TIN TỨC

Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-09 02:50:12
mail facebook google pos stwis
996 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.

 

Anh hùng LLVTND, nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ

 

Huỳnh Văn Nghệ sinh năm 1914 tại làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà cũ (làng Tân Tịch sau đó hợp nhất với làng Thường Lang thành xã Thường Tân; năm 1976, vùng đất Tân Uyên được sáp nhập vào tỉnh Sông Bé, từ đầu năm 1997 thuộc tỉnh Bình Dương, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Ông là một nhà hoạt động cách mạng kiên trung, một chỉ huy quân sự tài ba, một nhà thơ nổi tiếng. Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc, Huỳnh Văn Nghệ đã được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân trong kháng chiến chống Pháp và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Thơ và cuộc đời chiến đấu của ông là một trong những biểu tượng cao đẹp của hào khí miền Đông Nam bộ.  Người ta thường nhắc tới ông bằng cái tên Thi tướng đầy cảm mến và tự hào. Hai tiếng ấy gợi lên hình ảnh một vị tướng trận mạc mang túi thơ đi kháng chiến, vừa oai phong lẫm liệt, vừa hào hoa như các bậc tiền bối trong lịch sử.

Thơ Huỳnh Văn Nghệ bắt đầu xuất hiện trên thi đàn vào khoảng năm 1935. Khác với phần lớn các tác giả trong thời kỳ này bị chi phối bởi tư tưởng tiểu tư sản, Huỳnh Văn Nghệ thuộc số ít các nhà thơ ngay từ đầu đã hướng ngòi bút của mình theo một mục tiêu cao đẹp: Yêu nước, thương dân, cổ vũ những người bị áp bức, bốc lột đoàn kết đấu tranh lật đổ ách thống trị của quân thù, dựng xây cuộc đời mới.

Huỳnh Văn Nghệ luôn rung cảm trước cuộc sống lầm than, khổ cực của người dân lao động. Ông ngậm ngùi, chua xót trước Đám ma nghèo chỉ có Bốn người khiêng lắt lẻo chiếc quan tài đi giữa mưa dầm gió lạnh. Với niềm thương cảm sâu sắc, ông đã ghi lại cảnh tang thương ấy bằng những câu thơ giàu hình ảnh như một cận cảnh trong đoạn phim tả thực làm lay động trái tim độc giả:

Người vợ kêu trời khan cả giọng

Ẵm con thơ lần bước dưới mưa rơi

Sau góa phụ còn hai con trẻ dại

Dắt díu nhau, nheo nhóc khóc không thôi.

(Đám ma nghèo)

Một lần khác, chứng kiến cảnh đời cơ cực của bà bán cau, nhà thơ đã nói lên sự đau đớn, xót thương của mình qua những câu thơ bình dị, chân thực:

Nắng hạn đường xa nối chân mây

Còn đi đâu, đi mãi hỡi ai!

Một gánh nặng oằn, hai chân chịu

Dưới trời mưa lửa chỉ chau mày

Trên đường cái xa thăm thẳm ấy

Bà bán cau gánh nặng vai oằn

Lẹ làng đi dưới chân cát cháy

Nón, dù đâu? Nắng đốt chiếc khăn rằn”.

(Bà bán cau)

Thấu cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của người dân lao động, Huỳnh Văn Nghệ nung nấu trong tim khát vọng dẫn dắt họ đi tới con đường tự giải phóng. Ông muốn viết những câu thơ bằng máu, tạo sự lan toả bầu tâm huyết sục sôi của mình tới muôn nơi để tập hợp, cổ vũ những người cần lao đoàn kết, yêu thương nhau, đấu tranh cho một tương lai tươi đẹp:

Chàng chỉ muốn đề thơ bằng máu

Trên cây hồng cho gió rải cùng trời                     

Để những người đau khổ khắp nơi nơi

Ngừng than thở

Và thương nhau khi trông hàng chữ máu”.

Với tâm niệm cao cả và đẹp đẽ, nhà thơ cảm thấy:

Thơ yêu nước đọng đầy lòng thi sĩ

Như nguồn sâu chờ gặp biển bao la”                      

(Mộng làm thơ)

Như một lẽ tự nhiên, một ngày, nguồn thơ yêu nước chứa chất trong lòng đã tạo nên động lực mạnh mẽ để thi nhân hòa mình vào biển lớn của dân tộc. Để khẳng định lý tưởng cao đẹp và hoài bão lớn lao của mình, ông lấy hình ảnh con sông dài rộng của quê hương làm ẩn dụ:

Sống Đồng Nai sông nước anh hùng

Nguồn xa, xa tận núi rừng hoang vu.

Lệ tiên kết đọng hồ sâu

Còn mơ cao rộng nhớ màu gió trăng

Xông pha vượt núi băng ngàn

Gặp La Ngà, nghĩa bạn vàng kết đôi

Thề:“Dù trắc trở núi đồi

Cũng liều sống thác tìm trời tự do   

(Sông Đồng Nai)

Với lý tưởng và hoài bão cao đẹp ấy, Huỳnh Văn Nghệ đã không ngừng phấn đấu để góp công sức vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc. Mang trong mình hào khí của vùng đất anh hùng, với tầm nhìn xa trông rộng, ông đã khởi cử sáng lập chiến khu Đ, tích cực tổ chức và mở rộng mạng lưới kháng chiến, trở thành người chỉ huy đầy quả cảm và mưu lược, đồng thời viết nên những bài thơ hào sảng ca ngợi cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta. Lấy súng gươm và bút mực làm vũ khí sắc bén trong tay, ông không quản ngại vất vả, nguy nan, cống hiến hết công sức và thời gian cho nghĩa lớn:

Tôi là người lăn lóc trên đường trần,

Không phân biệt lúc mài gươm, múa bút

Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực

Còn yêu tương là chiến đấu không thôi.

Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi

Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác.

Trên lưng ngựa múa gươm và ca hat

Lòng ta say chiến trận đến thành thơ…

(Bên bờ sông xanh)

Dưới ngòi bút nhạy cảm của ông, cuộc sống, chiến đấu của quân dân ta hiện lên một cách sống động:

Chiến khu Đ cờ vẫn đỏ ngọn cao.

Du kích Tân Uyên ngày đào đắp chiến hào

Đêm tập một, hai vang trường Đất Cuốc

Già trẻ gái trai rộn ràng tập hát

Tiến quân ca.

(Ngày hội)

Ông cất tiếng thơ như tiếng reo vui khi biểu tượng cao đẹp của cách mạng đã hiện diện và làm sáng bừng lên cả vùng đất quê hương:

Cờ Việt Minh ngôi sao năm cánh

Như tim vàng ngự giữa lòng son.     

Cách mạng đến giữa mùa trăng tháng Tám

Chiến khu Đ, rừng vắng bỗng tưng bừng.

Giữa khung cảnh rực rỡ và sống động ấy, tác giả đã khắc hoạ nên bức tranh bình dị, hùng tráng với hình ảnh người chiến sỹ du kích làm nhân vật trung tâm, mang đậm hơi thở của cuộc kháng chiến đầy vất vả, thiếu thốn nhưng cũng thật oai hùng:

Sợi dây thừng thắt bao đạn sau lưng

Áo rách vai, đầu trần, đi khởi nghĩa.

Những tròng mắt bừng bừng ánh lửa

Gót chân chai dậm vỡ nhựa đường”.

Hòa nhịp bước chân các chiến sỹ đầu trần chân đất đầy dũng khí ấy, những đoàn quân cách mạng đã vùng lên như thác đổ, cuốn phăng những thế lực đen tối và hung hãn nhất, đem lại vinh quang và niềm vui chiến thắng cho quê hương, đất nước:

Cờ đỏ sao vàng

Đã rợp trời Nam Bộ:

Những đoàn người như thác đổ

Tiếng hò reo đất lở nghiêng trời

Bọn giặc Nhật rụng rời

Quỳ dâng lại Sài Gòn và lục tỉnh.”

(Du kích Đồng Nai)

Trong “gia tài” thơ Huỳnh Văn Nghệ, có những tác phẩm mang hơi hướng của những giai thoại độc đáo phản ánh bản lĩnh, tầm vốc nhân cách của ông cùng hào khí vùng đất quê ông và cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Chất thơ hào hùng ấy được thể hiện ở nhiều tình huống khác nhau của cuộc sống và chiến đấu, như trong trường hợp bác sỹ phải sử dụng cưa thợ mộc để cưa chân cho người chiến sỹ bị thương nặng trong điều kiện bệnh viện thiếu thốn thuốc và các dụng cụ y tế thiết yếu:

Bác sỹ vừa cưa vừa khóc

Chị cứu thương nước mắt tràn trề

Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre

Người bác sỹ vẫn mê mải hát

Cưa cứ cưa, xương cứ đứt

Máu cứ rơi từng giọt đỏ hồng

Dồn đôi phổi vào trong tiếng hát:

“Đoàn quân Việt Nam đi

     Chung lòng cứu quốc…” 

(Tiếng hát Quốc ca)

Đoạn thơ như một thước phim quay cận cảnh, làm sống lại hiện thực phi thường của cuộc chiến tranh nhân dân nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc dưới thời đại Hồ Chí Minh quang vinh. Thước phim ấy đã góp phần giải thích một cách hùng hồn cho câu hỏi: Tại sao một nước nhỏ bé như nước ta lại có thể đánh thắng những tên đế quốc cáo già hùng mạnh trên thế giới?.

Trong toàn bộ sáng tác của Huỳnh Văn Nghệ, bài thơ Nhớ Bắc có đời sống riêng và là tác phẩm tiêu biểu nhất. Nội dung tư tưởng của bài thơ sâu sắc, có giá trị nhiều mặt, được thể hiện qua tình cảm da diết, thiêng liêng của người con xa xứ đối với cội nguồn dân tộc. Mở đầu cho bản tình ca tuyệt đẹp ấy là những câu thơ thể hiện ước vọng cháy bỏng của tác giả - và cũng là nỗi niềm chung của biết bao thế hệ con cháu người Việt nối bước các bậc tiền nhân đi mở đất phương Nam:

Ai về xứ Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.

Những cụm từ giống Lạc Hồng, đất Thăng Long ngân vang trong khổ thơ biểu thị cho tình yêu, niềm tự hào to lớn về cội nguồn dân tộc và truyền thống lịch sử - văn hoá lâu đời của Tổ quốc.   

Hình ảnh Nguyễn Hoàng, vị Chúa Nguyễn được nhân dân tôn vinh là Chúa Tiên, người mở đầu cho cuộc Nam tiến, được tác giả nhắc đến với niềm kính trọng sâu sắc. Sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi Tổ quốc do ông khai mở có ý nghĩa lịch sử to lớn và sức sống vững bền. Tuy nhiên, hành trình vĩ đại ấy cũng tạo nên sự xa cách, buồn thương da diết. Dưới ngòi bút của Huỳnh Văn Nghệ, với tấm lòng tri ân sâu sắc, các thế hệ con cháu mãi còn “nghe trong máu” thấm đậm bao nỗi niềm xưa của cha ông và  quyết bền gan vững chí kế tục sự nghiệp vẻ vang của các bậc tiền nhân. Trải qua mấy trăm năm lịch sử, trong tâm hồn người dân phương Nam, những di sản văn hóa cao quý, những sắc màu tươi đẹp của mùa màng xứ Bắc chẳng những không phai mờ mà còn hòa quyện vào văn hóa và đời sống của cư dân vùng đất mới, tạo nên một sự gắn bó son sắt, thủy chung:

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ

Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn

Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ

Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng”…

Bài thơ Nhớ Bắc mang tầm vóc tư tưởng, tâm hồn lớn. Tác phẩm vừa như một phần máu thịt không thể tách rời trong sự nghiệp sáng tác của Thi tướng, vừa tạo nên một thế giới riêng. 

Một sự trùng hợp có lẽ là ngẫu nhiên nhưng thật lý thú khi thơ Huỳnh Văn Nghệ xuất hiện cùng thời gian và có nhiều điểm đồng điệu về mặt hình thức với Thơ mới.

Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) ra đời trong bối cảnh nền văn hóa Việt Nam có sự thay đổi sâu sắc và toàn diện từ cuộc giao lưu tiếp biến với văn hoá phương Tây. Trong lĩnh vực văn học, đó là quá trình chuyển một nền văn học được viết dưới quan điểm mỹ học phương Đông sang một nền văn học viết dưới ánh sáng mỹ học phương Tây, từ một nền văn học có tính khu vực thành một nền văn học mang tính toàn cầu. Ở lĩnh vực thơ, từ sự ảnh hưởng sâu sắc của thơ Pháp, Thơ mới ra đời, mang đậm tính lãng mạn và có những cải cách mạnh mẽ về hình thức, thoát khỏi những ràng buộc chặt chẽ về niêm, luật của thơ Đường, tự do hơn trong cách gieo vần, ngắt nhịp, sử dụng ngôn từ, mang hơi thở của cuộc sống hiện đại. Về hính thức, có thể xem đây là những điểm tương đống giữa Thơ mới và thơ Huỳnh Văn Nghệ. Điều đó cho thấy sự nhạy bén trong nhận thức và chiều sâu tư duy của bậc Thi tướng.

Tuy nhiên, về bản chất, giữa Thơ mới và thơ Huỳnh Văn Nghệ có sự khác biệt rất rõ. Cảm hứng lãng mạn của Thơ mới là lãng mạn cá nhân của tầng lớp tiểu tư sản, hướng về những nỗi buồn, sự cô đơn, khát vọng thoát ly thực tại để tìm đến thế giới mộng tưởng và hoàn toàn bế tắc trước thời cuộc. Trái lại, cảm hứng lãng mạn trong thơ Huỳnh Văn Nghệ là lãng mạn cách mạng. Cái “tôi” của ông hòa vào cái “ta” chung của dân tộc, hướng tới một thế giới tươi đẹp, mang lại tự do, hạnh phúc cho mọi người. Hình ảnh trong thơ Huỳnh Văn Nghệ gắn liền với cuộc sống,   chiến đấu của nhân dân, gần gũi với con người và thiên nhiên Nam Bộ. Thơ ông góp phần đặc biệt trong việc xây dựng hình tượng người chiến sỹ cách mạng kiên trung, bất khuất.

Thơ Huỳnh Văn Nghệ được hun đúc bởi trầm tích lịch sử - văn hóa của vùng đất quê hương ông. Thơ ông vừa mộc mạc, chân chất, vừa giàu xúc cảm, thể hiện sự đa dạng của tính cách người anh hùng Nam Bộ.

Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.

Đọc thơ Huỳnh Văn Nghệ, ta cảm nhận sâu sắc và trân quý biết bao chất trữ tình và chất thép trong thơ ông. Lòng ta cũng trào dâng niềm tự hào mỗi khi nhắc tới danh xưng Thi tướng mà nhân dân tôn vinh ông. Có lẽ không ngôn từ nào diễn đạt đầy đủ và chính xác những phẩm chất cao quý trong con người ông bằng danh xưng ấy.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm