- Lý luận - Phê bình
- Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
THY SINH
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
.jpeg)
Nhà thơ Trúc Thông (1940 – 2021)
Bờ sông vẫn gió
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
Người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối... một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một thời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha
Cây cau cũ, giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần
Con xin ngắn lại đường gần
Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi.
Trúc Thông
Góc nhìn từ nền tảng văn hóa Việt
Tập tục thờ cúng, giỗ chạp của người Việt là nghi lễ thiêng liêng với người thân đã khuất. Người đã mất luôn hiện diện trong ký ức, tình cảm và đời sống tinh thần của người sống. Mong muốn người khuất “trở về” phù hộ, đem lại may mắn, hanh thông, xua tan xui xẻo cho người sống trở thành nét đẹp văn hóa truyền đời.
Chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo cùng tín ngưỡng dân gian, người Việt tin rằng con người có kiếp sau, sống - thác là định mệnh không ai tránh được. Từ nền tảng văn hóa đó, chúng tôi tiếp cận Bờ sông vẫn gió không chỉ như một bài thơ về nỗi đau mất mẹ, mà như một tác phẩm hiểu lẽ sống và cái chết của con người trong cõi nhân sinh.
Cơ chế nghệ thuật
Ba câu thơ đầu dựng lên một không gian trống trải, gợi liên tưởng người con vừa lo xong đám tang cho người mẹ. Khi cờ phướn, trống kèn đã cất đi, mọi việc đã chu toàn, chỉ còn lại sự hoang vu của bãi bồi với “lá ngô lay” bên “bờ sông vẫn gió”. Cảm giác thiếu vắng “mẹ” lúc này mới thật sự xâm chiếm tâm hồn người con.
Bờ sông vừa là thực thể của quê hương, vừa như biểu tượng của sự ngăn cách, biệt ly vĩnh viễn. Bên này sông là cõi thực, là cõi người, nhưng “người không thấy về”. Người đã sang bên kia sông, ở miền mây trắng.
Từ sự nhận biết mất mát chuyển thành lời cầu xin mẹ trở về “Xin người hãy trở về quê” với giọng khẩn khoản “một lần về cuối thôi”. Nhưng lạ thay, xin mẹ quay về không phải để “phù hộ độ trì” cho con như ta thường thấy trong tập tục thờ cúng của người Việt, mà xin mẹ “về thương”, “về buồn” cho chính cuộc đời mẹ từ “thời tóc xanh” đến lúc giã từ dương gian.
Bến sông vốn là nơi cố định, nhưng ở đây lại “trôi”. Bởi bến không chỉ là một địa điểm mà đã trở thành biểu tượng của cuộc đời mẹ, nơi con neo giữ tình thân và ký ức. Khi mẹ mất, cái bến tưởng như cố định ấy cũng không còn đứng yên, nó trôi theo người đã khuất.
Nỗi lòng của người con tiếp tục được mô tả trong tình cảnh cha đã mất, giờ mẹ cũng theo cha, “trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha”. Nên “cây cau” hay “giại hiên nhà” giờ không được “thổi hồn” bởi cha mẹ nữa. Chúng vốn dĩ đã đơn sơ, nay lại càng trở nên hiu quạnh qua tiếng “gió thổi sông xa”. Một quang cảnh trống trải, buồn thiu đến nghẹn lòng.
Chính vì thế, hai câu thơ cuối đẩy lời cầu xin mẹ trở về khẩn thiết hơn: “con xin ngắn lại đường gần”. Đường gần vốn đã ngắn, vậy tại sao phải xin ngắn lại? Bởi đây không phải là con đường thực, mà là khoảng cách giữa sinh và tử, giữa người ở lại và người đã khuất. Khoảng cách ấy vốn chỉ như một ranh giới mỏng, nhưng nỗi khát khao của người con muốn nó ngắn thêm nữa, đến mức xóa nhòa ranh giới thì mẹ mới có thể trở về “rồi hãy dần dần đi”.
Đến đây, tầng nghĩa bề mặt của bài thơ đã hiện rõ. Người con đau đớn trước sự mất mẹ, khẩn cầu mẹ “trở về” một lần cuối để nhìn lại cuộc đời mẹ và qua đó con cũng được thấy mẹ lần cuối. Nhưng bài thơ vẫn còn một tầng nghĩa ẩn nói về kiếp nhân sinh.
Câu thơ khó giải mã nhất trong bài: “Lệ xin giọt cuối để dành”. Với truyền thống “nghĩa tử là nghĩa tận”, người ta sẽ khóc đến hết nước mắt, nhất là khi khóc đấng sinh thành. Nhưng tại sao lại xin để dành giọt lệ cuối cùng?
Xuyên suốt bài thơ, chúng tôi nhận thấy cha mẹ đều đã mất. Còn vợ, anh chị em, họ hàng hay bạn bè, thậm chí là đồng nghiệp, những người gần gũi với nhân vật “con” đều không được đề cập đến. Vì vậy, chúng tôi cho rằng giọt lệ cuối này chính là giọt lệ mà tác giả xin dành lại để “khóc” cho mình.
Khóc cho mình, vì từ đây nhân vật “con” đã mất cả cha lẫn mẹ. Cũng từ đây, nhân vật “con” nhận ra quy luật sinh - tử của tự nhiên mà con người không thể chống lại. Một ngày nào đó, “con” cũng đi đến điểm tận cùng của kiếp người như cha mẹ.
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Cực hạn thẩm mỹ
Như chúng tôi đã phân tích, Bờ sông vẫn gió có hai tầng nghĩa, tầng nghĩa bề mặt mang tính bình dân, dễ tiếp nhận đối với người đọc phổ thông. Bởi ai cũng đã từng hoặc sẽ phải trải qua tình cảnh mất người thân. Giá trị ở tầng nghĩa này là Trúc Thông đã bắt được cái “thần”, thể hiện sự mong muốn của người sống đối với người vừa mất là họ hãy “trở về” lần cuối để người sống chuẩn bị tâm thế chia lìa mãi mãi.
Ở tầng nghĩa ẩn, bài thơ thể hiện triết lý nhân sinh mang tính hàn lâm, kinh nghiệm phổ quát về sinh - tử. Nếu thiếu tầng nghĩa ẩn này, Bờ sông vẫn gió sẽ chỉ là bài thơ hay, gây xúc động mạnh cho người đọc.
Giá trị của tác phẩm nằm ở cả hai tầng nghĩa. Tác giả đã vượt khỏi hoàn cảnh riêng, chạm tới vấn đề muôn thuở của con người, khiến cho Bờ sông vẫn gió có sức sống lâu bền. Tác phẩm kế thừa thi liệu của thơ ca trước đó nhưng rất khó tìm thấy sự tương đồng về mặt tư tưởng hay cơ chế nghệ thuật. Cực hạn thẩm mỹ ở đây không chỉ gọi được cảm xúc đời thường mà còn nâng lên thành nhận thức lớn về kiếp người. Chúng tôi không ngần ngại xem Bờ sông vẫn gió là kiệt tác của văn chương Việt.
Nhà thơ Trúc thông sinh ngày 08/2/1940 tại Bình Lục, Hà Nam (cũ), mất ngày 26/12/2021 tại Hà Nội. Ông được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2016. Bài thơ Bờ sông vẫn gió sáng tác năm 1983 được in trong tập thơ Chầm chậm tới mình (Nxb Tác phẩm mới - 1985). Trúc Thông được nhìn nhận là một nhà thơ có ý thức cao về lao động chữ nghĩa, luôn trăn trở với việc đổi mới thơ ca.
TP.HCM, tháng 8/2026
T.S