TIN TỨC

Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-09-01 15:34:56
mail facebook google pos stwis
545 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Lâu nay, văn học về chiến tranh thường được giới nghiên cứu, phê bình xem xét như là sự gom góp rất nhiều tác phẩm trong quá khứ và hiện tại, chứ chưa được quan niệm như là một tiến trình đầy mâu thuẫn sinh động, giả định là thường xuyên có sự biến đổi về chất bên trong. Từ đây, việc đánh giá văn học về chiến tranh nhất thiết phải được tiến hành bằng sự nghiên cứu, so sánh trên nhiều mặt giữa hai bộ phận: viết trong chiến tranh và sau chiến tranh. Đó là một công việc đòi hỏi sự nỗ lực của nhiều chuyên gia văn học và cần có thời gian. Những ý kiến phác họa trong bài này nghiêng về xem xét bộ phận văn học về chiến tranh viết sau chiến tranh, đặc biệt trong những năm gần đây.

Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn.

Về nguyên tắc, đề tài chiến tranh trong văn học hiện nay không thể tách rời, hơn nữa càng gắn bó mật thiết với đề tài đời thường và càng không thể tách rời với tiến trình chung của văn học, một tiến trình luôn đổi mới. Sáng tạo văn học bao giờ cũng được quy định bởi sự thúc bách của nhu cầu tinh thần thời đại. Trong chiến tranh, văn học phải kịp thời cổ vũ chủ nghĩa anh hùng toàn dân, khẳng định vẻ đẹp lý tưởng cách mạng và xây dựng những tính cách cao cả vì sự nghiệp lớn. Con người đang chiến đấu cần được khích lệ. Văn học về chiến tranh những năm chống Pháp, chống Mỹ đã thực hiện được sứ mạng cao cả của mình, phù hợp với khát vọng về độc lập, tự do của dân tộc. Ngày nay, văn học về chiến tranh phải đáp ứng nhu cầu tinh thần mới, bằng các hình tượng nghệ thuật giúp các thế hệ sau tìm thấy cái chìa khóa để mở cánh cửa của quá khứ, để nhận thức rõ ràng, sâu sắc hơn những vấn đề mà trong hòa bình, trong đời thường dễ bị lu mờ, lãng quên (tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, tình đồng loại, và cao hơn là tình đồng đội, sức mạnh tinh thần trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, tình người chân chính,...).

Cảm hứng nhân đạo của văn học về chiến tranh giờ đây cũng được quan niệm một cách đầy đủ hơn. Văn học thể hiện con người và chiến tranh trên cả hai mặt của một vấn đề: vai trò của con người đối với chiến tranh và vai trò của chiến tranh đối với con người. Như vậy, đứng về mặt triết học, văn học phải tự nhiên quan tâm tới quan hệ giữa con người và hoàn cảnh, cá nhân và xã hội, được và mất,... Văn học về chiến tranh sau chiến tranh không chỉ nhằm tái hiện sự thật về chiến tranh, mà chủ yếu nhằm làm giàu nhận thức của chúng ta về chiến tranh (các xung đột, tính phức tạp, quy luật của chiến tranh,...). Do đó, nó phải đạt tới sự phân tích nghệ thuật sâu sắc mang tính triết học về những gì nảy sinh trong thế giới tinh thần của con người thời đại. Văn học về chiến tranh hôm nay sẽ phát triển trên cái nền của đời sống hòa bình, thường nhật kết hợp với hiện thực quá khứ, được soi sáng trên quan điểm về chân lý lịch sử cụ thể và quan điểm về con người. Nhưng ở đây cũng cần phải nói ngay rằng, chân lý nghệ thuật không nhất thiết đồng nhất với chân lý lịch sử, cũng như điển hình nghệ thuật không đồng nhất với với điển hình đời sống.

Ngày nay, do chịu sự quy định của hoàn cảnh mới (độ lùi thời gian, tâm lý sáng tác, sự tiếp nhận của người đọc, cơ chế mới, giao lưu văn hóa, đặc biệt là tầm văn hóa và tầm nhìn của xã hội đều ở vị thế mới,...), văn học về chiến tranh tất yếu phải đổi mới. Nhưng đổi mới đến đâu thì cũng phải dựa trên nguyên tắc - nhân đạo nghệ thuật. Văn học về chiến tranh hôm nay (đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết) thường phong phú về chủ đề, đa dạng về phong cách và hình thức thể hiện. Không cần một khuôn mẫu nào cho sáng tác văn học, nhưng cần một định hướng lý tưởng nhân văn và thẩm mỹ rõ ràng, trong sáng, nhất là hiện nay, khi văn học về chiến tranh cùng lúc chịu nhiều áp lực khác nhau do cách nhìn chiến tranh từ nhiều góc độ triết học, chính trị, tâm lý, xã hội học, mỹ học, kinh tế học,...

Đã có một cách nhìn méo mó lịch sử, theo những thiên kiến chủ quan. Những thiên kiến này phảng phất một thứ “ý niệm tuyệt đối” về sinh - tử, được - mất, vinh - nhục,... Điều đáng chú ý là, có một số nhà văn chưa già và bản thân họ cũng đã nếm trải chiến tranh, đã sống hào hứng những ngày máu lửa. Nhưng sau này khi trở về cầm bút, kể lại cuộc chiến tranh đã qua, họ lại viết khác với họ sống. Có cảm tưởng như họ vừa thoát nạn “lễ tế thần”. Chiến tranh hiện ra trong một số tác phẩm của họ với bộ mặt gớm guốc khủng khiếp. Con người là nạn nhân thảm hại của cái “cối xay thịt” chiến tranh. Nhân dân vĩ đại trở thành một lực lượng tự phát, mù quáng, đáng thương, è cổ kéo cỗ xe lịch sử. Đáng tiếc là, những tác phẩm như thế lại gây một ấn tượng khá mạnh và sâu trong bạn đọc. Nhiều người đâm ra hoang mang và hoài nghi - nhất là các thế hệ chưa biết gì về chiến tranh. Tuy không nhiều, nhưng vì hạ thấp con người, nên những tác phẩm như thế quả là điều đáng để chúng ta suy nghĩ. Có lẽ, những tác giả viết theo lối ấy dựa theo nguyên tắc tinh thần “phản tỉnh”, “sám hối”. Sự thực thì, không phải lúc nào phản tỉnh, sám hối cũng tất yếu dẫn đến hạ thấp con người. Thật ra, chính nhà văn ngộ nhận, chứ người đọc không ngộ nhận. Các tác phẩm miêu tả người lính trở về sau chiến tranh trở nên bấn loạn, thậm chí có khi trở nên thác loạn. Hội chứng chiến tranh đè bẹp, nghiến nát anh ta. Một hồi ức đẫm máu, nhòe nhoẹt khắp các trang sách. Chiến tranh quả thật không phải trò đùa. Nhưng nếu văn học miêu tả chiến tranh không trung thực và khách quan, làm cho con người rối trí, yếu hèn và bấn loạn tinh thần, thì chắc hẳn khó mà đạt tới đích nhân đạo hóa con người. Có tác phẩm, tuy viết với vẻ chân thực, nhưng sự chân thực ở đây mới ở cấp độ tiểu tiết, chi tiết, bộ phận. Đôi chỗ ngấp nghé tự nhiên chủ nghĩa. Con mắt nhìn của nhà văn trong trường hợp này bị thu hẹp giác độ, chỉ thấy cây mà không thấy rừng.

Nhưng điều làm chúng ta yên tâm là, đa số nhà văn có lương tri không hạ thấp con người, không phủ nhận xương máu của nhân dân đã kiên trì cuộc chiến tranh vì tự do. Mấy năm gần đây xuất hiện nhiều tác phẩm - chủ yếu là tiểu thuyết - có vang hưởng xã hội và có chất lượng nghệ thuật. Những giải thưởng văn học những năm qua đã được trao cho không ít tác phẩm viết về chiến tranh. Những con người trở về sau chiến tranh vẫn không ngơi nghỉ, tiếp tục cuộc đấu tranh để đứng vững trong hoàn cảnh mới. Họ chịu không ít mất mát, thậm chí có khi rơi vào những bi kịch, nhưng họ vẫn giữ được nhân cách của mình vốn được tôi luyện trong chiến tranh. Thực ra, cuộc đấu tranh cải biến xã hội theo lý tưởng nhân văn, không loại trừ bi kịch. Điều đó cắt nghĩa vì sao một số tác phẩm được bạn đọc ái mộ gần đây, đã được viết bằng hình thức bi kịch. Cần nhấn mạnh rằng, sự thành công của nhà văn khi dùng bi kịch thể hiện đời sống, chính là nhờ tựa vững vào nguyên tắc “thanh lọc tâm hồn con người”. Cách nhìn bằng bi kịch, nếu đảm bảo được nguyên tắc nêu trên, thể hiện một trình độ nghệ thuật mới của văn học về chiến tranh, một quan niệm nghệ thuật mới về con người. Đó là những “bi kịch lạc quan” được nâng đỡ bằng cảm hứng tương lai.

Sáng tạo văn học, trước hết và sau hết là của những cá nhân nhà văn. Ngoài tài năng là điều không thể thiếu, còn cần phải có một chữ tâm đích thực. Khảo sát về văn học chiến tranh gần đây, thấy rõ tuyệt đại đa số nhà văn là người có tâm huyết, muốn góp thêm cho đời một giá trị tinh thần mới. Tác phẩm của họ, vì thế, là một phần máu thịt cuộc đời họ. Đa số nhà văn viết về chiến tranh đều là những người chịu trận, từng trải chiến tranh, họ là người cầm súng trước khi cầm bút. Họ viết về những gì họ nghe, thấy, trải qua, và cảm nhận chúng bằng cả tâm hồn. Tác phẩm của họ có sự lắng đọng của kinh nghiệm sống và được chiếu sáng bằng lương tri người nghệ sĩ - công dân. Nhiều khi chỉ qua một chi tiết nhỏ trong tác phẩm bạn đọc thấy rõ, nếu không trải qua chiến tranh, nhà văn không viết được như thế. Triết luận của tác phẩm không phải được phát ra một cách tùy tiện từ người đứng ngoài cuộc hay người thoát nạn mà toát lên từ ý thức trách nhiệm sâu sắc của người cầm bút trước bạn đọc. Văn học về chiến tranh gần đây viết nhiều về nỗi đau, mát mát, về cả những khoảng tối trong mỗi con người. Nhưng cái nhìn của đa số các nhà văn là anh minh và đầy ý thức trách nhiệm. Có một nhà văn nước ngoài đã ví việc viết văn như người lái xe cầm vô - lăng, chịu trách nhiệm trước nhiều người về sinh mệnh của họ. Không thể lơ là trách nhiệm, không thể nửa tỉnh nửa say, phải luôn luôn tỉnh táo.

Cũng không tránh khỏi một cách nhìn có tính vị kỷ ở một vài nhà văn. Có vẻ như viết tác phẩm về cuộc chiến tranh đã qua là cái cớ để họ đay nghiến một điều gì đó, ai đó. Họ biểu hiện trong tác phẩm một sự hối hận vì đã làm một việc vô ích, và thậm chí tuyên truyền cho nhiều người khác rằng - các anh đã làm một việc vô ích.

Rõ ràng, cái nhìn của nhà văn mang tính đạo đức và lý trí rất rõ. Nếu nhìn con người tham gia chiến tranh như kiếp “con sâu cái kiến”, thì tác phẩm của họ tất yếu sẽ vẽ nên hình ảnh con người biến dạng, đáng thương. Bạn đọc thường là thông minh và tự trọng, chắc chắn họ không thích nhà văn thương hại và bêu riếu mình. Nếu nhà văn xuất phát từ cái nhìn bi quan, yếm thế, cực đoan thì chỉ có thể tạo nên những tác phẩm làm mềm yếu con người và tước đi ở con người ý chí, nghị lực và lòng tin vào cái chân - thiện - mỹ.

 Cái nhìn rõ ràng của nhà văn phải là cái nhìn của lý trí sáng suốt. Tất nhiên, sáng tạo văn học trước hết xuất phát từ tình cảm và tác động đến tình cảm con người. Nhưng nếu thiếu ánh sáng của trí tuệ, nhà văn sẽ rơi vào hỗn độn, làm mù mờ tất cả. Henri Barbusse, tác giả cuốn Khói lửa - tiểu thuyết nổi tiếng về chiến tranh, đã viết: “Không có một nghệ thuật nào có sức mạnh mà lại thiếu lý trí, trí tuệ được... Xa rời, đoạn tuyệt với quy luật của trí tuệ, lý trí, là không thể chấp nhận đối với sáng tạo nghệ thuật. Chỉ có trí tuệ - cái vốn không thể thiếu được trong một lĩnh vực không thật cụ thể  và cũng không thật trừu tượng - mới cho chúng ta khả năng để tạo nên tất cả giá trị tác phẩm... Và bất cứ mưu toan nào hạ thấp vai trò của trí tuệ cũng nhằm hạ thấp vai trò của nghệ thuật”.

Đã thấp thoáng xuất hiện trong một vài tác phẩm cái nhìn - tâm linh của người viết văn. Con người có tâm linh, rõ ràng là như thế. Nhưng thế giới tâm linh là một “mê lộ”, “mê cung”. Viết tâm linh, có thể chỉ là một thể nghiệm, tìm tòi, đôi khi nhà văn như nghệ sĩ biểu diễn trên dây, ít nhiều phiêu lưu, mạo hiểm. Nhưng trong lĩnh vực nghệ thuật chúng ta chấp nhận thể nghiệm, có thể “không thành công cùng thành nhân”.

Trong văn học về chiến tranh, đã phát lộ khuynh hướng có ý nghĩa văn hóa thể hiện sứ mệnh hòa giải, hòa hợp dân tộc theo tinh thần “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Suy cho cùng, hơn 100 triệu con dân đất Việt đều là “đồng bào” của nhau, đều là con Rồng cháu Tiên, chung dòng máu Lạc Hồng.

Văn học về chiến tranh khi tái hiện chiến tranh là nhằm đề cao khát vọng hòa bình ở con người. Không thể miêu tả con người say máu chiến tranh, vì như thế nhà văn đã vô tình xúc phạm tới phẩm giá con người. Vì chiến tranh là điều nhân loại không mong muốn. Nhưng trong những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định, chiến tranh cần được tiến hành để bảo vệ độc lập và tự do của dân tộc. Và tiến hành chiến tranh là nhằm bảo vệ và củng cố hòa bình, thực thi khát vọng hòa bình.

Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn.

Từ sự phân tích trên, có thể rút ra một quy luật cho sự phát triển văn học về chiến tranh: Cảm hứng nhân đạo, hòa bình, tương lai là cái giá đỡ cho tác phẩm viết về những cuộc chiến tranh đã qua. Và để văn học hướng con người tới tương lai, thì những tác phẩm viết về chiến tranh phải đạt tới nhiệm vụ nghệ thuật quan trọng là tạo nên cái vốn đạo đức được hình thành, khẳng định trong quá khứ anh hùng.

Không ai ngây thơ nghĩ rằng, văn học có thể ngay lập tức cải biến được xã hội. Trên quan điểm khoa học, sự đóng góp của văn học vào tiến trình xã hội là ở chỗ nó thức tỉnh lương tri con người, bồi dưỡng tâm hồn con gười theo lý tưởng chân - thiện - mỹ cao đẹp. Nó phải có khả năng dự báo xã hội (trên khía cạnh nhân văn), bằng nghệ thuật. Đối với văn học về chiến tranh cũng vậy, thông qua các hình tượng nghệ thuật, các nhà văn có thể gióng một tiếng chuông về những vấn đề xã hội thời hậu chiến, hoặc có thể dự báo hướng phát triển, góp một cách nghĩ, cách giải quyết các vấn đề của đời sống.

Được như vậy, văn học về chiến tranh sẽ thực hiện thiên chức cao cả của mình và sẽ là động lực lớn thúc đẩy xã hội phát triển. Nhân luận bàn xung quanh vấn đề văn học về chiến tranh, thiết nghĩ tư tưởng của V.G. Bêlinxki, nhà phê bình Nga vĩ đại thế kỷ XIX, có thể là bài học cho chúng ta: “Từ biệt quá khứ, cật vấn quá khứ, là nhằm để giải thích hiện tại và để đoán định tương lai của chúng ta”.

Nguồn: Báo Thái Nguyên.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm