TIN TỨC

Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-09 02:50:12
mail facebook google pos stwis
14 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.

 

Anh hùng LLVTND, nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ

 

Huỳnh Văn Nghệ sinh năm 1914 tại làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà cũ (làng Tân Tịch sau đó hợp nhất với làng Thường Lang thành xã Thường Tân; năm 1976, vùng đất Tân Uyên được sáp nhập vào tỉnh Sông Bé, từ đầu năm 1997 thuộc tỉnh Bình Dương, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Ông là một nhà hoạt động cách mạng kiên trung, một chỉ huy quân sự tài ba, một nhà thơ nổi tiếng. Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc, Huỳnh Văn Nghệ đã được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân trong kháng chiến chống Pháp và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Thơ và cuộc đời chiến đấu của ông là một trong những biểu tượng cao đẹp của hào khí miền Đông Nam bộ.  Người ta thường nhắc tới ông bằng cái tên Thi tướng đầy cảm mến và tự hào. Hai tiếng ấy gợi lên hình ảnh một vị tướng trận mạc mang túi thơ đi kháng chiến, vừa oai phong lẫm liệt, vừa hào hoa như các bậc tiền bối trong lịch sử.

Thơ Huỳnh Văn Nghệ bắt đầu xuất hiện trên thi đàn vào khoảng năm 1935. Khác với phần lớn các tác giả trong thời kỳ này bị chi phối bởi tư tưởng tiểu tư sản, Huỳnh Văn Nghệ thuộc số ít các nhà thơ ngay từ đầu đã hướng ngòi bút của mình theo một mục tiêu cao đẹp: Yêu nước, thương dân, cổ vũ những người bị áp bức, bốc lột đoàn kết đấu tranh lật đổ ách thống trị của quân thù, dựng xây cuộc đời mới.

Huỳnh Văn Nghệ luôn rung cảm trước cuộc sống lầm than, khổ cực của người dân lao động. Ông ngậm ngùi, chua xót trước Đám ma nghèo chỉ có Bốn người khiêng lắt lẻo chiếc quan tài đi giữa mưa dầm gió lạnh. Với niềm thương cảm sâu sắc, ông đã ghi lại cảnh tang thương ấy bằng những câu thơ giàu hình ảnh như một cận cảnh trong đoạn phim tả thực làm lay động trái tim độc giả:

Người vợ kêu trời khan cả giọng

Ẵm con thơ lần bước dưới mưa rơi

Sau góa phụ còn hai con trẻ dại

Dắt díu nhau, nheo nhóc khóc không thôi.

(Đám ma nghèo)

Một lần khác, chứng kiến cảnh đời cơ cực của bà bán cau, nhà thơ đã nói lên sự đau đớn, xót thương của mình qua những câu thơ bình dị, chân thực:

Nắng hạn đường xa nối chân mây

Còn đi đâu, đi mãi hỡi ai!

Một gánh nặng oằn, hai chân chịu

Dưới trời mưa lửa chỉ chau mày

Trên đường cái xa thăm thẳm ấy

Bà bán cau gánh nặng vai oằn

Lẹ làng đi dưới chân cát cháy

Nón, dù đâu? Nắng đốt chiếc khăn rằn”.

(Bà bán cau)

Thấu cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của người dân lao động, Huỳnh Văn Nghệ nung nấu trong tim khát vọng dẫn dắt họ đi tới con đường tự giải phóng. Ông muốn viết những câu thơ bằng máu, tạo sự lan toả bầu tâm huyết sục sôi của mình tới muôn nơi để tập hợp, cổ vũ những người cần lao đoàn kết, yêu thương nhau, đấu tranh cho một tương lai tươi đẹp:

Chàng chỉ muốn đề thơ bằng máu

Trên cây hồng cho gió rải cùng trời                     

Để những người đau khổ khắp nơi nơi

Ngừng than thở

Và thương nhau khi trông hàng chữ máu”.

Với tâm niệm cao cả và đẹp đẽ, nhà thơ cảm thấy:

Thơ yêu nước đọng đầy lòng thi sĩ

Như nguồn sâu chờ gặp biển bao la”                      

(Mộng làm thơ)

Như một lẽ tự nhiên, một ngày, nguồn thơ yêu nước chứa chất trong lòng đã tạo nên động lực mạnh mẽ để thi nhân hòa mình vào biển lớn của dân tộc. Để khẳng định lý tưởng cao đẹp và hoài bão lớn lao của mình, ông lấy hình ảnh con sông dài rộng của quê hương làm ẩn dụ:

Sống Đồng Nai sông nước anh hùng

Nguồn xa, xa tận núi rừng hoang vu.

Lệ tiên kết đọng hồ sâu

Còn mơ cao rộng nhớ màu gió trăng

Xông pha vượt núi băng ngàn

Gặp La Ngà, nghĩa bạn vàng kết đôi

Thề:“Dù trắc trở núi đồi

Cũng liều sống thác tìm trời tự do   

(Sông Đồng Nai)

Với lý tưởng và hoài bão cao đẹp ấy, Huỳnh Văn Nghệ đã không ngừng phấn đấu để góp công sức vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc. Mang trong mình hào khí của vùng đất anh hùng, với tầm nhìn xa trông rộng, ông đã khởi cử sáng lập chiến khu Đ, tích cực tổ chức và mở rộng mạng lưới kháng chiến, trở thành người chỉ huy đầy quả cảm và mưu lược, đồng thời viết nên những bài thơ hào sảng ca ngợi cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta. Lấy súng gươm và bút mực làm vũ khí sắc bén trong tay, ông không quản ngại vất vả, nguy nan, cống hiến hết công sức và thời gian cho nghĩa lớn:

Tôi là người lăn lóc trên đường trần,

Không phân biệt lúc mài gươm, múa bút

Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực

Còn yêu tương là chiến đấu không thôi.

Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi

Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác.

Trên lưng ngựa múa gươm và ca hat

Lòng ta say chiến trận đến thành thơ…

(Bên bờ sông xanh)

Dưới ngòi bút nhạy cảm của ông, cuộc sống, chiến đấu của quân dân ta hiện lên một cách sống động:

Chiến khu Đ cờ vẫn đỏ ngọn cao.

Du kích Tân Uyên ngày đào đắp chiến hào

Đêm tập một, hai vang trường Đất Cuốc

Già trẻ gái trai rộn ràng tập hát

Tiến quân ca.

(Ngày hội)

Ông cất tiếng thơ như tiếng reo vui khi biểu tượng cao đẹp của cách mạng đã hiện diện và làm sáng bừng lên cả vùng đất quê hương:

Cờ Việt Minh ngôi sao năm cánh

Như tim vàng ngự giữa lòng son.     

Cách mạng đến giữa mùa trăng tháng Tám

Chiến khu Đ, rừng vắng bỗng tưng bừng.

Giữa khung cảnh rực rỡ và sống động ấy, tác giả đã khắc hoạ nên bức tranh bình dị, hùng tráng với hình ảnh người chiến sỹ du kích làm nhân vật trung tâm, mang đậm hơi thở của cuộc kháng chiến đầy vất vả, thiếu thốn nhưng cũng thật oai hùng:

Sợi dây thừng thắt bao đạn sau lưng

Áo rách vai, đầu trần, đi khởi nghĩa.

Những tròng mắt bừng bừng ánh lửa

Gót chân chai dậm vỡ nhựa đường”.

Hòa nhịp bước chân các chiến sỹ đầu trần chân đất đầy dũng khí ấy, những đoàn quân cách mạng đã vùng lên như thác đổ, cuốn phăng những thế lực đen tối và hung hãn nhất, đem lại vinh quang và niềm vui chiến thắng cho quê hương, đất nước:

Cờ đỏ sao vàng

Đã rợp trời Nam Bộ:

Những đoàn người như thác đổ

Tiếng hò reo đất lở nghiêng trời

Bọn giặc Nhật rụng rời

Quỳ dâng lại Sài Gòn và lục tỉnh.”

(Du kích Đồng Nai)

Trong “gia tài” thơ Huỳnh Văn Nghệ, có những tác phẩm mang hơi hướng của những giai thoại độc đáo phản ánh bản lĩnh, tầm vốc nhân cách của ông cùng hào khí vùng đất quê ông và cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Chất thơ hào hùng ấy được thể hiện ở nhiều tình huống khác nhau của cuộc sống và chiến đấu, như trong trường hợp bác sỹ phải sử dụng cưa thợ mộc để cưa chân cho người chiến sỹ bị thương nặng trong điều kiện bệnh viện thiếu thốn thuốc và các dụng cụ y tế thiết yếu:

Bác sỹ vừa cưa vừa khóc

Chị cứu thương nước mắt tràn trề

Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre

Người bác sỹ vẫn mê mải hát

Cưa cứ cưa, xương cứ đứt

Máu cứ rơi từng giọt đỏ hồng

Dồn đôi phổi vào trong tiếng hát:

“Đoàn quân Việt Nam đi

     Chung lòng cứu quốc…” 

(Tiếng hát Quốc ca)

Đoạn thơ như một thước phim quay cận cảnh, làm sống lại hiện thực phi thường của cuộc chiến tranh nhân dân nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc dưới thời đại Hồ Chí Minh quang vinh. Thước phim ấy đã góp phần giải thích một cách hùng hồn cho câu hỏi: Tại sao một nước nhỏ bé như nước ta lại có thể đánh thắng những tên đế quốc cáo già hùng mạnh trên thế giới?.

Trong toàn bộ sáng tác của Huỳnh Văn Nghệ, bài thơ Nhớ Bắc có đời sống riêng và là tác phẩm tiêu biểu nhất. Nội dung tư tưởng của bài thơ sâu sắc, có giá trị nhiều mặt, được thể hiện qua tình cảm da diết, thiêng liêng của người con xa xứ đối với cội nguồn dân tộc. Mở đầu cho bản tình ca tuyệt đẹp ấy là những câu thơ thể hiện ước vọng cháy bỏng của tác giả - và cũng là nỗi niềm chung của biết bao thế hệ con cháu người Việt nối bước các bậc tiền nhân đi mở đất phương Nam:

Ai về xứ Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.

Những cụm từ giống Lạc Hồng, đất Thăng Long ngân vang trong khổ thơ biểu thị cho tình yêu, niềm tự hào to lớn về cội nguồn dân tộc và truyền thống lịch sử - văn hoá lâu đời của Tổ quốc.   

Hình ảnh Nguyễn Hoàng, vị Chúa Nguyễn được nhân dân tôn vinh là Chúa Tiên, người mở đầu cho cuộc Nam tiến, được tác giả nhắc đến với niềm kính trọng sâu sắc. Sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi Tổ quốc do ông khai mở có ý nghĩa lịch sử to lớn và sức sống vững bền. Tuy nhiên, hành trình vĩ đại ấy cũng tạo nên sự xa cách, buồn thương da diết. Dưới ngòi bút của Huỳnh Văn Nghệ, với tấm lòng tri ân sâu sắc, các thế hệ con cháu mãi còn “nghe trong máu” thấm đậm bao nỗi niềm xưa của cha ông và  quyết bền gan vững chí kế tục sự nghiệp vẻ vang của các bậc tiền nhân. Trải qua mấy trăm năm lịch sử, trong tâm hồn người dân phương Nam, những di sản văn hóa cao quý, những sắc màu tươi đẹp của mùa màng xứ Bắc chẳng những không phai mờ mà còn hòa quyện vào văn hóa và đời sống của cư dân vùng đất mới, tạo nên một sự gắn bó son sắt, thủy chung:

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ

Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn

Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ

Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng”…

Bài thơ Nhớ Bắc mang tầm vóc tư tưởng, tâm hồn lớn. Tác phẩm vừa như một phần máu thịt không thể tách rời trong sự nghiệp sáng tác của Thi tướng, vừa tạo nên một thế giới riêng. 

Một sự trùng hợp có lẽ là ngẫu nhiên nhưng thật lý thú khi thơ Huỳnh Văn Nghệ xuất hiện cùng thời gian và có nhiều điểm đồng điệu về mặt hình thức với Thơ mới.

Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) ra đời trong bối cảnh nền văn hóa Việt Nam có sự thay đổi sâu sắc và toàn diện từ cuộc giao lưu tiếp biến với văn hoá phương Tây. Trong lĩnh vực văn học, đó là quá trình chuyển một nền văn học được viết dưới quan điểm mỹ học phương Đông sang một nền văn học viết dưới ánh sáng mỹ học phương Tây, từ một nền văn học có tính khu vực thành một nền văn học mang tính toàn cầu. Ở lĩnh vực thơ, từ sự ảnh hưởng sâu sắc của thơ Pháp, Thơ mới ra đời, mang đậm tính lãng mạn và có những cải cách mạnh mẽ về hình thức, thoát khỏi những ràng buộc chặt chẽ về niêm, luật của thơ Đường, tự do hơn trong cách gieo vần, ngắt nhịp, sử dụng ngôn từ, mang hơi thở của cuộc sống hiện đại. Về hính thức, có thể xem đây là những điểm tương đống giữa Thơ mới và thơ Huỳnh Văn Nghệ. Điều đó cho thấy sự nhạy bén trong nhận thức và chiều sâu tư duy của bậc Thi tướng.

Tuy nhiên, về bản chất, giữa Thơ mới và thơ Huỳnh Văn Nghệ có sự khác biệt rất rõ. Cảm hứng lãng mạn của Thơ mới là lãng mạn cá nhân của tầng lớp tiểu tư sản, hướng về những nỗi buồn, sự cô đơn, khát vọng thoát ly thực tại để tìm đến thế giới mộng tưởng và hoàn toàn bế tắc trước thời cuộc. Trái lại, cảm hứng lãng mạn trong thơ Huỳnh Văn Nghệ là lãng mạn cách mạng. Cái “tôi” của ông hòa vào cái “ta” chung của dân tộc, hướng tới một thế giới tươi đẹp, mang lại tự do, hạnh phúc cho mọi người. Hình ảnh trong thơ Huỳnh Văn Nghệ gắn liền với cuộc sống,   chiến đấu của nhân dân, gần gũi với con người và thiên nhiên Nam Bộ. Thơ ông góp phần đặc biệt trong việc xây dựng hình tượng người chiến sỹ cách mạng kiên trung, bất khuất.

Thơ Huỳnh Văn Nghệ được hun đúc bởi trầm tích lịch sử - văn hóa của vùng đất quê hương ông. Thơ ông vừa mộc mạc, chân chất, vừa giàu xúc cảm, thể hiện sự đa dạng của tính cách người anh hùng Nam Bộ.

Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.

Đọc thơ Huỳnh Văn Nghệ, ta cảm nhận sâu sắc và trân quý biết bao chất trữ tình và chất thép trong thơ ông. Lòng ta cũng trào dâng niềm tự hào mỗi khi nhắc tới danh xưng Thi tướng mà nhân dân tôn vinh ông. Có lẽ không ngôn từ nào diễn đạt đầy đủ và chính xác những phẩm chất cao quý trong con người ông bằng danh xưng ấy.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm