TIN TỨC

Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-09-01 15:34:56
mail facebook google pos stwis
66 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Lâu nay, văn học về chiến tranh thường được giới nghiên cứu, phê bình xem xét như là sự gom góp rất nhiều tác phẩm trong quá khứ và hiện tại, chứ chưa được quan niệm như là một tiến trình đầy mâu thuẫn sinh động, giả định là thường xuyên có sự biến đổi về chất bên trong. Từ đây, việc đánh giá văn học về chiến tranh nhất thiết phải được tiến hành bằng sự nghiên cứu, so sánh trên nhiều mặt giữa hai bộ phận: viết trong chiến tranh và sau chiến tranh. Đó là một công việc đòi hỏi sự nỗ lực của nhiều chuyên gia văn học và cần có thời gian. Những ý kiến phác họa trong bài này nghiêng về xem xét bộ phận văn học về chiến tranh viết sau chiến tranh, đặc biệt trong những năm gần đây.

Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn.

Về nguyên tắc, đề tài chiến tranh trong văn học hiện nay không thể tách rời, hơn nữa càng gắn bó mật thiết với đề tài đời thường và càng không thể tách rời với tiến trình chung của văn học, một tiến trình luôn đổi mới. Sáng tạo văn học bao giờ cũng được quy định bởi sự thúc bách của nhu cầu tinh thần thời đại. Trong chiến tranh, văn học phải kịp thời cổ vũ chủ nghĩa anh hùng toàn dân, khẳng định vẻ đẹp lý tưởng cách mạng và xây dựng những tính cách cao cả vì sự nghiệp lớn. Con người đang chiến đấu cần được khích lệ. Văn học về chiến tranh những năm chống Pháp, chống Mỹ đã thực hiện được sứ mạng cao cả của mình, phù hợp với khát vọng về độc lập, tự do của dân tộc. Ngày nay, văn học về chiến tranh phải đáp ứng nhu cầu tinh thần mới, bằng các hình tượng nghệ thuật giúp các thế hệ sau tìm thấy cái chìa khóa để mở cánh cửa của quá khứ, để nhận thức rõ ràng, sâu sắc hơn những vấn đề mà trong hòa bình, trong đời thường dễ bị lu mờ, lãng quên (tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, tình đồng loại, và cao hơn là tình đồng đội, sức mạnh tinh thần trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, tình người chân chính,...).

Cảm hứng nhân đạo của văn học về chiến tranh giờ đây cũng được quan niệm một cách đầy đủ hơn. Văn học thể hiện con người và chiến tranh trên cả hai mặt của một vấn đề: vai trò của con người đối với chiến tranh và vai trò của chiến tranh đối với con người. Như vậy, đứng về mặt triết học, văn học phải tự nhiên quan tâm tới quan hệ giữa con người và hoàn cảnh, cá nhân và xã hội, được và mất,... Văn học về chiến tranh sau chiến tranh không chỉ nhằm tái hiện sự thật về chiến tranh, mà chủ yếu nhằm làm giàu nhận thức của chúng ta về chiến tranh (các xung đột, tính phức tạp, quy luật của chiến tranh,...). Do đó, nó phải đạt tới sự phân tích nghệ thuật sâu sắc mang tính triết học về những gì nảy sinh trong thế giới tinh thần của con người thời đại. Văn học về chiến tranh hôm nay sẽ phát triển trên cái nền của đời sống hòa bình, thường nhật kết hợp với hiện thực quá khứ, được soi sáng trên quan điểm về chân lý lịch sử cụ thể và quan điểm về con người. Nhưng ở đây cũng cần phải nói ngay rằng, chân lý nghệ thuật không nhất thiết đồng nhất với chân lý lịch sử, cũng như điển hình nghệ thuật không đồng nhất với với điển hình đời sống.

Ngày nay, do chịu sự quy định của hoàn cảnh mới (độ lùi thời gian, tâm lý sáng tác, sự tiếp nhận của người đọc, cơ chế mới, giao lưu văn hóa, đặc biệt là tầm văn hóa và tầm nhìn của xã hội đều ở vị thế mới,...), văn học về chiến tranh tất yếu phải đổi mới. Nhưng đổi mới đến đâu thì cũng phải dựa trên nguyên tắc - nhân đạo nghệ thuật. Văn học về chiến tranh hôm nay (đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết) thường phong phú về chủ đề, đa dạng về phong cách và hình thức thể hiện. Không cần một khuôn mẫu nào cho sáng tác văn học, nhưng cần một định hướng lý tưởng nhân văn và thẩm mỹ rõ ràng, trong sáng, nhất là hiện nay, khi văn học về chiến tranh cùng lúc chịu nhiều áp lực khác nhau do cách nhìn chiến tranh từ nhiều góc độ triết học, chính trị, tâm lý, xã hội học, mỹ học, kinh tế học,...

Đã có một cách nhìn méo mó lịch sử, theo những thiên kiến chủ quan. Những thiên kiến này phảng phất một thứ “ý niệm tuyệt đối” về sinh - tử, được - mất, vinh - nhục,... Điều đáng chú ý là, có một số nhà văn chưa già và bản thân họ cũng đã nếm trải chiến tranh, đã sống hào hứng những ngày máu lửa. Nhưng sau này khi trở về cầm bút, kể lại cuộc chiến tranh đã qua, họ lại viết khác với họ sống. Có cảm tưởng như họ vừa thoát nạn “lễ tế thần”. Chiến tranh hiện ra trong một số tác phẩm của họ với bộ mặt gớm guốc khủng khiếp. Con người là nạn nhân thảm hại của cái “cối xay thịt” chiến tranh. Nhân dân vĩ đại trở thành một lực lượng tự phát, mù quáng, đáng thương, è cổ kéo cỗ xe lịch sử. Đáng tiếc là, những tác phẩm như thế lại gây một ấn tượng khá mạnh và sâu trong bạn đọc. Nhiều người đâm ra hoang mang và hoài nghi - nhất là các thế hệ chưa biết gì về chiến tranh. Tuy không nhiều, nhưng vì hạ thấp con người, nên những tác phẩm như thế quả là điều đáng để chúng ta suy nghĩ. Có lẽ, những tác giả viết theo lối ấy dựa theo nguyên tắc tinh thần “phản tỉnh”, “sám hối”. Sự thực thì, không phải lúc nào phản tỉnh, sám hối cũng tất yếu dẫn đến hạ thấp con người. Thật ra, chính nhà văn ngộ nhận, chứ người đọc không ngộ nhận. Các tác phẩm miêu tả người lính trở về sau chiến tranh trở nên bấn loạn, thậm chí có khi trở nên thác loạn. Hội chứng chiến tranh đè bẹp, nghiến nát anh ta. Một hồi ức đẫm máu, nhòe nhoẹt khắp các trang sách. Chiến tranh quả thật không phải trò đùa. Nhưng nếu văn học miêu tả chiến tranh không trung thực và khách quan, làm cho con người rối trí, yếu hèn và bấn loạn tinh thần, thì chắc hẳn khó mà đạt tới đích nhân đạo hóa con người. Có tác phẩm, tuy viết với vẻ chân thực, nhưng sự chân thực ở đây mới ở cấp độ tiểu tiết, chi tiết, bộ phận. Đôi chỗ ngấp nghé tự nhiên chủ nghĩa. Con mắt nhìn của nhà văn trong trường hợp này bị thu hẹp giác độ, chỉ thấy cây mà không thấy rừng.

Nhưng điều làm chúng ta yên tâm là, đa số nhà văn có lương tri không hạ thấp con người, không phủ nhận xương máu của nhân dân đã kiên trì cuộc chiến tranh vì tự do. Mấy năm gần đây xuất hiện nhiều tác phẩm - chủ yếu là tiểu thuyết - có vang hưởng xã hội và có chất lượng nghệ thuật. Những giải thưởng văn học những năm qua đã được trao cho không ít tác phẩm viết về chiến tranh. Những con người trở về sau chiến tranh vẫn không ngơi nghỉ, tiếp tục cuộc đấu tranh để đứng vững trong hoàn cảnh mới. Họ chịu không ít mất mát, thậm chí có khi rơi vào những bi kịch, nhưng họ vẫn giữ được nhân cách của mình vốn được tôi luyện trong chiến tranh. Thực ra, cuộc đấu tranh cải biến xã hội theo lý tưởng nhân văn, không loại trừ bi kịch. Điều đó cắt nghĩa vì sao một số tác phẩm được bạn đọc ái mộ gần đây, đã được viết bằng hình thức bi kịch. Cần nhấn mạnh rằng, sự thành công của nhà văn khi dùng bi kịch thể hiện đời sống, chính là nhờ tựa vững vào nguyên tắc “thanh lọc tâm hồn con người”. Cách nhìn bằng bi kịch, nếu đảm bảo được nguyên tắc nêu trên, thể hiện một trình độ nghệ thuật mới của văn học về chiến tranh, một quan niệm nghệ thuật mới về con người. Đó là những “bi kịch lạc quan” được nâng đỡ bằng cảm hứng tương lai.

Sáng tạo văn học, trước hết và sau hết là của những cá nhân nhà văn. Ngoài tài năng là điều không thể thiếu, còn cần phải có một chữ tâm đích thực. Khảo sát về văn học chiến tranh gần đây, thấy rõ tuyệt đại đa số nhà văn là người có tâm huyết, muốn góp thêm cho đời một giá trị tinh thần mới. Tác phẩm của họ, vì thế, là một phần máu thịt cuộc đời họ. Đa số nhà văn viết về chiến tranh đều là những người chịu trận, từng trải chiến tranh, họ là người cầm súng trước khi cầm bút. Họ viết về những gì họ nghe, thấy, trải qua, và cảm nhận chúng bằng cả tâm hồn. Tác phẩm của họ có sự lắng đọng của kinh nghiệm sống và được chiếu sáng bằng lương tri người nghệ sĩ - công dân. Nhiều khi chỉ qua một chi tiết nhỏ trong tác phẩm bạn đọc thấy rõ, nếu không trải qua chiến tranh, nhà văn không viết được như thế. Triết luận của tác phẩm không phải được phát ra một cách tùy tiện từ người đứng ngoài cuộc hay người thoát nạn mà toát lên từ ý thức trách nhiệm sâu sắc của người cầm bút trước bạn đọc. Văn học về chiến tranh gần đây viết nhiều về nỗi đau, mát mát, về cả những khoảng tối trong mỗi con người. Nhưng cái nhìn của đa số các nhà văn là anh minh và đầy ý thức trách nhiệm. Có một nhà văn nước ngoài đã ví việc viết văn như người lái xe cầm vô - lăng, chịu trách nhiệm trước nhiều người về sinh mệnh của họ. Không thể lơ là trách nhiệm, không thể nửa tỉnh nửa say, phải luôn luôn tỉnh táo.

Cũng không tránh khỏi một cách nhìn có tính vị kỷ ở một vài nhà văn. Có vẻ như viết tác phẩm về cuộc chiến tranh đã qua là cái cớ để họ đay nghiến một điều gì đó, ai đó. Họ biểu hiện trong tác phẩm một sự hối hận vì đã làm một việc vô ích, và thậm chí tuyên truyền cho nhiều người khác rằng - các anh đã làm một việc vô ích.

Rõ ràng, cái nhìn của nhà văn mang tính đạo đức và lý trí rất rõ. Nếu nhìn con người tham gia chiến tranh như kiếp “con sâu cái kiến”, thì tác phẩm của họ tất yếu sẽ vẽ nên hình ảnh con người biến dạng, đáng thương. Bạn đọc thường là thông minh và tự trọng, chắc chắn họ không thích nhà văn thương hại và bêu riếu mình. Nếu nhà văn xuất phát từ cái nhìn bi quan, yếm thế, cực đoan thì chỉ có thể tạo nên những tác phẩm làm mềm yếu con người và tước đi ở con người ý chí, nghị lực và lòng tin vào cái chân - thiện - mỹ.

 Cái nhìn rõ ràng của nhà văn phải là cái nhìn của lý trí sáng suốt. Tất nhiên, sáng tạo văn học trước hết xuất phát từ tình cảm và tác động đến tình cảm con người. Nhưng nếu thiếu ánh sáng của trí tuệ, nhà văn sẽ rơi vào hỗn độn, làm mù mờ tất cả. Henri Barbusse, tác giả cuốn Khói lửa - tiểu thuyết nổi tiếng về chiến tranh, đã viết: “Không có một nghệ thuật nào có sức mạnh mà lại thiếu lý trí, trí tuệ được... Xa rời, đoạn tuyệt với quy luật của trí tuệ, lý trí, là không thể chấp nhận đối với sáng tạo nghệ thuật. Chỉ có trí tuệ - cái vốn không thể thiếu được trong một lĩnh vực không thật cụ thể  và cũng không thật trừu tượng - mới cho chúng ta khả năng để tạo nên tất cả giá trị tác phẩm... Và bất cứ mưu toan nào hạ thấp vai trò của trí tuệ cũng nhằm hạ thấp vai trò của nghệ thuật”.

Đã thấp thoáng xuất hiện trong một vài tác phẩm cái nhìn - tâm linh của người viết văn. Con người có tâm linh, rõ ràng là như thế. Nhưng thế giới tâm linh là một “mê lộ”, “mê cung”. Viết tâm linh, có thể chỉ là một thể nghiệm, tìm tòi, đôi khi nhà văn như nghệ sĩ biểu diễn trên dây, ít nhiều phiêu lưu, mạo hiểm. Nhưng trong lĩnh vực nghệ thuật chúng ta chấp nhận thể nghiệm, có thể “không thành công cùng thành nhân”.

Trong văn học về chiến tranh, đã phát lộ khuynh hướng có ý nghĩa văn hóa thể hiện sứ mệnh hòa giải, hòa hợp dân tộc theo tinh thần “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Suy cho cùng, hơn 100 triệu con dân đất Việt đều là “đồng bào” của nhau, đều là con Rồng cháu Tiên, chung dòng máu Lạc Hồng.

Văn học về chiến tranh khi tái hiện chiến tranh là nhằm đề cao khát vọng hòa bình ở con người. Không thể miêu tả con người say máu chiến tranh, vì như thế nhà văn đã vô tình xúc phạm tới phẩm giá con người. Vì chiến tranh là điều nhân loại không mong muốn. Nhưng trong những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định, chiến tranh cần được tiến hành để bảo vệ độc lập và tự do của dân tộc. Và tiến hành chiến tranh là nhằm bảo vệ và củng cố hòa bình, thực thi khát vọng hòa bình.

Văn học về chiến tranh và cách nhìn của nhà văn.

Từ sự phân tích trên, có thể rút ra một quy luật cho sự phát triển văn học về chiến tranh: Cảm hứng nhân đạo, hòa bình, tương lai là cái giá đỡ cho tác phẩm viết về những cuộc chiến tranh đã qua. Và để văn học hướng con người tới tương lai, thì những tác phẩm viết về chiến tranh phải đạt tới nhiệm vụ nghệ thuật quan trọng là tạo nên cái vốn đạo đức được hình thành, khẳng định trong quá khứ anh hùng.

Không ai ngây thơ nghĩ rằng, văn học có thể ngay lập tức cải biến được xã hội. Trên quan điểm khoa học, sự đóng góp của văn học vào tiến trình xã hội là ở chỗ nó thức tỉnh lương tri con người, bồi dưỡng tâm hồn con gười theo lý tưởng chân - thiện - mỹ cao đẹp. Nó phải có khả năng dự báo xã hội (trên khía cạnh nhân văn), bằng nghệ thuật. Đối với văn học về chiến tranh cũng vậy, thông qua các hình tượng nghệ thuật, các nhà văn có thể gióng một tiếng chuông về những vấn đề xã hội thời hậu chiến, hoặc có thể dự báo hướng phát triển, góp một cách nghĩ, cách giải quyết các vấn đề của đời sống.

Được như vậy, văn học về chiến tranh sẽ thực hiện thiên chức cao cả của mình và sẽ là động lực lớn thúc đẩy xã hội phát triển. Nhân luận bàn xung quanh vấn đề văn học về chiến tranh, thiết nghĩ tư tưởng của V.G. Bêlinxki, nhà phê bình Nga vĩ đại thế kỷ XIX, có thể là bài học cho chúng ta: “Từ biệt quá khứ, cật vấn quá khứ, là nhằm để giải thích hiện tại và để đoán định tương lai của chúng ta”.

Nguồn: Báo Thái Nguyên.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm