TIN TỨC

“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-09-12 17:44:31
mail facebook google pos stwis
15 lượt xem

BẢO BÌNH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

 

Nhà văn Huyền Văn

 

Mở đầu tập truyện này, cũng chính là “Con đường anh đi”, một tác phẩm tiêu biểu. Đó là câu chuyện về Thương - cô gái ngây thơ, trong sáng - với hành trình trưởng thành và bước đi từng bước vững vàng, tiếp nối con đường mà Linh - người bạn cùng lớp, người cộng sản - chàng trai đã yêu thương và dìu dắt Thương trên con đường cách mạng. “Từ đó, tôi theo Linh, theo chúng bạn xuống đường đấu tranh đòi quyền sống, Linh giảng giải cho tôi hiểu thế nào là lý tưởng của thanh niên, dạy tôi viết truyền đơn, viết khẩu hiệu...”. Cô nữ sinh ấy nghĩ rằng mình đang “...chống đối bất công trong xã hội mà thôi!”, cho đến khi Linh hy sinh, và đồng chí của Linh xuất hiện cùng lá thư anh để lại, mọi thứ rõ ràng hơn. Và Thương, không mất nhiều thời gian để trưởng thành, “Đêm nay, tôi cùng đồng đội hành quân ra biên giới Tây Nam...” một quyết định thấu suốt cùng một tâm nguyện, một lời khẳng định chắc nịch: “Linh ơi! Con đường anh đi giờ đã có em...em nguyện sẽ đi tiếp con đường còn dang dở của anh cho đến hơi thở cuối cùng”. Từ một cô gái vô tư sống trong sự bao bọc của gia đình, Thương trở thành bộ đội Cụ Hồ. Chính bởi những trái tim yêu nước bên cạnh đã mở lối, Thương biết đâu là con đường mình nên thuộc về, nên bước tiếp. Đó không chỉ là bước chuyển của tâm lý nhân vật, đó còn là sự cởi bỏ những vô tư trước vận mệnh nước nhà. Tác giả đã hợp lý hóa tính cách và hành động của nhân vật bằng những thủ pháp tăng tiến trong sắp xếp các sự kiện, mâu thuẫn, nút thắt... góp phần đưa nhân vật của mình đến với lý tưởng, một cách nhẹ nhàng mà thuyết phục.

Ở “Tôi đi bộ đội”, ta bắt gặp Huyền - một cô gái với tuổi đời hoa mộng - nhưng khi đứng trước những lựa chọn vẫn đủ sáng suốt để quyết định con đường sống có ích cho gia đình, cho xã hội. Trước hết phải thấy vì “thương má”, vì muốn “giảm gánh nặng cho gia đình” nên sau những trăn trở, Huyền vẫn thấy “Chỉ con đường đi bộ đội là thích hợp nhất...”. Mà tưởng muốn đi bộ đội là được đi sao? Không, “Đây là đợt tuyển quân đặc biệt, chỉ tuyển chọn những thanh niên ưu tú, phù hợp với tiêu chuẩn của quân đội chính qui...”. Và vì là đi bộ đội trong thời bình, nên quân đội được xem như “...một trường đại học tổng hợp...”, vậy là thích quá rồi còn gì? Huyền đã trong tâm thế đó mà lên đường. Hoàn cảnh lớn của đất nước đã tác động trực tiếp đến cuộc sống của mỗi người dân, và nhà văn với khuynh hướng tư duy cách mạng, không vội vàng, đã chầm chậm dẫn dắt nhân vật tuổi trẻ của mình đi từ xung đột nội tâm đến thúc đẩy sự phát triển của hành động, minh chứng cho quá trình giác ngộ lý tưởng một cách hoàn toàn chủ động.

Một cô gái “...trước giờ chưa từng xa nhà...”, lúc tiễn quân còn “ôm má khóc thút thít...” với “...cái thắt nơ màu đỏ trên hai bím tóc...”, trên chuyến xe đưa quân còn ói lên ói xuống, thế mà lại từng bước thích nghi rồi vững vàng tự lúc nào, không chỉ “Chấp hành nghiêm kỷ luật của quân đội...” mà còn biết an ủi, động viên đồng chí bên cạnh, khi Hân “định trốn về thăm má vài bữa...”. “Tôi đi bộ đội” không phải vì thích mà vì buộc phải, nhưng rồi môi trường quân đội  đã rèn nên một cô Huyền mạnh mẽ, vững lòng “...vượt qua khó khăn để làm cô bộ đội cho tốt, để khi hoàn thành nghĩa vụ về quê, mình sẽ ngẩng cao đầu mà bước.” Ở đây, ta thấy được một bầu nhiệt huyết, một tuổi trẻ năng động và tràn đầy sức sống, không ngại khó, ngại khổ. Một hình mẫu của sự trưởng thành.

 

Bìa truyện ngắn Con đường anh đi

 

Đến với “Cánh chim không mỏi” ta bắt gặp Hoàng Mai - một biệt động - nay là cô gái bán dạo “Đậu phộng này ở Cái Sâu, ngọt và bùi lắm... người miền tây thiệt thà lắm, nói sao là y như vậy hà!”, mai là bà bầu “...khóc lóc xin vào thăm chồng”, ngày kia lại thành cô nữ sinh với chiếc áo dài trắng xuống đường biểu tình “Độc lập muôn nam!Tự do muôn năm!”… Người nữ tình báo ấy như một cánh chim sải rộng tung cao trên bầu trời quê hương, kết nối tin tức cho tổ chức, góp sức mình không ngừng nghỉ cho cuộc chiến vệ quốc đến hơi thở sau cùng. Đúng như tôn chỉ cao đẹp mà Hoàng Mai từng ước nguyện “Là người, tôi sẽ chết cho quê hương...” như lời trong bài hát mà cô yêu thích. Một diễn biến hết sức nhẹ nhàng, được ở chỗ dễ hiểu, dễ nắm bắt nhưng chưa thách đố được người đọc, chưa đủ kịch tính hay gay cấn để khiến ta phải căng óc theo nhân vật, dù cái chết của Hoàng Mai ít nhiều gây xúc động. Và đó cũng là phần đáng tiếc của tác phẩm.

Dẫu vậy, nơi “Con đường anh đi”, lại ẩn chứa vô cùng những cảm xúc chân thành, cởi mở nhưng cũng xiết bao hùng dũng, kiên định rất miền tây. Lần lượt “Bức tranh định mệnh”, “Hương mận” rồi “Đưa anh qua bến Ninh kiều”, “Đi hay là chết”… bạn sẽ bắt gặp những nồng nàn ấm áp của tình người, những chớm nở thanh xuân tươi đẹp, trong trẻo, những tấm lòng của người miền sông nước dành cho gia đình, nguồn cội và những trái tim luôn nặng tình đất nước, quê hương.

Nhớ về “Thép đã tôi thế đấy” của Nhà văn Nikolai.A.Ostrovsky đã từng có một câu nói bất hủ từ nhân vật Paven“Đời người sống chỉ có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí...”, và đọc Huyền Văn với “Con đường anh đi”, ta thấy được lý tưởng và khát khao cống hiến đầy nhiệt huyết đó; sự hiến dâng tận lực của tuổi trẻ dành cho sơn hà xã tắc.

Đặc biệt, hình ảnh người lính sau hòa bình lại khiến ta nhiều suy ngẫm, không phải chiến đấu giỏi thì có thể làm kinh tế giỏi, làm người quản lý giỏi; một người tốt tính không đồng nghĩa là một người năng lực. “Vì một câu nói” với nhân vật “Chú ba” là hiện thực đời sống xã hội bất cập của độ chênh giữa “ghế ngồi” và khả năng giải quyết vấn đề. Đó cũng là những khó khăn, trở ngại mà thời kỳ đầu xây dựng đất nước chúng ta phải đối diện. Nhưng mừng là “chú ba” rồi cũng đến lúc “không cố chấp như hồi xưa nữa...” và chịu “...đi học bổ túc văn hóa...”, chấp nhận “...không dấu dốt...” để cải thiện bản thân, giúp mình tiến bộ hơn. Ở đây, tác giả với cái nhìn tích cực, đã không ngại lia ngòi bút của mình chạm vào một đề tài tế nhị, chính vì lẽ đó, trong một hệ qui chiếu chặt chẽ và thống nhất, ý thức tổ chức, tinh thần dân tộc được đề cao.        

Nguyễn Thị Huyền Sương là tên thật của nhà văn Huyền Văn, chị sinh năm 1959- Hội viên Hội Nhà văn Cần Thơ - sinh sống và làm việc tại Cần Thơ. Đã xuất bản sáu đầu sách gồm truyện ngắn, tản văn và nhiều sách in chung. Không ồn ào, Huyền Văn lặng lẽ viết và không ngừng cho ra tác phẩm - dù không lớn lao - nhưng đủ để minh chứng cho một trái tim yêu thương cuộc đời, đủ để khẳng định về một lý tưởng sống, rằng sẽ tận hiến hết sức có thể trong khả năng mình, như chính nghiệp nhà binh mà chị đã từng đi qua vậy.

“Con đường anh đi” không cường điệu, không nhiều kịch tính, không bay bổng hay dữ dội mà nhẹ nhàng và thâm trầm xuyên suốt” là lời của chính tác giả, và đúng. Với cách kể chuyện dễ thương, lối văn gần gũi cùng giọng điệu trầm, tập truyện đã để lại những xúc cảm nhất định trong lòng bạn đọc. Đặc biệt, với tuổi trẻ, tập truyện như góp phần định hướng tư tưởng, giúp các em có cái nhìn rõ hơn về con đường phía trước - con đường của cống hiến và ý thức hệ chân chính - Bất chợt tôi nghĩ, quyển sách này nên và cần có mặt ở các thư viện của các trường học biết bao.

Cần Thơ, ngày 7/2/2026

B.B

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm