TIN TỨC

Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-09-07 22:05:43
mail facebook google pos stwis
364 lượt xem

THY SINH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.

 

Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

Miệt vườn

 

má chôn cuống nhau em

vào tiếng cuốc

chiều miệt vườn gió lạc trong cây

đêm bị thương bởi tiếng đờn cò

chú Tư vuốt

ánh trăng thành tiếng nấc

miệt vườn

gan ruột ai xuống xề câu vọng cổ

khách thương hồ

ly rượu bốc mù sương

tiếng vạc sành xe thổ mộ

nhịp hồn xưa

gõ mõ suốt canh trường...

không ai là người dưng

khác làng cũng lối xóm

quầng mây thành bà con

người khuất mặt khuất mày tiên tổ

ổ chim trên bàn thờ

ly rượu uống tàn nhang

miệt vườn

cố hương của nỗi niềm vạn cổ

ai chưa biết thưởng thức nỗi buồn

có đi tới tận cùng châu thổ

cũng không tìm thấy miệt vườn

em là miệt vườn

anh bỏ quên

ngoài cửa sổ.

Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

 

Góc nhìn về châu thổ

Nếu châu thổ sông Hồng là nơi trầm tích văn hóa nén chặt qua hàng nghìn năm từ Đông Sơn đến Đinh, Lê, Lý, Trần để tạo nên chất làng, chất mẹ bền chặt, thì châu thổ Cửu Long lại là vùng đất mới, được khai phá từ thế kỷ XVII bằng căn tính phóng khoáng của lưu dân mở cõi. Ở đó, người ta chủ động đoạn tuyệt với lề thói khắt khe của làng xã phong kiến để dung hợp với sông nước, tạo nên văn minh miệt vườn bộc trực, cởi mở, bao dung.

Đặt Miệt vườn của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh vào chính không gian ấy, ta thấy bà không viết về miệt vườn như một phong cảnh, mà như một căn cước. Và căn cước ấy được làm bằng nỗi buồn.

 

Cơ chế nghệ thuật

Bài thơ bắt đầu từ một chi tiết lạ, “má chôn cuống nhau em / vào tiếng cuốc”. Không chôn vào đất, mà chôn vào âm thanh. Tiếng cuốc là tiếng chim cuốc não nề ở bờ mương, bụi rậm, là tín hiệu đầu tiên để nhận diện đứa trẻ sinh ra trong nỗi buồn của châu thổ mới.

Không chỉ sinh ra, em còn lớn lên trong nỗi buồn ấy. “Chiều miệt vườn gió lạc trong cây”, chỉ có gió và cây đuổi bắt nhau trong cái hoang vu chưa kịp văn minh. Không gian ấy mỏng manh đến mức dễ xước, nên chỉ một tiếng đờn cũng đủ làm “đêm bị thương”, và ánh trăng sau cái vuốt của chú Tư cũng “thành tiếng nấc”.

Nỗi buồn ấy không phải của riêng em. Nó là căn tính, Đến mức một câu vọng cổ muốn giảm xuống cung trầm nhất cũng phải “gan ruột” mới hát nổi. Rồi nỗi buồn lan ra đời sống mưu sinh. Khách thương hồ, những thương nhân lấy ghe làm nhà, uống ly rượu mà rượu cũng “bốc mù sương” như đời phiêu bạt. Tiếng vó ngựa gõ xuống đường của chiếc xe thổ mộ chở vạc sành, cái lu trữ nước ngọt cho vùng đất phèn, lại gợi về “nhịp hồn xưa”, một nhịp điệu cổ xưa, hoàn toàn vắng bóng hiện đại.

Chính trong tâm thế buồn ấy, tình người Nam Bộ hiện ra khác hẳn cấu trúc làng ở Bắc Bộ. Nếu làng Bắc khép kín sau lũy tre, thì ở đây “khác làng cũng lối xóm”. Tính mở ấy không chỉ giữa người với người, mà lan sang cả tự nhiên: “quầng mây thành bà con”.

Và hơn nữa, là tính mở với cõi vô hình. Với đời sống sông nước may rủi, người miền Tây coi tất cả “người khuất mặt khuất mày” đều là “tiên tổ”, đều đáng thờ. Đó là tâm linh đa thần, phóng khoáng. Nơi ổ chim có thể nằm yên trên bàn thờ mà không bị xua đuổi, nơi ly rượu cúng để lâu đến mức tàn nhang rơi xuống cũng cứ uống. Cái thiêng không ở trên cao, mà ở ngay trong bụi bặm đời thường.

Nỗi buồn thường là thứ người ta muốn tránh. Nhưng Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lại khẳng định một cách khẳng khái: “ai chưa biết thưởng thức nỗi buồn / có đi tới tận cùng châu thổ / cũng không tìm thấy miệt vườn”

Người ta thưởng thức âm nhạc, thi ca, hội họa, chứ ai lại thưởng thức nỗi buồn? Chính sự phi lý ấy lại là luận đề của bà.

Miệt vườn lâu nay vẫn được biểu tượng hóa bằng sự sum suê hoa trái, bằng văn minh nông nghiệp trù phú. Bà lật ngược biểu tượng đó. Nếu không đi qua năng lực thưởng thức nỗi buồn, thì mọi miệt vườn chỉ là vườn cây, không phải văn hóa. Không thưởng thức được nỗi buồn, người ta sẽ mất khả năng nhận ra quê hương “cố hương của nỗi niềm vạn cổ”. Đây là một triết lý thẩm mỹ rất Nam Bộ: nỗi buồn không phải để bi lụy, mà để làm nên chiều sâu của một vùng đất mới.

Ba câu cuối, bài thơ thu gọn lại như một lời nhắc cho tình yêu:

“em là miệt vườn / anh bỏ quên / ngoài cửa sổ.”

Ở đây, ngoài cửa sổ là em, trong cửa sổ là anh. Anh ở trong hệ quy chiếu của đô thị, của tri thức, của một vùng đất khác. Nỗi buồn của anh khác nỗi buồn của miệt vườn. Và khi không thể thấu hiểu nỗi buồn ấy, anh đã bỏ quên một căn cước.

Em là miệt vườn - câu thơ tưởng như giản dị nhưng là sự đồng nhất hóa thân phận người phụ nữ với thân phận đất. Người phụ nữ biết chịu đựng, biết bao dung, biết ngồi yên trong nỗi buồn chính là hiện thân của miệt vườn. Và bi kịch không ồn ào, nó chỉ là bị để “ngoài cửa sổ”

Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.

 

Cực hạn thẩm mỹ

Đọc Miệt vườn, chúng tôi thấy phảng phất nỗi buồn của Bà Huyện Thanh Quan trong Thăng Long thành hoài cổ. Nhưng nếu nỗi buồn của người xưa là hoài cổ, lữ thứ, nhìn về một Thăng Long đã mất, thì nỗi buồn của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lại là nỗi buồn bản thể, sòng phẳng và kiêu hãnh. Bà đã đẩy nỗi buồn của một vùng đất mới thành một giá trị nhân văn, thành điều kiện để nhận ra quê hương. Và giá trị đó, bà nhắc trước hết cho người mình yêu là “anh” đã bỏ quên, qua đó nhắc cho tất cả chúng ta.

Đừng xem nhẹ nỗi buồn. Nỗi buồn là thuộc tính chỉ con người mới có được. Hiểu được nỗi buồn, biết thưởng thức nỗi buồn, con người mới đi xa và sống tốt trong cõi người. Ở cực hạn thẩm mỹ ấy, Miệt vườn là một trong số ít bài thơ hay về đồng bằng trù phú miền Tây Nam Bộ không sa vào tả cảnh, mà đi thẳng vào căn tính.

Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh sinh năm 1955 tại Sài Gòn, quê gốc Cần Đước, Long An. Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh và Hội Nhà văn Việt Nam. Bà đã xuất bản 4 tập thơ. Miệt vườn là bài thơ được in trong tập Những vàm sông đêm (Nxb Hội Nhà văn, 2018). Năm 2001, bà được Tặng thưởng thơ tạp chí Tài Hoa Trẻ. Giải thưởng thơ Hội Nhà văn TP.HCM năm 2006 và Giải thưởng thơ của Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 2008.

TP.HCM tháng 8 năm 2026

T.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm