TIN TỨC

Nhà văn Nam Cao trong thoáng cười lặng lẽ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-02-25 17:00:36
mail facebook google pos stwis
899 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Năm Ất Tỵ 2025 kỷ niệm 110 năm ngày sinh của nhà văn Nam Cao (1915-1951). Được xem như một nhà văn tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán, cuộc đời 36 năm của Nam Cao chỉ viết về trí thức nghèo và nông dân nghèo, với bao nỗi buồn thống đắng đót. Đọc tác phẩm Nam Cao, chỉ muốn khóc cho “một bữa no” của những kiếp người bần cùng và đói rách. Cho nên, những dịp vui vẻ như lễ Tết, công chúng ít nhắc đến văn Nam Cao. Tuy nhiên, nếu soi rọi kỹ lưỡng trong sự nghiệp Nam Cao, cũng không khó để phát hiện ra vài thoáng cười lặng lẽ.

Nhà văn Nam Cao, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996, có hộ tên trong giấy tờ khai sinh là Trần Hữu Tri. Quê quán ở tổng Cao Đà, huyện Nam Sang thuộc phủ Lý Nhân (xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam bây giờ) nên ông lấy chữ “Nam” trong huyện Nam Sang và chữ “Cao” trong tổng Cao Đà mà làm nên bút danh Nam Cao. Đầu năm 1935, Nam Cao tổ chức hôn lễ với thiếu nữ cùng làng Trần Thị Sen và đến cuối năm 1935 thì ông từ biệt vợ hiền để vào miền Nam kiếm sống.

Tại Sài Gòn, Nam Cao làm thư ký cho hiệu may Ba Lễ và bắt đầu cầm bút. Những truyện ngắn đầu tay công bố năm 1936 và 1937 như Cảnh cuối cùng, Hai cái xác, Một bà hào hiệp, Nghèo, Dưới mưa hoặc Những cánh hoa tàn đều được Nam Cao viết tại đô thị phương Nam.

Vì sức khỏe thường xuyên đau yếu, giữa năm 1938, Nam Cao trở lại quê nhà dưỡng bệnh, rồi lên Hà Nội dạy học. Từ năm 1940, Nam Cao bắt đầu nổi tiếng trên văn đàn. Những cuộc đời cơ cực, những số phận lầm lũi, những định mệnh trái ngang được Nam Cao đưa vào trang viết, gây xúc động sâu sắc cho bạn đọc. Cái khổ trong truyện Nam Cao không chỉ là bần cố nông mà còn cả tri thức. Ví dụ, nhân vật ông giáo Thứ trong Sống mòn từng băn khoăn vì chưa chắt “không dám đón nhà bạn ngay vì sợ thiên hạ biết mình ít để dành, bạn đến mình phải có gà thịt đãi đằng...”. Bầy gió trong lồng cứ thản nhiên bay lượn, còn lại sự xót thương. Họ sống vậy, thương con, thương tất cả những người phải khổ đau.

Tuy nhiên, nếu thấu hiểu những lầm lạc và gieo neo, nhà văn Nam Cao tìm thấy một con đường bí mật của sự lạc quan. Truyện ngắn Nụ cười viết năm 1941, nhà văn Nam Cao không những viết hai câu đề từ “Vui sướng đi cho đời ta vui/ Vui sướng đi cho người cùng vui”, mà ông còn để nhân vật Hoạt trình bày quan niệm vượt qua nghịch cảnh: “Lặng lẽ mà chịu những cái khổ chịu hằng ngày, lặng lẽ mà đau đến khi nỗi đau không tránh được, lấy nụ cười mà che đậy cái buồn riêng của mình để người chung quanh khỏi buồn lây... thì cũng là can đảm, mà là thứ can đảm ít người có được... Gặp những cái khổ chịu, những điều trái ý, những nỗi đau khổ ở đời ta phải tìm cách chống lại, nhưng khi chống lại cũng không xong thì chỉ còn một cách mỉm cười mà nhận lấy.”

Không thể nào phủ nhận, không gian sáng tạo của nhà văn Nam Cao luôn bao phủ một sắc màu não nề day dứt. Ấy vậy mà, ngay giai đoạn bút lực sung mãn nhất, Nam Cao cũng có lúc thích cười. Tháng 9/1943, Nam Cao in truyện ngắn Bực mình trên tờ Tiểu thuyết Thứ Bảy, sau đó tự mình sửa lại thành Cười, và lấy Cười làm tên chung cho tập truyện ngắn xuất bản cùng năm. Rõ ràng, Nam Cao có tâm đắc thực sự với Cười.

Trong di sản Nam Cao, Cười không nổi trội như Đời thừa, Trăng sáng hay Trẻ con không được ăn thịt chó, nhưng đó là một tác phẩm lạ. Những ai mến mộ nhà văn Nam Cao đều dễ dàng nhận ra, ông rất quan tâm đến việc đặt tên cho nhân vật. Và cái tài đặt tên cho nhân vật của Nam Cao ít nhiều giúp tác phẩm mở rộng biên độ thẩm mỹ. Ngoài hai nhân vật Chí Phèo và Thị Nở lừng lẫy, Nam Cao hay dùng tên nhân vật mà mình yêu mến để đặt cho tác phẩm như Đi Hiếu, như Lão Hạc... Ngược lại, những nhân vật phản cảm thì ông đặt tên khá quái dị, ví dụ Trạch Văn Đoành trong Đời mộng du, Thiên Lôi trong Nửa đêm.

Truyện ngắn Cười không nhân vật nào có tên. Vì nhà văn Nam Cao quan niệm tiếng cười là của chung thiên hạ, không thuộc về riêng ai chăng? Nếu trong truyện ngắn Nhìn người ta sung sướng, Nam Cao đã một lần lý giải ý nghĩa của “tiếng cười này lên đánh dấu” rằng “họ cười ầm ĩ như thể chỉ là để đẩy bớt chua cay ra khỏi lòng”, thì trong truyện ngắn Cười, Nam Cao phân tích tiếng cười một cách cụ thể và mạch lạc: “Khi người ta cãi, mặt người ta đỏ, ai đó ngăn lại. Có người ta bị tát. Máu tiết ra chát hại người tát. Người tát đỏ mặt. Nhưng nếu ngay lúc ấy người ta chỉ mỉm cười một cái thì mọi sự tiêu tan hết. Mặt tươi ra. Có thoáng chút tiếc nuối. Ta ngoài hết. Người trở lại. Nụ cười chính là một vị thuốc tiêu đàm, tay độc, lượng huyết và bổ phế, bổ tì, bổ can, bổ thận, chẳng cái gì không bổ.”

Nhân vật người chồng trong truyện ngắn Cười cảm thấy “khổ hơn bị người ta chặt cổ” vì cô dâu con “hơi một tí đi nhé mím ra khóc”, còn người vợ “rửa oan và rửa luôn kiếp mình”. Bực tức thì không bao giờ hạnh phúc lâu. An tâm bỏ đi chẳng có, hơi đâu mà chuốc lấy nỗi đau tức giận, hận vợ lắm ngay ra một cái thì mỗi nghìn nẻo mà cười cho đỡ khổ.

Tại sao người chồng chọn giải pháp cười, không phải cách khác? Vì đã thử nhiều cách mà không hiệu nghiệm. Mọi sự tiêu tan khi anh mỉm cười: “Tôi khổ lắm, tôi vất vả lắm. Tôi sung sướng lắm. Vợ tôi thật đáng yêu” với hy vọng mong manh rằng “hắn cứ cố kêu mãi, tất có ngày hắn sẽ khỏe lắm, vui lắm, sung sướng lắm, và vợ hắn đáng yêu lắm thật.” Tuy nhiên, cái phương pháp tự kỷ ám thị mà người chồng nghĩ ra cũng phá sản khi người vợ báo tin nhà hết tiền, phải bán bớt năm thúng thóc.

Luôn dẫn vợ “giỏi bắt anh ôm đau đến thành một phần hết nhân ái vợ”, nên người chồng quyết tâm đi kiếm tiền bằng nghề dạy học. Và anh kết thúc bằng nụ cười ru rúi, đọc lại mệnh đề triết lý Nam Cao: “Không nên kết một đống xù xì, vậy thì tôi giã mà không cười. Cứ cười đi.”

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP. HCM số Xuân Ất Tỵ 2025.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm
Đại tướng Lê Văn Dũng – Một “ông già Nam bộ”
Bài viết của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển.
Xem thêm