TIN TỨC

Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-09-09 20:21:24
mail facebook google pos stwis
421 lượt xem

THY SINH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.

 

Nhà thơ Trúc Thông (1940 – 2021)

 

Bờ sông vẫn gió

 

Lá ngô lay ở bờ sông

Bờ sông vẫn gió

Người không thấy về

Xin người hãy trở về quê

Một lần cuối... một lần về cuối thôi

Về thương lại bến sông trôi

Về buồn lại đã một thời tóc xanh

Lệ xin giọt cuối để dành

Trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha

Cây cau cũ, giại hiên nhà

Còn nghe gió thổi sông xa một lần

Con xin ngắn lại đường gần

Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi.

Trúc Thông

 

Góc nhìn từ nền tảng văn hóa Việt

Tập tục thờ cúng, giỗ chạp của người Việt là nghi lễ thiêng liêng với người thân đã khuất. Người đã mất luôn hiện diện trong ký ức, tình cảm và đời sống tinh thần của người sống. Mong muốn người khuất “trở về” phù hộ, đem lại may mắn, hanh thông, xua tan xui xẻo cho người sống trở thành nét đẹp văn hóa truyền đời.

Chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo cùng tín ngưỡng dân gian, người Việt tin rằng con người có kiếp sau, sống - thác là định mệnh không ai tránh được. Từ nền tảng văn hóa đó, chúng tôi tiếp cận Bờ sông vẫn gió không chỉ như một bài thơ về nỗi đau mất mẹ, mà như một tác phẩm hiểu lẽ sống và cái chết của con người trong cõi nhân sinh.

 

Cơ chế nghệ thuật

Ba câu thơ đầu dựng lên một không gian trống trải, gợi liên tưởng người con vừa lo xong đám tang cho người mẹ. Khi cờ phướn, trống kèn đã cất đi, mọi việc đã chu toàn, chỉ còn lại sự hoang vu của bãi bồi với “lá ngô lay” bên “bờ sông vẫn gió”. Cảm giác thiếu vắng “mẹ” lúc này mới thật sự xâm chiếm tâm hồn người con.

Bờ sông vừa là thực thể của quê hương, vừa như biểu tượng của sự ngăn cách, biệt ly vĩnh viễn. Bên này sông là cõi thực, là cõi người, nhưng “người không thấy về”. Người đã sang bên kia sông, ở miền mây trắng.

Từ sự nhận biết mất mát chuyển thành lời cầu xin mẹ trở về “Xin người hãy trở về quê” với giọng khẩn khoản “một lần về cuối thôi”. Nhưng lạ thay, xin mẹ quay về không phải để “phù hộ độ trì” cho con như ta thường thấy trong tập tục thờ cúng của người Việt, mà xin mẹ “về thương”, “về buồn” cho chính cuộc đời mẹ từ “thời tóc xanh” đến lúc giã từ dương gian.

Bến sông vốn là nơi cố định, nhưng ở đây lại “trôi”. Bởi bến không chỉ là một địa điểm mà đã trở thành biểu tượng của cuộc đời mẹ, nơi con neo giữ tình thân và ký ức. Khi mẹ mất, cái bến tưởng như cố định ấy cũng không còn đứng yên, nó trôi theo người đã khuất.

Nỗi lòng của người con tiếp tục được mô tả trong tình cảnh cha đã mất, giờ mẹ cũng theo cha, “trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha”. Nên “cây cau” hay “giại hiên nhà” giờ không được “thổi hồn” bởi cha mẹ nữa. Chúng vốn dĩ đã đơn sơ, nay lại càng trở nên hiu quạnh qua tiếng “gió thổi sông xa”. Một quang cảnh trống trải, buồn thiu đến nghẹn lòng.

Chính vì thế, hai câu thơ cuối đẩy lời cầu xin mẹ trở về khẩn thiết hơn: “con xin ngắn lại đường gần”. Đường gần vốn đã ngắn, vậy tại sao phải xin ngắn lại? Bởi đây không phải là con đường thực, mà là khoảng cách giữa sinh và tử, giữa người ở lại và người đã khuất. Khoảng cách ấy vốn chỉ như một ranh giới mỏng, nhưng nỗi khát khao của người con muốn nó ngắn thêm nữa, đến mức xóa nhòa ranh giới thì mẹ mới có thể trở về “rồi hãy dần dần đi”.

Đến đây, tầng nghĩa bề mặt của bài thơ đã hiện rõ. Người con đau đớn trước sự mất mẹ, khẩn cầu mẹ “trở về” một lần cuối để nhìn lại cuộc đời mẹ và qua đó con cũng được thấy mẹ lần cuối. Nhưng bài thơ vẫn còn một tầng nghĩa ẩn nói về kiếp nhân sinh.

 

Câu thơ khó giải mã nhất trong bài: “Lệ xin giọt cuối để dành”. Với truyền thống “nghĩa tử là nghĩa tận”, người ta sẽ khóc đến hết nước mắt, nhất là khi khóc đấng sinh thành. Nhưng tại sao lại xin để dành giọt lệ cuối cùng?

Xuyên suốt bài thơ, chúng tôi nhận thấy cha mẹ đều đã mất. Còn vợ, anh chị em, họ hàng hay bạn bè, thậm chí là đồng nghiệp, những người gần gũi với nhân vật “con” đều không được đề cập đến. Vì vậy, chúng tôi cho rằng giọt lệ cuối này chính là giọt lệ mà tác giả xin dành lại để “khóc” cho mình.

Khóc cho mình, vì từ đây nhân vật “con” đã mất cả cha lẫn mẹ. Cũng từ đây, nhân vật “con” nhận ra quy luật sinh - tử của tự nhiên mà con người không thể chống lại. Một ngày nào đó, “con” cũng đi đến điểm tận cùng của kiếp người như cha mẹ.

Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.

 

Cực hạn thẩm mỹ

Như chúng tôi đã phân tích, Bờ sông vẫn gió có hai tầng nghĩa, tầng nghĩa bề mặt mang tính bình dân, dễ tiếp nhận đối với người đọc phổ thông. Bởi ai cũng đã từng hoặc sẽ phải trải qua tình cảnh mất người thân. Giá trị ở tầng nghĩa này là Trúc Thông đã bắt được cái “thần”, thể hiện sự mong muốn của người sống đối với người vừa mất là họ hãy “trở về” lần cuối để người sống chuẩn bị tâm thế chia lìa mãi mãi.

Ở tầng nghĩa ẩn, bài thơ thể hiện triết lý nhân sinh mang tính hàn lâm, kinh nghiệm phổ quát về sinh - tử. Nếu thiếu tầng nghĩa ẩn này, Bờ sông vẫn gió sẽ chỉ là bài thơ hay, gây xúc động mạnh cho người đọc.

Giá trị của tác phẩm nằm ở cả hai tầng nghĩa. Tác giả đã vượt khỏi hoàn cảnh riêng, chạm tới vấn đề muôn thuở của con người, khiến cho Bờ sông vẫn gió có sức sống lâu bền. Tác phẩm kế thừa thi liệu của thơ ca trước đó nhưng rất khó tìm thấy sự tương đồng về mặt tư tưởng hay cơ chế nghệ thuật. Cực hạn thẩm mỹ ở đây không chỉ gọi được cảm xúc đời thường mà còn nâng lên thành nhận thức lớn về kiếp người. Chúng tôi không ngần ngại xem Bờ sông vẫn gió là kiệt tác của văn chương Việt.

Nhà thơ Trúc thông sinh ngày 08/2/1940 tại Bình Lục, Hà Nam (cũ), mất ngày 26/12/2021 tại Hà Nội. Ông được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2016. Bài thơ Bờ sông vẫn gió sáng tác năm 1983 được in trong tập thơ Chầm chậm tới mình (Nxb Tác phẩm mới - 1985). Trúc Thông được nhìn nhận là một nhà thơ có ý thức cao về lao động chữ nghĩa, luôn trăn trở với việc đổi mới thơ ca.

TP.HCM, tháng 8/2026

T.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm