TIN TỨC

Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-22 23:13:18
mail facebook google pos stwis
365 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão,  Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.

 

Ảnh sưu tầm. Nguồn internet

 

1. Viết về bốn mùa là một mảng đề tài quan trọng trong thơ Trung đại, trong đó mùa thu chiếm một số lượng tác phẩm nhiều hơn cả. Thơ viết về mùa thu thời Trung đại không chỉ là hiện tượng tự nhiên mà còn gửi gắm nhiều suy ngẫm thời cuộc cùng triết lý nhân sinh sâu sắc. Tìm hiểu thơ viết về mùa thu thời Trung đại không chỉ giúp người đọc thấy được những nét thi pháp quen thuộc của các nhà thơ mà còn giúp chúng ta nhận ra những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh thời đại. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này chúng tôi xin điểm lại thơ thu thời Lý Trần của các nhà thơ đã được đưa vào giảng dạy trong các cấp học nhằm bổ sung cho giáo viên, học sinh và các bạn yêu thơ một số tư liệu hữu ích.

2. Mùa thu trong thơ thời Lý

Dưới thời nhà Lý, Phật giáo phát triển rất mạnh do đó thơ Thiền thời Lý cũng phát triển mạnh mẽ, đội ngũ sáng tác chủ yếu là các thiền sư và các cư sĩ. Cảm thức mùa thu trong thơ Thiền giai đoạn này gắn liền với những suy ngẫm của hệ tư tưởng triết học Phật giáo. Từ sự cảm nhận các quy luật của tự nhiên mà các nhà thơ thường gửi gắm vào đó ít nhiều triết lý nhân sinh hoặc thể hiện sự giác ngộ của mình. Thiền sư Vạn Hạnh (938-1018) là người có đóng góp tích cực với vua Lê Đại Hành trong việc giữ nước và có vai trò quan trọng trong việc lên ngôi của Lý Công Uẩn cũng như hình thành vương triều Lý. Trước khi mất, Vạn Hạnh cũng để lại bài kệ dặn các đệ tử của mình, bài kệ cũng từ quy luật tự nhiên: mùa xuân cây cỏ tốt tươi đến mùa thu lại héo úa để nói đến sự giác ngộ của mình, khi đã giác ngộ con người có thể  vượt lên nỗi sợ hãi thông thường:

         
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Dịch thơ:

Thân như bóng chớp chiều thu,

Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời.

Sá chi suy thịnh cuộc  đời,

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072 – 1116) là một thiền sư nổi tiếng thời Lý với nhiều phép thần thông quảng đại, gắn với sự đầu thai thành vua Lý Thần Tông. Từ Đạo Hạnh cũng để lại bài kệ dặn đệ tử của mình trước khi mất và cũng mượn những quy luật của tự nhiên để nói sự giác ngộ của mình:

Sắp mất bảo mọi người:

Thu lai bất báo nhạn lai quy,

Lãnh tiếu nhân gian động phát bi.

Vị báo môn nhân lưu luyến trước

Cổ sư kỷ độ tác kim si (sư)

Dịch thơ:

Thu về chẳng báo nhạn theo bay
Cười nhạt người đời uổng xót vay
Thôi hởi môn đồ đừng quyến luyến
Thầy xưa mấy lượt hoá thầy nay.

                                                       (Ngô Tất Tố dịch)

Nhìn chung thơ thời Lý chịu nhiều ảnh hưởng của triết lý Phận giáo và chủ yếu là thơ kệ, các thiền sư thường nhắc tới mùa thu để thể hiện quy luật vận động tuần hoàn của vũ trụ từ đó mà nói đến sự giác ngộ của mình.

3. Thơ thu thời Trần qua một số tác giả tiêu biểu

Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão,  Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.

3.1. Trần Nhân Tông (1258 –1308, tên khai sinh Trần Khâm) là vị vua thứ ba triều Trần, người có công lao lớn trong lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, là một nhà thơ có nhiều đóng góp cho sự phát triển của nền văn học thời Trần đồng thời còn là một thiền sư sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử mang đậm màu sắc Đại Việt. Sự nghiệp sáng tác của Trần Nhân Tông gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, ngoài những sáng tác chứa đựng tư tưởng Thiền còn có nhiều bài thơ trữ tình gần gũi với đời sống của một tâm hồn thơ đích thực nhất là những bài viết về mùa xuân và mùa thu. Thơ thu của Trần Nhân Tông mặc dù còn mang bút pháp của thơ thu truyền thống nhưng đồng thời có những nét riêng về cảnh vật và tâm trạng gắn với tư tưởng Thiền tông. Năm 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con rồi lên làm Thái thượng hoàng và sau đó đi tu, khoảng thời gian đó cũng giúp tác giả có điều kiện đi thăm thú cảnh đẹp nhiều nơi và có những bài thơ về mùa thu ở đó. Trong một lần về thăm lại hành cung nhà Trần ở Vũ Lâm (Hoa Lư- Ninh Bình), trước vẻ đẹp bức tranh mùa thu nơi đây, Trần Nhân Tông sáng tác bài thơ Vũ Lâm thu vãn, cảnh vật độ cuối thu mang vẻ mơ màng, hư ảo, tịch lặng rất gần với những bức tranh thủy mặc. Ẩn sau bức tranh ấy là nhân vật trữ tình với tâm thế an nhiên, tự tại, không vướng bận nhiều đến thế sự:

Vũ Lâm thu vãn

Hoạ kiều đảo ảnh trám khê hoành,
Nhất mạt tà dương thuỷ ngoại minh.
Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,
Thấp vân hoà lộ tống chung thanh.

Dịch thơ

Lòng khe in ngược bóng cầu hoa,
Hắt sáng bờ khe, vệt nắng tà.
Lặng lẽ nghìn non, rơi lá đỏ,
Mây giăng như mộng tiếng chuông xa.

(Trần Thị Băng Thanh dịch)

Bài thơ Lạng Châu vãn cảnh, cảnh chiều vùng biên ải Lạng Châu (Lạng Sơn) cũng trong sự thanh vắng, sương khói bao trùm cảnh vật, lá cây rơi rụng khiến lòng người lữ thứ  không khỏi ngậm ngùi, ái ngại, trào dâng bao cảm xúc: 

Lạng Châu vãn cảnh

Cổ tự thê lương thu ái ngoại,
Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ.
Thuỷ minh sơn tĩnh bạch âu quá,
Phong định vân nhàn hồng thụ sơ.

Dịch thơ

Chiều xưa lạnh lẽo khói thu mờ,
Chiều quạnh thuyền câu, chuông vẳng đưa.
Núi lặng, nước quang, âu trắng lượn,
Tạnh mây, im gió, đỏ cây thưa.

(Trần Lê Văn dịch)

3.2. Huyền Quang ( 1254-1334), tên thật là Lý Tái Đạo) là vị tổ thứ ba của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử nhưng đồng thời cũng nhà thơ lớn thời Trần. Nhà bác học Lê Quý Đôn từng cho rằng thơ ông không có khẩu khí nhà chùa, còn học giả Phan Huy Chú trong tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí cũng nhận xét tác phẩm Ngọc tiên tập của Huyền Quang là: “Văn thơ bay bướm phóng khoáng”. Chúng ta chỉ cần đọc hai câu thơ sau cũng phần nào hiểu tâm hồn của Thiền sư - thi sĩ Huyền Quang: Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo/ Thiên hạ cười ta cứ mặc tình. Có khi là một buổi sớm thu không khí dịu nhẹ, thanh sơ, thi nhân thả hồn mình cùng phong cảnh thơ mộng đó mà quên bẵng việc chùa:

Tảo thu

Dạ khí phân lương nhập hoạ bình,
Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh.
Trúc đường vong thích hương sơ tẫn,
Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh.

Sớm thu

Hơi mát đêm thâu lọt tới mành,
Cây sân xào xạc báo thu thanh.
Bên lều quên bẵng hương vừa tắt,
Lưới bủa vầng trăng, mấy khóm cành.

                                 (Nguyễn Đổng Chi dịch)

Đó là căn phòng trên núi trong tiết trời thu gió thổi ngoài hiên nhè nhẹ, những dây leo bò lan trên mái nhà, người theo Thiền lòng đã tịch lặng mà ngoài kia tiếng dế vẫn nỉ non. Có khi lại gặp một ngư ông dong thuyền thưởng ngoạn cảnh nước trời thu một sắc và thả hồn theo tiếng sáo, ánh trăng. Đọc thơ Huyền Quang mới thấy nhiều bài thơ Thiền không cao đàm, khoát luận mà gần gũi, hài hòa với cuộc sống tự nhiên:

Sơn vũ

Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la.
Dĩ hỹ thành thiền tâm nhất phiến,
Cung thanh tức tức vị thuỳ đa.

                     Nhà núi

Gió thu khuya khoắt thoảng hiên ngoài,
Quạch quê nhà non lấp ruổi gai.
Thôi đã theo thiền lòng lặng tắt,
Nỉ non tiếng dễ vẫn vì ai?

                                    (Huệ Chi dịch)

Phiếm chu

Tiểu đĩnh thừa phong phiếm diểu mang,
Sơn thanh thuỷ lục hựu thu quang.
Sổ thanh ngư địch lô hoa ngoại,
Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương.

                   Chơi thuyền

Cưỡi thuyền lướt gió sóng mênh mông,
Non nước trời thu một sắc trong.
Tiếng sáo thuyền câu ngoài bến sậy,
Trăng rơi đáy nước móc đầy sông...

                                (Đinh Văn Chấp dịch)

Thiền sư, thi sĩ Huyền Quang cũng dành nhiều ưu ái với loài hoa đặc trưng của mùa thu với chùm thơ Cúc hoa (6 bài), mỗi bài mang một nét thu riêng cùng tâm cảnh Thiền tịch lặng và gửi gắm vào đó sự giác ngộ của một bậc thức giả như bông cúc đông ly vẫn đượm màu trong lúc muôn hoa đều tàn, chúng ta cùng đọc lại hai bài tiêu biểu:

Cúc hoa - kỳ 3

Vong thân, vong thế, dĩ đô vong,
Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.

Dịch thơ

Quên mình, quên hết cuộc tang thương,
Ngồi lặng đìu hiu, mát cả giường.
Năm cuối trong rừng không có lịch,
Thấy hoa cúc nở biết trùng dương.

                                       ( Phan Võ dịch)

Cúc hoa- kỳ 6

Xuân lai hoàng bạch các phương phi,
Ái diễm liên hương diệc tự thì.
Biến giới phồn hoa toàn truỵ địa,
Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly.

Dịch thơ

Xuân đến trăm hoa đua sắc thắm,
Một thời hương sắc kém chi nhau.
Vườn thu tàn tạ ngàn hoa rụng,
Riêng cúc đông ly vẫn được màu.

                                   (Trần Thị Băng Thanh dịch)

3. 3. Trương Hán Siêu  (? – 1354) là một vị quan trải dưới bốn đời vua Trần, từng giữ các chức: Hàn lâm học sĩ, Hành khiển, Hữu ty lang trung, Tả ty lang trung, Thượng thư; khi mất ông được 2 vua truy tặng chức Thái bảo rồi Thái phó. Ông là một danh nhân văn hóa lớn đời Trần, ngoài kiệt tác văn chương Bạch Đằng giang phú (Phú sông Bạch Đằng) với cảnh sắc mùa thư nới sông nước Bạch Đằng: Bát ngát sóng kình muôn dặm/ Thướt tha đuôi trĩ một màu/ Nước trời một sắc/ Phong cảnh ba thu. Bên cạnh đó Trương Hán Siêu còn để lại nhiều bài thơ thu viết bằng chữ Hán mà tiêu biểu nhất là chùm Cúc hoa bách vịnh. Nhìn chung chùm thơ vịnh cúc của Trương Hán Siêu ngoài việc vịnh vẻ đẹp của loài hoa đặc trưng mùa thu thi nhân còn gửi gắm trong đó bao nỗi niềm tâm sự, đó là nỗi niềm cô đơn, lo lắng, u ẩn của một Nho sĩ ở cuối thời Trần khi những dấu hiệu khủng hoảng, suy vi ngày càng nhiều. Nỗi niềm ấy được gửi gắm kín đáo qua chùm thơ vịnh cúc, chúng ta cùng đọc lại hai bài tiêu biểu để hiểu thêm nỗi lòng thi nhân:

Cúc hoa bách vịnh - kỳ 2

Nhất thu đa vũ hựu đa phong,
Khởi ý thu hoa thượng mãn tùng.
Ưng thị thiên công liên lãnh lạc,
Cố lưu hàn nhị bạn suy ông.

Dich thơ

Trời thu lắm gió lại nhiều mưa,
Khóm trĩu hoa thu thật chẳng ngờ.
Tạo hoá, phải chăng thường quanh vẳng,
Dành bông hoa lạnh bạn già nua.

                           (Đào Phương Bình dịch)

Cúc hoa bách vịnh-  kỳ 4

Khứ niên kim nhật hữu hoa đa,
Ðối khách sầu vô tửu khả xa.
Thế sự tương vi mỗi như thử,
Kim triêu hữu tửu khước vô hoa.

Dich thơ

Ngày này năm ngoái hoa đương rộ,
Không rượu, ngồi suông khách với ta.
Trái ngược, việc đời thường vẫn thế,
Hôm nay có rượu lại không hoa.

(Bản dịch của nhóm Lê Quý Đôn)

4.  Có thể nói thơ thu thời Lý- Trần là một thành tựu đáng ghi nhận và có đóng góp đáng kể trong kho tàng thơ thu của Văn học dân tộc. Mặc dù có nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Thiền nhưng thơ thu thời Lý – Trần mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc rất chân thực, tự nhiên, gần gũi với con người. Tìm hiểu thơ thu thời Lý – Trần còn giúp người đọc thấy được sự vận động của thơ thu trong suốt chiều dài lịch sử.

Tháng 8/2026       

 

Nguyễn Quỳnh Anh

ThS. Nguyễn Quỳnh Anh – Nhà thơ, Hội VHNT Ninh Bình, Giáo viên Trường THPT Kim Sơn A, xã Phát Diệm, Ninh Bình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm