TIN TỨC

Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-22 23:13:18
mail facebook google pos stwis
13 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão,  Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.

 

Ảnh sưu tầm. Nguồn internet

 

1. Viết về bốn mùa là một mảng đề tài quan trọng trong thơ Trung đại, trong đó mùa thu chiếm một số lượng tác phẩm nhiều hơn cả. Thơ viết về mùa thu thời Trung đại không chỉ là hiện tượng tự nhiên mà còn gửi gắm nhiều suy ngẫm thời cuộc cùng triết lý nhân sinh sâu sắc. Tìm hiểu thơ viết về mùa thu thời Trung đại không chỉ giúp người đọc thấy được những nét thi pháp quen thuộc của các nhà thơ mà còn giúp chúng ta nhận ra những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh thời đại. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này chúng tôi xin điểm lại thơ thu thời Lý Trần của các nhà thơ đã được đưa vào giảng dạy trong các cấp học nhằm bổ sung cho giáo viên, học sinh và các bạn yêu thơ một số tư liệu hữu ích.

2. Mùa thu trong thơ thời Lý

Dưới thời nhà Lý, Phật giáo phát triển rất mạnh do đó thơ Thiền thời Lý cũng phát triển mạnh mẽ, đội ngũ sáng tác chủ yếu là các thiền sư và các cư sĩ. Cảm thức mùa thu trong thơ Thiền giai đoạn này gắn liền với những suy ngẫm của hệ tư tưởng triết học Phật giáo. Từ sự cảm nhận các quy luật của tự nhiên mà các nhà thơ thường gửi gắm vào đó ít nhiều triết lý nhân sinh hoặc thể hiện sự giác ngộ của mình. Thiền sư Vạn Hạnh (938-1018) là người có đóng góp tích cực với vua Lê Đại Hành trong việc giữ nước và có vai trò quan trọng trong việc lên ngôi của Lý Công Uẩn cũng như hình thành vương triều Lý. Trước khi mất, Vạn Hạnh cũng để lại bài kệ dặn các đệ tử của mình, bài kệ cũng từ quy luật tự nhiên: mùa xuân cây cỏ tốt tươi đến mùa thu lại héo úa để nói đến sự giác ngộ của mình, khi đã giác ngộ con người có thể  vượt lên nỗi sợ hãi thông thường:

         
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Dịch thơ:

Thân như bóng chớp chiều thu,

Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời.

Sá chi suy thịnh cuộc  đời,

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072 – 1116) là một thiền sư nổi tiếng thời Lý với nhiều phép thần thông quảng đại, gắn với sự đầu thai thành vua Lý Thần Tông. Từ Đạo Hạnh cũng để lại bài kệ dặn đệ tử của mình trước khi mất và cũng mượn những quy luật của tự nhiên để nói sự giác ngộ của mình:

Sắp mất bảo mọi người:

Thu lai bất báo nhạn lai quy,

Lãnh tiếu nhân gian động phát bi.

Vị báo môn nhân lưu luyến trước

Cổ sư kỷ độ tác kim si (sư)

Dịch thơ:

Thu về chẳng báo nhạn theo bay
Cười nhạt người đời uổng xót vay
Thôi hởi môn đồ đừng quyến luyến
Thầy xưa mấy lượt hoá thầy nay.

                                                       (Ngô Tất Tố dịch)

Nhìn chung thơ thời Lý chịu nhiều ảnh hưởng của triết lý Phận giáo và chủ yếu là thơ kệ, các thiền sư thường nhắc tới mùa thu để thể hiện quy luật vận động tuần hoàn của vũ trụ từ đó mà nói đến sự giác ngộ của mình.

3. Thơ thu thời Trần qua một số tác giả tiêu biểu

Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão,  Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.

3.1. Trần Nhân Tông (1258 –1308, tên khai sinh Trần Khâm) là vị vua thứ ba triều Trần, người có công lao lớn trong lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, là một nhà thơ có nhiều đóng góp cho sự phát triển của nền văn học thời Trần đồng thời còn là một thiền sư sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử mang đậm màu sắc Đại Việt. Sự nghiệp sáng tác của Trần Nhân Tông gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, ngoài những sáng tác chứa đựng tư tưởng Thiền còn có nhiều bài thơ trữ tình gần gũi với đời sống của một tâm hồn thơ đích thực nhất là những bài viết về mùa xuân và mùa thu. Thơ thu của Trần Nhân Tông mặc dù còn mang bút pháp của thơ thu truyền thống nhưng đồng thời có những nét riêng về cảnh vật và tâm trạng gắn với tư tưởng Thiền tông. Năm 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con rồi lên làm Thái thượng hoàng và sau đó đi tu, khoảng thời gian đó cũng giúp tác giả có điều kiện đi thăm thú cảnh đẹp nhiều nơi và có những bài thơ về mùa thu ở đó. Trong một lần về thăm lại hành cung nhà Trần ở Vũ Lâm (Hoa Lư- Ninh Bình), trước vẻ đẹp bức tranh mùa thu nơi đây, Trần Nhân Tông sáng tác bài thơ Vũ Lâm thu vãn, cảnh vật độ cuối thu mang vẻ mơ màng, hư ảo, tịch lặng rất gần với những bức tranh thủy mặc. Ẩn sau bức tranh ấy là nhân vật trữ tình với tâm thế an nhiên, tự tại, không vướng bận nhiều đến thế sự:

Vũ Lâm thu vãn

Hoạ kiều đảo ảnh trám khê hoành,
Nhất mạt tà dương thuỷ ngoại minh.
Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,
Thấp vân hoà lộ tống chung thanh.

Dịch thơ

Lòng khe in ngược bóng cầu hoa,
Hắt sáng bờ khe, vệt nắng tà.
Lặng lẽ nghìn non, rơi lá đỏ,
Mây giăng như mộng tiếng chuông xa.

(Trần Thị Băng Thanh dịch)

Bài thơ Lạng Châu vãn cảnh, cảnh chiều vùng biên ải Lạng Châu (Lạng Sơn) cũng trong sự thanh vắng, sương khói bao trùm cảnh vật, lá cây rơi rụng khiến lòng người lữ thứ  không khỏi ngậm ngùi, ái ngại, trào dâng bao cảm xúc: 

Lạng Châu vãn cảnh

Cổ tự thê lương thu ái ngoại,
Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ.
Thuỷ minh sơn tĩnh bạch âu quá,
Phong định vân nhàn hồng thụ sơ.

Dịch thơ

Chiều xưa lạnh lẽo khói thu mờ,
Chiều quạnh thuyền câu, chuông vẳng đưa.
Núi lặng, nước quang, âu trắng lượn,
Tạnh mây, im gió, đỏ cây thưa.

(Trần Lê Văn dịch)

3.2. Huyền Quang ( 1254-1334), tên thật là Lý Tái Đạo) là vị tổ thứ ba của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử nhưng đồng thời cũng nhà thơ lớn thời Trần. Nhà bác học Lê Quý Đôn từng cho rằng thơ ông không có khẩu khí nhà chùa, còn học giả Phan Huy Chú trong tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí cũng nhận xét tác phẩm Ngọc tiên tập của Huyền Quang là: “Văn thơ bay bướm phóng khoáng”. Chúng ta chỉ cần đọc hai câu thơ sau cũng phần nào hiểu tâm hồn của Thiền sư - thi sĩ Huyền Quang: Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo/ Thiên hạ cười ta cứ mặc tình. Có khi là một buổi sớm thu không khí dịu nhẹ, thanh sơ, thi nhân thả hồn mình cùng phong cảnh thơ mộng đó mà quên bẵng việc chùa:

Tảo thu

Dạ khí phân lương nhập hoạ bình,
Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh.
Trúc đường vong thích hương sơ tẫn,
Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh.

Sớm thu

Hơi mát đêm thâu lọt tới mành,
Cây sân xào xạc báo thu thanh.
Bên lều quên bẵng hương vừa tắt,
Lưới bủa vầng trăng, mấy khóm cành.

                                 (Nguyễn Đổng Chi dịch)

Đó là căn phòng trên núi trong tiết trời thu gió thổi ngoài hiên nhè nhẹ, những dây leo bò lan trên mái nhà, người theo Thiền lòng đã tịch lặng mà ngoài kia tiếng dế vẫn nỉ non. Có khi lại gặp một ngư ông dong thuyền thưởng ngoạn cảnh nước trời thu một sắc và thả hồn theo tiếng sáo, ánh trăng. Đọc thơ Huyền Quang mới thấy nhiều bài thơ Thiền không cao đàm, khoát luận mà gần gũi, hài hòa với cuộc sống tự nhiên:

Sơn vũ

Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la.
Dĩ hỹ thành thiền tâm nhất phiến,
Cung thanh tức tức vị thuỳ đa.

                     Nhà núi

Gió thu khuya khoắt thoảng hiên ngoài,
Quạch quê nhà non lấp ruổi gai.
Thôi đã theo thiền lòng lặng tắt,
Nỉ non tiếng dễ vẫn vì ai?

                                    (Huệ Chi dịch)

Phiếm chu

Tiểu đĩnh thừa phong phiếm diểu mang,
Sơn thanh thuỷ lục hựu thu quang.
Sổ thanh ngư địch lô hoa ngoại,
Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương.

                   Chơi thuyền

Cưỡi thuyền lướt gió sóng mênh mông,
Non nước trời thu một sắc trong.
Tiếng sáo thuyền câu ngoài bến sậy,
Trăng rơi đáy nước móc đầy sông...

                                (Đinh Văn Chấp dịch)

Thiền sư, thi sĩ Huyền Quang cũng dành nhiều ưu ái với loài hoa đặc trưng của mùa thu với chùm thơ Cúc hoa (6 bài), mỗi bài mang một nét thu riêng cùng tâm cảnh Thiền tịch lặng và gửi gắm vào đó sự giác ngộ của một bậc thức giả như bông cúc đông ly vẫn đượm màu trong lúc muôn hoa đều tàn, chúng ta cùng đọc lại hai bài tiêu biểu:

Cúc hoa - kỳ 3

Vong thân, vong thế, dĩ đô vong,
Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.

Dịch thơ

Quên mình, quên hết cuộc tang thương,
Ngồi lặng đìu hiu, mát cả giường.
Năm cuối trong rừng không có lịch,
Thấy hoa cúc nở biết trùng dương.

                                       ( Phan Võ dịch)

Cúc hoa- kỳ 6

Xuân lai hoàng bạch các phương phi,
Ái diễm liên hương diệc tự thì.
Biến giới phồn hoa toàn truỵ địa,
Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly.

Dịch thơ

Xuân đến trăm hoa đua sắc thắm,
Một thời hương sắc kém chi nhau.
Vườn thu tàn tạ ngàn hoa rụng,
Riêng cúc đông ly vẫn được màu.

                                   (Trần Thị Băng Thanh dịch)

3. 3. Trương Hán Siêu  (? – 1354) là một vị quan trải dưới bốn đời vua Trần, từng giữ các chức: Hàn lâm học sĩ, Hành khiển, Hữu ty lang trung, Tả ty lang trung, Thượng thư; khi mất ông được 2 vua truy tặng chức Thái bảo rồi Thái phó. Ông là một danh nhân văn hóa lớn đời Trần, ngoài kiệt tác văn chương Bạch Đằng giang phú (Phú sông Bạch Đằng) với cảnh sắc mùa thư nới sông nước Bạch Đằng: Bát ngát sóng kình muôn dặm/ Thướt tha đuôi trĩ một màu/ Nước trời một sắc/ Phong cảnh ba thu. Bên cạnh đó Trương Hán Siêu còn để lại nhiều bài thơ thu viết bằng chữ Hán mà tiêu biểu nhất là chùm Cúc hoa bách vịnh. Nhìn chung chùm thơ vịnh cúc của Trương Hán Siêu ngoài việc vịnh vẻ đẹp của loài hoa đặc trưng mùa thu thi nhân còn gửi gắm trong đó bao nỗi niềm tâm sự, đó là nỗi niềm cô đơn, lo lắng, u ẩn của một Nho sĩ ở cuối thời Trần khi những dấu hiệu khủng hoảng, suy vi ngày càng nhiều. Nỗi niềm ấy được gửi gắm kín đáo qua chùm thơ vịnh cúc, chúng ta cùng đọc lại hai bài tiêu biểu để hiểu thêm nỗi lòng thi nhân:

Cúc hoa bách vịnh - kỳ 2

Nhất thu đa vũ hựu đa phong,
Khởi ý thu hoa thượng mãn tùng.
Ưng thị thiên công liên lãnh lạc,
Cố lưu hàn nhị bạn suy ông.

Dich thơ

Trời thu lắm gió lại nhiều mưa,
Khóm trĩu hoa thu thật chẳng ngờ.
Tạo hoá, phải chăng thường quanh vẳng,
Dành bông hoa lạnh bạn già nua.

                           (Đào Phương Bình dịch)

Cúc hoa bách vịnh-  kỳ 4

Khứ niên kim nhật hữu hoa đa,
Ðối khách sầu vô tửu khả xa.
Thế sự tương vi mỗi như thử,
Kim triêu hữu tửu khước vô hoa.

Dich thơ

Ngày này năm ngoái hoa đương rộ,
Không rượu, ngồi suông khách với ta.
Trái ngược, việc đời thường vẫn thế,
Hôm nay có rượu lại không hoa.

(Bản dịch của nhóm Lê Quý Đôn)

4.  Có thể nói thơ thu thời Lý- Trần là một thành tựu đáng ghi nhận và có đóng góp đáng kể trong kho tàng thơ thu của Văn học dân tộc. Mặc dù có nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Thiền nhưng thơ thu thời Lý – Trần mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc rất chân thực, tự nhiên, gần gũi với con người. Tìm hiểu thơ thu thời Lý – Trần còn giúp người đọc thấy được sự vận động của thơ thu trong suốt chiều dài lịch sử.

Tháng 8/2026       

 

Nguyễn Quỳnh Anh

ThS. Nguyễn Quỳnh Anh – Nhà thơ, Hội VHNT Ninh Bình, Giáo viên Trường THPT Kim Sơn A, xã Phát Diệm, Ninh Bình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm