- Lý luận - Phê bình
- Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay. Việc tạo ra một phong cách riêng là ý thức của người cầm bút, trong đó có những phong cách mới lạ, vụt hiện, bí hiểm v.v... Ngoài các trào lưu và chủ nghĩa, người ta luôn bị hút vào đám đông, cuốn vào các hiện tượng gây sốc; và một số tác giả "dậm chân tại chỗ", mòn mỏi gặm nhấm danh vị đã có được trên thi đàn.
.jpg)
Nhà thơ DUNG THỊ VÂN
Tôi vẫn bâng quơ đi giữa đôi chiều duyên phận, đọc hết những "kho báu" của người làm thơ, không dám khen chê. Nhưng cảm giác hình như mình đang nếm những thứ nhàn nhạt như nhau, để chấp nhận một thực tại huy hoàng của thời buổi kinh tế thị trường. Nhưng khi gặp một loại thơ bị rẻ rúng, nói thẳng ra là bị chê sau lưng, tôi đã sửng sốt nhận ra: có những kẻ thức muộn!
Kẻ thức muộn ấy có cái tội là không theo quy củ, không theo cái cách mà mọi người đang tán thưởng. Họ một mình chọn đi con đường hẹp, đầy thử thách và có nguy cơ thất bại. Có thể từ đó, tiếng thị phi cứ luồn sâu vào ngóc ngách ích kỷ, làm tổn thương người bộ hành không trang bị một vũ khí tự vệ nào, ngoài những câu chữ được cho là "vớ vẩn"!
Dung Thị Vân là kẻ thức muộn như thế. Những con chữ của chị không ngủ, bởi một cái thú tìm tòi làm mất ngủ ngôn ngữ mà nó muốn nói. Thật ra đã nói mà không ai thèm nghe, hay có khi nghe rồi lại cố "giả lả" cho được lòng, có vài người viết một vài đoạn nhằm ca ngợi lấy lệ, rồi thôi, bởi một lẽ thông thường là không chịu khó tìm hiểu thơ chị. Dù bị chê bai, nhà thơ nữ này vẫn không hề để ý, chị lặng lẽ viết và cho ra đời 10 tác phẩm thơ! Chị nói, kể từ Miên Trầm, thì chị mới bắt đầu có những sáng tạo chữ. Nghĩa là đến năm 2015, tức tập thơ thứ 6 ra đời thì ý thức sáng tạo mới mạnh mẽ. Như một làn gió cuốn hút, thơ Dung Thị Vân bay trong đám lá mùa thu xào xạc để "vàng hơn", để "sắc cạnh" hơn và để "khẳng định mình hơn" khi rơi xuống mặt đất văn chương trần gian đầy chông gai và nghi hoặc...
1. Cá tính sáng tạo
Thường thì người bảo thủ hay chấp nhặt, họ không thích thơ đổi mới, nhất là thơ tự "tạo chữ". Dĩ nhiên họ hiểu rằng, tạo chữ sẽ dễ dẫn đến "tạo nghĩa" vô cùng rối rắm. Tôi không dám chê ai, nhưng đầu óc bảo thủ thì người ta kiên cường lắm! Họ ra sức bảo vệ cái "vỏ ốc ngà" và chê hết những ai dám đi theo con đường khác mà họ gọi là "tối tạo", là ngõ cụt bế tắc... Ở đây, tôi muốn nói đến cái sáng tạo chứ không phải là bế tắc. Có người lợi dụng sáng tạo mà đi vào bế tắc, đi vào thơ "hủ nút". Xét cho kỹ thì Dung Thị Vân không đi con đường đó. Vân đi con đường "tạo chữ" đúng nghĩa. Chị vẫn biết kết hợp giữa thơ ca truyền thống và thơ tự do đổi mới, chỉ có một việc là dám tự nguyện loại bỏ lối mòn, làm cho chữ giàu nghĩa hơn, và dĩ nhiên sẽ khó chịu hơn, gây ra từ trường bí mật hơn một chút. Paul Valery - một nhà thơ, một triết gia người Pháp đã nói: "Thơ không phải để hiểu mà để cảm", chính là ý mà Dung Thị Vân đang hướng tới. Có người cho rằng, có những bài thơ khi đọc lên thấy hay mà chưa hiểu. Tôi cho cảm giác này là thật. Thơ Dung Thị Vân cũng thế, có lúc vì say tạo chữ mà câu thơ trở nên khó hiểu, nhưng vẫn thấy hay. Vậy nên, tôi muốn quay lại tập thơ Miền Gió Ngược một chút để thấy cái hay cũ mà Dung Thị Vân đã từng có, ví như bài thơ sau:
"Em về miền gió ngược
B'lao trăng đỏ trời
Vịn đâu đồi dốc trượt
Thôi vịn vào chơi vơi..."
Bốn câu thơ này ai bảo không hay? Nhưng cái hay đã cũ. Và bài Người về như sau:
"Người về vạt áo mong manh
Tự dưng nhớ rét rồi thành nhớ nhau
Heo may chơm chớm mái đầu
Bàn tay ai vẫy như màu lá chao..."
Hay quá đi chứ! Nhưng Dung Thị Vân thừa hiểu đó là cái hay đã cũ nên không còn dây dưa, nặng nợ với nó cho lắm. Vậy thì những câu thơ mà nữ sĩ đang đi vào "tạo chữ" thì sao? Thì đây, đầu tiên là Miên Trầm với Tiếng thở dài:
"Tiếng thở dài
Viễn sương miền quá khứ
Thả nỗi lòng
Nguyệt lặn đã tàn thu..."
"Viễn sương" và "nguyệt lặn" là hai từ sáng tạo. Nó làm cho câu thơ mở rộng chiều không gian tâm thức hơn, thay vì viết theo lối cũ. Và đây:
"Bài thơ tình chốt lại
Mảnh vỡ buồn khâu vai"
Nếu đọc lướt qua, thì hai câu thơ bình thường quá. Nhưng nếu hiểu được ý tác giả qua từ "khâu vai" thì câu thơ bỗng lóe sáng. Tôi cho đây là cái giỏi của Dung Thị Vân, nhà thơ đã khiến cho câu thơ đọc lên nghe như chơi mà đầy hàm ý độc đáo. Bởi "khâu vai" ngoài nghĩa đen ra, còn có nghĩa bóng là chợ tình Khâu Vai, trường liên tưởng sẽ dẫn người đọc vào mênh mông vô tận của những cuộc tình đẹp của người Tây Bắc. Có lẽ, đây cũng là thủ pháp "tạo chữ" tạo hình đầy mê hoặc của nghệ thuật ngôn từ. Còn trong bài Hóa Mặc nhà thơ đã viết:
"Mặc mùa Ngâu xoay
Quên nắng vàng bậu lối"...
Hóa Mặc là nhan đề bài thơ, là sự biến hóa đã được mặc định bởi thiên duyên thì ai cũng hiểu. Nhưng "bậu lối" thì "bậu" là chữ cổ của người Việt, ví như trong câu hát: "Ví dầu tình bậu muốn thôi / Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra"... thì "bậu" tức là em. Ở đây "bậu lối" là chỉ lối về của em thôi, mà nghe rất lạ và đầy tưởng tiếc, khiến người hoài cổ có liên tưởng sâu hơn về tiếng Việt. Tôi cho đây cũng là một cách biến hóa cho câu từ thêm sâu sắc, và có cảm giác hơn, không còn khô cứng trong câu chữ thường dùng...
2. Thủ pháp tạo chữ
Hóa ra Dung Thị Vân là người vô tình hay hữu ý, thấu thị từng câu thơ của mình, làm thành sự khác biệt vô tưởng. Tôi đọc câu này mà trăn trở:
"Ơ hay! Chai rượu đầu niên kỷ
Cứ rớt bên trời những vá vay..."
"Vá vay" là gì mà nó làm cho câu thơ xao động đến thế? Tôi cho rằng nếu không có từ "vá vay" thì hai câu trên có thể ném đi, không tiếc. Nhưng không, chỉ một từ đơn giản và sắc cạnh đã cứu rỗi cặp thơ này, làm cho câu thơ bay lên nhờ từ mới tạo "vá vay". Thơ Dung Thị Vân không cách tân, không vay mượn. Vậy mà từ trong cái ngỡ là bình thường nhất, bỗng bật ra một cách táo bạo, làm sáng lên một thủ pháp có lẽ chưa ai, hoặc rất ít người làm chăng?
Và cũng trong tập thơ nhỏ Miên Trầm, tôi đã choáng váng khi đọc câu thơ này: "Chiều rơi lại hạt mồ côi xám"... Khoan hãy hỏi nó trong bài nào, câu tiếp theo là gì? Theo tôi, chỉ cần một câu này thôi, cái hay của nó vượt ra ngoài thời gian và không gian sáng tác. Đây là câu thơ hay nhất trong tập Miên Trầm, mang hai giá trị: cao siêu và bí hiểm! Bởi đọc lên nghe hay, và hiểu, thì còn phải chờ. Nó có vóc dáng như câu thơ tiền chiến của cụ Nguyễn Xuân Sanh: "Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà". Đây là câu thơ hay và bí hiểm bậc nhất trong văn học Việt Nam. Tôi không dám so sánh thơ Dung Thị Vân với thơ cụ, nhưng để hiểu cái hay của người thơ, cũng cần một chút trích dẫn...
3. Sự thức nhận
Ai cũng biết rằng thơ là nghệ thuật ngôn từ, nhưng khi ngôn từ đã được chuyển hóa từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, thì nó không còn mang khuynh hướng sáng tác trước đó của tác giả nữa. Từ cái tôi trữ tình sang cái tôi khám phá cảm xúc, nhà thơ đã vô hình dung đặt thơ vào thế "gợi cảm" hơn là "truyền cảm", trong không gian nghệ thuật của riêng mình. Điều này được Dung Thị Vân thể hiện rất sâu sắc qua bài thơ mang tựa đề "Sáng" như sau:
"Buổi sáng - thinh câm
Buổi sáng - sâm cầm
Cắn từng - giọt mực
Gọi tình - trăm năm"...
Chúng ta thấy với nhịp 2 - 2, ngôn từ trở nên gợi cảm. Một buổi sáng mà mọi sắc thái thanh âm dường là những nốt câm. Trong đó, cánh sâm cầm chỉ là một chiếc bóng in trên mặt hồ. Và giọt mực trong trái tim ta bị cắn vỡ, để viết thành tiếng gọi cho cuộc tình trăm năm. Bài thơ cho người đọc một cảm giác mộng ảo, tịnh không có vết tích...
Một thể hư không trong vắt mà cô quạnh, cho người thưởng ngoạn thấy ngôn từ, trong bình diện này là rất quan trọng, nó quyết định một phong cách mới lạ - một dấu "vân chữ" độc đáo của cây bút thích khám phá này.
Một mình, một ngựa dám đi trên con đường độc đạo, phải là người có bộ nơ-ron xoắn ốc, và vốn chữ táo bạo. Chưa vội nói tới thành công hay thất bại, việc tạo ra những con chữ ảo diệu, những ẩn dụ bất ngờ, đã đưa Dung Thị Vân không lẫn với các nhà thơ khác. Chị quan niệm về thơ như Wiliam Butler Yeats rằng: "Cái gì có thể giải thích thì không phải là thơ". Vì thế, chị không những làm thơ có phong cách, mà còn biết cách "tạo chữ" để ghi lại những rung động tinh tế, những cảm xúc trào dâng trong tâm hồn.
Tôi có lúc kinh người khi đọc Dung Thị Vân chỉ với mấy câu sau:
"Lệch nhau
Một thời xô khứ
Lọn nắng hè thiêu
Ve khắc khoải mạ người..."
Đây là bài thơ mà không gian và thời gian quyện siết nhau, không rời. Về không gian hình học, chỉ cần lệch một sát-na thôi thì thời gian xô đổ cả không gian, và ngược lại. Và họa sĩ là chủ nhân sáng tạo, đã vẽ một bức tranh tài hoa mà không có họa sĩ trần gian nào vẽ được. Chiếc cọ thần thánh đã nhúng lửa, thiêu cho tiếng ve khắc khoải sôi, để rồi "mạ vàng" lên mặt người...
Quả thật, những câu thơ đầy thanh âm và đầy thi ảnh trí tuệ, tôi chưa biết diễn giải tài hoa này ra sao, thì vớ được câu nói của Ngài Albert Einstein rằng: "Sáng tạo là trí thông minh đang vui đùa". Vâng, trần thế là những cuộc vui đùa bất tận, thơ là thú vui đùa tao nhã nhất, mà một người thơ thông minh, biết chọn cho riêng mình, bằng cách ghi dấu những "vân chữ" mang đậm hơi thở của kẻ phiêu du, luôn đi tìm sự mới lạ trên những vùng thảo nguyên thi ca xa xôi và kỳ vĩ.
Viết tới đây, tôi chợt nhận ra phẩm giá của thơ Dung Thị Vân, là những gì thật sự cao đẹp, thường không ồn ào. Những gì có giá trị, thường không cần phô trương. Và nhất là con người có tư cách mạnh mẽ, thường im lặng. Bởi không phải họ không biết giá trị thật sự của thơ mình, mà họ biết mỗi lần gục ngã là cơ hội để đứng lên, và để hồi sinh niềm cảm xúc và cơ duyên sáng tạo trong một "cá tính" mà chỉ có vùng khí quyển trong lành mới dung chứa được mà thôi...
Sài Gòn mùa thu 2022 - mùa hạ 2026
N.T.N