TIN TỨC

Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-09-07 22:05:43
mail facebook google pos stwis
12 lượt xem

THY SINH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.

 

Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

Miệt vườn

 

má chôn cuống nhau em

vào tiếng cuốc

chiều miệt vườn gió lạc trong cây

đêm bị thương bởi tiếng đờn cò

chú Tư vuốt

ánh trăng thành tiếng nấc

miệt vườn

gan ruột ai xuống xề câu vọng cổ

khách thương hồ

ly rượu bốc mù sương

tiếng vạc sành xe thổ mộ

nhịp hồn xưa

gõ mõ suốt canh trường...

không ai là người dưng

khác làng cũng lối xóm

quầng mây thành bà con

người khuất mặt khuất mày tiên tổ

ổ chim trên bàn thờ

ly rượu uống tàn nhang

miệt vườn

cố hương của nỗi niềm vạn cổ

ai chưa biết thưởng thức nỗi buồn

có đi tới tận cùng châu thổ

cũng không tìm thấy miệt vườn

em là miệt vườn

anh bỏ quên

ngoài cửa sổ.

Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

 

Góc nhìn về châu thổ

Nếu châu thổ sông Hồng là nơi trầm tích văn hóa nén chặt qua hàng nghìn năm từ Đông Sơn đến Đinh, Lê, Lý, Trần để tạo nên chất làng, chất mẹ bền chặt, thì châu thổ Cửu Long lại là vùng đất mới, được khai phá từ thế kỷ XVII bằng căn tính phóng khoáng của lưu dân mở cõi. Ở đó, người ta chủ động đoạn tuyệt với lề thói khắt khe của làng xã phong kiến để dung hợp với sông nước, tạo nên văn minh miệt vườn bộc trực, cởi mở, bao dung.

Đặt Miệt vườn của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh vào chính không gian ấy, ta thấy bà không viết về miệt vườn như một phong cảnh, mà như một căn cước. Và căn cước ấy được làm bằng nỗi buồn.

 

Cơ chế nghệ thuật

Bài thơ bắt đầu từ một chi tiết lạ, “má chôn cuống nhau em / vào tiếng cuốc”. Không chôn vào đất, mà chôn vào âm thanh. Tiếng cuốc là tiếng chim cuốc não nề ở bờ mương, bụi rậm, là tín hiệu đầu tiên để nhận diện đứa trẻ sinh ra trong nỗi buồn của châu thổ mới.

Không chỉ sinh ra, em còn lớn lên trong nỗi buồn ấy. “Chiều miệt vườn gió lạc trong cây”, chỉ có gió và cây đuổi bắt nhau trong cái hoang vu chưa kịp văn minh. Không gian ấy mỏng manh đến mức dễ xước, nên chỉ một tiếng đờn cũng đủ làm “đêm bị thương”, và ánh trăng sau cái vuốt của chú Tư cũng “thành tiếng nấc”.

Nỗi buồn ấy không phải của riêng em. Nó là căn tính, Đến mức một câu vọng cổ muốn giảm xuống cung trầm nhất cũng phải “gan ruột” mới hát nổi. Rồi nỗi buồn lan ra đời sống mưu sinh. Khách thương hồ, những thương nhân lấy ghe làm nhà, uống ly rượu mà rượu cũng “bốc mù sương” như đời phiêu bạt. Tiếng vó ngựa gõ xuống đường của chiếc xe thổ mộ chở vạc sành, cái lu trữ nước ngọt cho vùng đất phèn, lại gợi về “nhịp hồn xưa”, một nhịp điệu cổ xưa, hoàn toàn vắng bóng hiện đại.

Chính trong tâm thế buồn ấy, tình người Nam Bộ hiện ra khác hẳn cấu trúc làng ở Bắc Bộ. Nếu làng Bắc khép kín sau lũy tre, thì ở đây “khác làng cũng lối xóm”. Tính mở ấy không chỉ giữa người với người, mà lan sang cả tự nhiên: “quầng mây thành bà con”.

Và hơn nữa, là tính mở với cõi vô hình. Với đời sống sông nước may rủi, người miền Tây coi tất cả “người khuất mặt khuất mày” đều là “tiên tổ”, đều đáng thờ. Đó là tâm linh đa thần, phóng khoáng. Nơi ổ chim có thể nằm yên trên bàn thờ mà không bị xua đuổi, nơi ly rượu cúng để lâu đến mức tàn nhang rơi xuống cũng cứ uống. Cái thiêng không ở trên cao, mà ở ngay trong bụi bặm đời thường.

Nỗi buồn thường là thứ người ta muốn tránh. Nhưng Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lại khẳng định một cách khẳng khái: “ai chưa biết thưởng thức nỗi buồn / có đi tới tận cùng châu thổ / cũng không tìm thấy miệt vườn”

Người ta thưởng thức âm nhạc, thi ca, hội họa, chứ ai lại thưởng thức nỗi buồn? Chính sự phi lý ấy lại là luận đề của bà.

Miệt vườn lâu nay vẫn được biểu tượng hóa bằng sự sum suê hoa trái, bằng văn minh nông nghiệp trù phú. Bà lật ngược biểu tượng đó. Nếu không đi qua năng lực thưởng thức nỗi buồn, thì mọi miệt vườn chỉ là vườn cây, không phải văn hóa. Không thưởng thức được nỗi buồn, người ta sẽ mất khả năng nhận ra quê hương “cố hương của nỗi niềm vạn cổ”. Đây là một triết lý thẩm mỹ rất Nam Bộ: nỗi buồn không phải để bi lụy, mà để làm nên chiều sâu của một vùng đất mới.

Ba câu cuối, bài thơ thu gọn lại như một lời nhắc cho tình yêu:

“em là miệt vườn / anh bỏ quên / ngoài cửa sổ.”

Ở đây, ngoài cửa sổ là em, trong cửa sổ là anh. Anh ở trong hệ quy chiếu của đô thị, của tri thức, của một vùng đất khác. Nỗi buồn của anh khác nỗi buồn của miệt vườn. Và khi không thể thấu hiểu nỗi buồn ấy, anh đã bỏ quên một căn cước.

Em là miệt vườn - câu thơ tưởng như giản dị nhưng là sự đồng nhất hóa thân phận người phụ nữ với thân phận đất. Người phụ nữ biết chịu đựng, biết bao dung, biết ngồi yên trong nỗi buồn chính là hiện thân của miệt vườn. Và bi kịch không ồn ào, nó chỉ là bị để “ngoài cửa sổ”

Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.

 

Cực hạn thẩm mỹ

Đọc Miệt vườn, chúng tôi thấy phảng phất nỗi buồn của Bà Huyện Thanh Quan trong Thăng Long thành hoài cổ. Nhưng nếu nỗi buồn của người xưa là hoài cổ, lữ thứ, nhìn về một Thăng Long đã mất, thì nỗi buồn của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lại là nỗi buồn bản thể, sòng phẳng và kiêu hãnh. Bà đã đẩy nỗi buồn của một vùng đất mới thành một giá trị nhân văn, thành điều kiện để nhận ra quê hương. Và giá trị đó, bà nhắc trước hết cho người mình yêu là “anh” đã bỏ quên, qua đó nhắc cho tất cả chúng ta.

Đừng xem nhẹ nỗi buồn. Nỗi buồn là thuộc tính chỉ con người mới có được. Hiểu được nỗi buồn, biết thưởng thức nỗi buồn, con người mới đi xa và sống tốt trong cõi người. Ở cực hạn thẩm mỹ ấy, Miệt vườn là một trong số ít bài thơ hay về đồng bằng trù phú miền Tây Nam Bộ không sa vào tả cảnh, mà đi thẳng vào căn tính.

Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh sinh năm 1955 tại Sài Gòn, quê gốc Cần Đước, Long An. Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh và Hội Nhà văn Việt Nam. Bà đã xuất bản 4 tập thơ. Miệt vườn là bài thơ được in trong tập Những vàm sông đêm (Nxb Hội Nhà văn, 2018). Năm 2001, bà được Tặng thưởng thơ tạp chí Tài Hoa Trẻ. Giải thưởng thơ Hội Nhà văn TP.HCM năm 2006 và Giải thưởng thơ của Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 2008.

TP.HCM tháng 8 năm 2026

T.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm