TIN TỨC

Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-09 02:50:12
mail facebook google pos stwis
1526 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.

 

Anh hùng LLVTND, nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ

 

Huỳnh Văn Nghệ sinh năm 1914 tại làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà cũ (làng Tân Tịch sau đó hợp nhất với làng Thường Lang thành xã Thường Tân; năm 1976, vùng đất Tân Uyên được sáp nhập vào tỉnh Sông Bé, từ đầu năm 1997 thuộc tỉnh Bình Dương, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Ông là một nhà hoạt động cách mạng kiên trung, một chỉ huy quân sự tài ba, một nhà thơ nổi tiếng. Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc, Huỳnh Văn Nghệ đã được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân trong kháng chiến chống Pháp và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Thơ và cuộc đời chiến đấu của ông là một trong những biểu tượng cao đẹp của hào khí miền Đông Nam bộ.  Người ta thường nhắc tới ông bằng cái tên Thi tướng đầy cảm mến và tự hào. Hai tiếng ấy gợi lên hình ảnh một vị tướng trận mạc mang túi thơ đi kháng chiến, vừa oai phong lẫm liệt, vừa hào hoa như các bậc tiền bối trong lịch sử.

Thơ Huỳnh Văn Nghệ bắt đầu xuất hiện trên thi đàn vào khoảng năm 1935. Khác với phần lớn các tác giả trong thời kỳ này bị chi phối bởi tư tưởng tiểu tư sản, Huỳnh Văn Nghệ thuộc số ít các nhà thơ ngay từ đầu đã hướng ngòi bút của mình theo một mục tiêu cao đẹp: Yêu nước, thương dân, cổ vũ những người bị áp bức, bốc lột đoàn kết đấu tranh lật đổ ách thống trị của quân thù, dựng xây cuộc đời mới.

Huỳnh Văn Nghệ luôn rung cảm trước cuộc sống lầm than, khổ cực của người dân lao động. Ông ngậm ngùi, chua xót trước Đám ma nghèo chỉ có Bốn người khiêng lắt lẻo chiếc quan tài đi giữa mưa dầm gió lạnh. Với niềm thương cảm sâu sắc, ông đã ghi lại cảnh tang thương ấy bằng những câu thơ giàu hình ảnh như một cận cảnh trong đoạn phim tả thực làm lay động trái tim độc giả:

Người vợ kêu trời khan cả giọng

Ẵm con thơ lần bước dưới mưa rơi

Sau góa phụ còn hai con trẻ dại

Dắt díu nhau, nheo nhóc khóc không thôi.

(Đám ma nghèo)

Một lần khác, chứng kiến cảnh đời cơ cực của bà bán cau, nhà thơ đã nói lên sự đau đớn, xót thương của mình qua những câu thơ bình dị, chân thực:

Nắng hạn đường xa nối chân mây

Còn đi đâu, đi mãi hỡi ai!

Một gánh nặng oằn, hai chân chịu

Dưới trời mưa lửa chỉ chau mày

Trên đường cái xa thăm thẳm ấy

Bà bán cau gánh nặng vai oằn

Lẹ làng đi dưới chân cát cháy

Nón, dù đâu? Nắng đốt chiếc khăn rằn”.

(Bà bán cau)

Thấu cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của người dân lao động, Huỳnh Văn Nghệ nung nấu trong tim khát vọng dẫn dắt họ đi tới con đường tự giải phóng. Ông muốn viết những câu thơ bằng máu, tạo sự lan toả bầu tâm huyết sục sôi của mình tới muôn nơi để tập hợp, cổ vũ những người cần lao đoàn kết, yêu thương nhau, đấu tranh cho một tương lai tươi đẹp:

Chàng chỉ muốn đề thơ bằng máu

Trên cây hồng cho gió rải cùng trời                     

Để những người đau khổ khắp nơi nơi

Ngừng than thở

Và thương nhau khi trông hàng chữ máu”.

Với tâm niệm cao cả và đẹp đẽ, nhà thơ cảm thấy:

Thơ yêu nước đọng đầy lòng thi sĩ

Như nguồn sâu chờ gặp biển bao la”                      

(Mộng làm thơ)

Như một lẽ tự nhiên, một ngày, nguồn thơ yêu nước chứa chất trong lòng đã tạo nên động lực mạnh mẽ để thi nhân hòa mình vào biển lớn của dân tộc. Để khẳng định lý tưởng cao đẹp và hoài bão lớn lao của mình, ông lấy hình ảnh con sông dài rộng của quê hương làm ẩn dụ:

Sống Đồng Nai sông nước anh hùng

Nguồn xa, xa tận núi rừng hoang vu.

Lệ tiên kết đọng hồ sâu

Còn mơ cao rộng nhớ màu gió trăng

Xông pha vượt núi băng ngàn

Gặp La Ngà, nghĩa bạn vàng kết đôi

Thề:“Dù trắc trở núi đồi

Cũng liều sống thác tìm trời tự do   

(Sông Đồng Nai)

Với lý tưởng và hoài bão cao đẹp ấy, Huỳnh Văn Nghệ đã không ngừng phấn đấu để góp công sức vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc. Mang trong mình hào khí của vùng đất anh hùng, với tầm nhìn xa trông rộng, ông đã khởi cử sáng lập chiến khu Đ, tích cực tổ chức và mở rộng mạng lưới kháng chiến, trở thành người chỉ huy đầy quả cảm và mưu lược, đồng thời viết nên những bài thơ hào sảng ca ngợi cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta. Lấy súng gươm và bút mực làm vũ khí sắc bén trong tay, ông không quản ngại vất vả, nguy nan, cống hiến hết công sức và thời gian cho nghĩa lớn:

Tôi là người lăn lóc trên đường trần,

Không phân biệt lúc mài gươm, múa bút

Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực

Còn yêu tương là chiến đấu không thôi.

Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi

Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác.

Trên lưng ngựa múa gươm và ca hat

Lòng ta say chiến trận đến thành thơ…

(Bên bờ sông xanh)

Dưới ngòi bút nhạy cảm của ông, cuộc sống, chiến đấu của quân dân ta hiện lên một cách sống động:

Chiến khu Đ cờ vẫn đỏ ngọn cao.

Du kích Tân Uyên ngày đào đắp chiến hào

Đêm tập một, hai vang trường Đất Cuốc

Già trẻ gái trai rộn ràng tập hát

Tiến quân ca.

(Ngày hội)

Ông cất tiếng thơ như tiếng reo vui khi biểu tượng cao đẹp của cách mạng đã hiện diện và làm sáng bừng lên cả vùng đất quê hương:

Cờ Việt Minh ngôi sao năm cánh

Như tim vàng ngự giữa lòng son.     

Cách mạng đến giữa mùa trăng tháng Tám

Chiến khu Đ, rừng vắng bỗng tưng bừng.

Giữa khung cảnh rực rỡ và sống động ấy, tác giả đã khắc hoạ nên bức tranh bình dị, hùng tráng với hình ảnh người chiến sỹ du kích làm nhân vật trung tâm, mang đậm hơi thở của cuộc kháng chiến đầy vất vả, thiếu thốn nhưng cũng thật oai hùng:

Sợi dây thừng thắt bao đạn sau lưng

Áo rách vai, đầu trần, đi khởi nghĩa.

Những tròng mắt bừng bừng ánh lửa

Gót chân chai dậm vỡ nhựa đường”.

Hòa nhịp bước chân các chiến sỹ đầu trần chân đất đầy dũng khí ấy, những đoàn quân cách mạng đã vùng lên như thác đổ, cuốn phăng những thế lực đen tối và hung hãn nhất, đem lại vinh quang và niềm vui chiến thắng cho quê hương, đất nước:

Cờ đỏ sao vàng

Đã rợp trời Nam Bộ:

Những đoàn người như thác đổ

Tiếng hò reo đất lở nghiêng trời

Bọn giặc Nhật rụng rời

Quỳ dâng lại Sài Gòn và lục tỉnh.”

(Du kích Đồng Nai)

Trong “gia tài” thơ Huỳnh Văn Nghệ, có những tác phẩm mang hơi hướng của những giai thoại độc đáo phản ánh bản lĩnh, tầm vốc nhân cách của ông cùng hào khí vùng đất quê ông và cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Chất thơ hào hùng ấy được thể hiện ở nhiều tình huống khác nhau của cuộc sống và chiến đấu, như trong trường hợp bác sỹ phải sử dụng cưa thợ mộc để cưa chân cho người chiến sỹ bị thương nặng trong điều kiện bệnh viện thiếu thốn thuốc và các dụng cụ y tế thiết yếu:

Bác sỹ vừa cưa vừa khóc

Chị cứu thương nước mắt tràn trề

Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre

Người bác sỹ vẫn mê mải hát

Cưa cứ cưa, xương cứ đứt

Máu cứ rơi từng giọt đỏ hồng

Dồn đôi phổi vào trong tiếng hát:

“Đoàn quân Việt Nam đi

     Chung lòng cứu quốc…” 

(Tiếng hát Quốc ca)

Đoạn thơ như một thước phim quay cận cảnh, làm sống lại hiện thực phi thường của cuộc chiến tranh nhân dân nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc dưới thời đại Hồ Chí Minh quang vinh. Thước phim ấy đã góp phần giải thích một cách hùng hồn cho câu hỏi: Tại sao một nước nhỏ bé như nước ta lại có thể đánh thắng những tên đế quốc cáo già hùng mạnh trên thế giới?.

Trong toàn bộ sáng tác của Huỳnh Văn Nghệ, bài thơ Nhớ Bắc có đời sống riêng và là tác phẩm tiêu biểu nhất. Nội dung tư tưởng của bài thơ sâu sắc, có giá trị nhiều mặt, được thể hiện qua tình cảm da diết, thiêng liêng của người con xa xứ đối với cội nguồn dân tộc. Mở đầu cho bản tình ca tuyệt đẹp ấy là những câu thơ thể hiện ước vọng cháy bỏng của tác giả - và cũng là nỗi niềm chung của biết bao thế hệ con cháu người Việt nối bước các bậc tiền nhân đi mở đất phương Nam:

Ai về xứ Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.

Những cụm từ giống Lạc Hồng, đất Thăng Long ngân vang trong khổ thơ biểu thị cho tình yêu, niềm tự hào to lớn về cội nguồn dân tộc và truyền thống lịch sử - văn hoá lâu đời của Tổ quốc.   

Hình ảnh Nguyễn Hoàng, vị Chúa Nguyễn được nhân dân tôn vinh là Chúa Tiên, người mở đầu cho cuộc Nam tiến, được tác giả nhắc đến với niềm kính trọng sâu sắc. Sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi Tổ quốc do ông khai mở có ý nghĩa lịch sử to lớn và sức sống vững bền. Tuy nhiên, hành trình vĩ đại ấy cũng tạo nên sự xa cách, buồn thương da diết. Dưới ngòi bút của Huỳnh Văn Nghệ, với tấm lòng tri ân sâu sắc, các thế hệ con cháu mãi còn “nghe trong máu” thấm đậm bao nỗi niềm xưa của cha ông và  quyết bền gan vững chí kế tục sự nghiệp vẻ vang của các bậc tiền nhân. Trải qua mấy trăm năm lịch sử, trong tâm hồn người dân phương Nam, những di sản văn hóa cao quý, những sắc màu tươi đẹp của mùa màng xứ Bắc chẳng những không phai mờ mà còn hòa quyện vào văn hóa và đời sống của cư dân vùng đất mới, tạo nên một sự gắn bó son sắt, thủy chung:

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ

Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn

Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ

Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng”…

Bài thơ Nhớ Bắc mang tầm vóc tư tưởng, tâm hồn lớn. Tác phẩm vừa như một phần máu thịt không thể tách rời trong sự nghiệp sáng tác của Thi tướng, vừa tạo nên một thế giới riêng. 

Một sự trùng hợp có lẽ là ngẫu nhiên nhưng thật lý thú khi thơ Huỳnh Văn Nghệ xuất hiện cùng thời gian và có nhiều điểm đồng điệu về mặt hình thức với Thơ mới.

Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) ra đời trong bối cảnh nền văn hóa Việt Nam có sự thay đổi sâu sắc và toàn diện từ cuộc giao lưu tiếp biến với văn hoá phương Tây. Trong lĩnh vực văn học, đó là quá trình chuyển một nền văn học được viết dưới quan điểm mỹ học phương Đông sang một nền văn học viết dưới ánh sáng mỹ học phương Tây, từ một nền văn học có tính khu vực thành một nền văn học mang tính toàn cầu. Ở lĩnh vực thơ, từ sự ảnh hưởng sâu sắc của thơ Pháp, Thơ mới ra đời, mang đậm tính lãng mạn và có những cải cách mạnh mẽ về hình thức, thoát khỏi những ràng buộc chặt chẽ về niêm, luật của thơ Đường, tự do hơn trong cách gieo vần, ngắt nhịp, sử dụng ngôn từ, mang hơi thở của cuộc sống hiện đại. Về hính thức, có thể xem đây là những điểm tương đống giữa Thơ mới và thơ Huỳnh Văn Nghệ. Điều đó cho thấy sự nhạy bén trong nhận thức và chiều sâu tư duy của bậc Thi tướng.

Tuy nhiên, về bản chất, giữa Thơ mới và thơ Huỳnh Văn Nghệ có sự khác biệt rất rõ. Cảm hứng lãng mạn của Thơ mới là lãng mạn cá nhân của tầng lớp tiểu tư sản, hướng về những nỗi buồn, sự cô đơn, khát vọng thoát ly thực tại để tìm đến thế giới mộng tưởng và hoàn toàn bế tắc trước thời cuộc. Trái lại, cảm hứng lãng mạn trong thơ Huỳnh Văn Nghệ là lãng mạn cách mạng. Cái “tôi” của ông hòa vào cái “ta” chung của dân tộc, hướng tới một thế giới tươi đẹp, mang lại tự do, hạnh phúc cho mọi người. Hình ảnh trong thơ Huỳnh Văn Nghệ gắn liền với cuộc sống,   chiến đấu của nhân dân, gần gũi với con người và thiên nhiên Nam Bộ. Thơ ông góp phần đặc biệt trong việc xây dựng hình tượng người chiến sỹ cách mạng kiên trung, bất khuất.

Thơ Huỳnh Văn Nghệ được hun đúc bởi trầm tích lịch sử - văn hóa của vùng đất quê hương ông. Thơ ông vừa mộc mạc, chân chất, vừa giàu xúc cảm, thể hiện sự đa dạng của tính cách người anh hùng Nam Bộ.

Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.

Đọc thơ Huỳnh Văn Nghệ, ta cảm nhận sâu sắc và trân quý biết bao chất trữ tình và chất thép trong thơ ông. Lòng ta cũng trào dâng niềm tự hào mỗi khi nhắc tới danh xưng Thi tướng mà nhân dân tôn vinh ông. Có lẽ không ngôn từ nào diễn đạt đầy đủ và chính xác những phẩm chất cao quý trong con người ông bằng danh xưng ấy.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm