với nhiều ca khúc tươi mới, giai điệu trẻ trung mang hơi thở hiện đại được nhiều ca sĩ trẻ hiện nay yêu thích. Đặc biệt trong Khúc ru trầm có nhiều các nhạc sĩ Quảng Nam-Đà Nẵng như Nguyễn Duy Khoái, Nam An, Hoàng Bích, Huỳnh Ngọc Hải, Diệp Chí Huy, Đinh Gia Hoà, Nguyễn Đức, Thái Nghĩa, Nguyễn Huy Hùng, Nguyễn Xuân Minh, Trần Ái Nghĩa, Thái Phú, Quang Khánh, Phan Trường Sơn, Nguyễn Đình Thậm,… hầu như mỗi người đều góp phần đưa giai điệu của tâm hồn mình vào hồn thơ Nguyễn Ngọc Hạnh.

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh (thứ hai từ phải sang) cùng các bạn bè văn chương

Có thể nói đây là niềm hạnh phúc lớn của người làm thơ khi thơ mình được bồng bềnh trong từng khúc hát. Đặc biệt, có nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành nhiều ca khúc từ một bài thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh. Đó là sự gặp nhau bởi những tâm hồn đồng điệu giữa nhà thơ - nhạc sĩ. Nhiều người cho rằng, điều cốt lõi là thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh có sức lan tỏa, nó đã chạm tới tận trong thẳm sâu trái tim của người nghệ sĩ. Từ đó, họ đã tìm thấy chính mình, gặp lại bóng dáng quê hương, bản quán mình từ trong nguồn cội... Trên tất cả đó là tình quê hương, tình làng nghĩa xóm, tình bạn bè và cả những người thân yêu ruột thịt. Làm sao không day dứt xốn xang khi nghe ca khúc “Lạc giữa trời xa”, do nhạc sĩ Đinh Gia Hòa phổ từ bài thơ cùng tên với những giai điệu trữ tình này: “Mình tôi/ lạc giữa trời xa/ Mượn ai đây chút quê nhà nương thân/ Xứ người lạ đến phân vân/ Cả vầng trăng cũng khác vầng trăng quê/ Ở đây biển rộng bốn bề/ Mà sao lòng cứ muốn về sông xưa/ Nơi này kẻ đón người đưa/ Mà sao đất khách vẫn thừa mình ra”..

Nguyễn Ngọc Hạnh đã đẩy sáng tạo nghệ thuật của mình chạm đến cội nguồn văn hóa Việt. Làng quê luôn hiện diện trong tâm thức của mỗi con người, nhất là những người có tuổi thơ gắn bó ở đó, rồi bao nhiêu kỷ niệm với người thân, ông bà, cha mẹ ở làng thuở thiếu thời cũng như khi trưởng thành ở làng hay vì lý do nào đó phải xa quê... Nguyễn Ngọc Hạnh gửi trọn vào đó những nỗi niềm trắc ẩn của lòng mình, đời mình vào mảnh đất quê hương, nơi đã gắn với bao ký ức buồn vui một thuở. Người ta đã tìm thấy trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh có những nỗi niềm giống họ, hoặc gợi ra bao miền hư - thực, sáng - tối chập chờn. Chính tình cảm dạt dào đã trở thành sức mạnh lan tỏa tự bên trong của một hồn thơ và cất lên thành giai điệu...

Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh mang âm hưởng đồng quê sâu lắng, dân dã ngọt ngào khi thể hiện tình yêu tha thiết với quê hương, đất nước, đặc biệt là tình mẫu tử. Tiếng nhạc lòng chân thành ấy trong trẻo, du dương, biểu đạt bao nỗi niềm: nghẹn ngào, ẩn ức, thổn thức sâu xa trong trái tim của chủ thể trữ tình. Cả những bài thơ hay ông viết về những vùng đất đã từng đi qua, từng gắn bó. Tất cả đã trở thành hoài niệm đẹp và đó cũng là tiếng nói tâm cảm có thể chạm đến cõi sâu vô thức của nhiều người. Nơi ấy con người tìm thấy bao điều, như là chốn dung thân, là chỗ dựa tinh thần để họ trở về, họ tìm đến, họ cảm thấy ấm lòng sau những bão giông, bộn bề của cuộc sống.

Khúc ru trầm với sự nâng cánh của giai điệu khúc thức, với tình yêu và sự tri âm của người nhạc sĩ đã góp phần đưa tác phẩm thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh đến gần với công chúng hơn, sống lâu bền trong lòng người hâm mộ.

--------------------

*Khúc ru trầm, 77 ca khúc phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, NXB Hội Nhà văn, 2021

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm