TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Bản hùng ca anh “Bộ đội Cụ Hồ”: Đoàn Thanh Phương - người Cộng sản đối chọi với bao gông cùm đế quốc

Bản hùng ca anh “Bộ đội Cụ Hồ”: Đoàn Thanh Phương - người Cộng sản đối chọi với bao gông cùm đế quốc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
1094 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

PHẠM BÁ NHIỄU

Về tỉnh Vĩnh Long nhiều lần, song tôi biết anh Đoàn Thanh Phương trong một lần, được Huyện ủy Trà Ôn mời dự buổi báo cáo chuyên đề Nghị quyết Đại hội VII Tỉnh Đảng bộ Vĩnh Long, khi còn công tác tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long. Lần ấy, sau giờ giải lao Bí thư Huyện ủy Trà Ôn - người chủ trì buổi họp, có mời anh Đoàn Thanh Phương vào uống nước, nói chuyện và giới thiệu là một tù nhân bộ đội, một chiến sĩ Công sản đã đi từ nhà lao Vĩnh Long, nhà tù Cần Thơ, đến nhà tù Phú Quốc, Côn Đảo… mà kẻ địch không hề làm gì nổi trước ý chí của anh.


Anh Đoàn Thanh Phương & thượng sĩ Nhất Nhu - Trần Văn Nhu (ảnh tư liệu nhà tù Phú Quốc).

Biết anh Đoàn Thanh Phương là một chiến sĩ kiên cuờng trong lao tù của Mỹ - ngụy, tôi đã mời anh nhiều lần đến kể chuyện cho các hội nghị báo cáo viên của tuổi trẻ hay của Liên Đoàn lao động tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổ chức, và anh rất vui vẻ nhận lời; anh đã kể bằng chính cuộc đời thật của mình, chính những nhân chứng mà anh từng gặp, qua cả mấy năm tù đày của các nhà tù Mỹ-ngụy Sài Gòn, không thể nào khuất phục được các anh.

Anh Thanh Phương quê tại vùng đất Vĩnh Xuân - Trà Ôn, song lại hoạt động điệp báo nội tỉnh từ rất sớm, từ năm 1960. Lần đó, anh kể, khi anh được cử làm Trưởng trạm y tế xã Vĩnh Xuân (do tổ chức cài cắm để che mắt địch), trong một lần vượt qua các chốt kẻ địch tìm mua thuốc về trạm, anh đã bị chúng ném lựu đạn làm anh ngất đi, rồi bị chúng bắt giam, đày vào nhà lao Vĩnh Long (lúc đó đóng tại P.1 bây giờ). “Đó là ngày 03-6-1966, địch đưa tôi vào nhà lao Vĩnh Long, sau đó ngày 28-5-1967, chúng đưa sang nhà tù Cần Thơ, sau cùng, ngày 28-5-1968, chúng đưa tôi cùng 2000 chiến sĩ ta mà chúng bắt giam, đày ra nhà tù Phú Quốc” - anh nhấn mạnh.

Năm 1998, Hội Văn học Nghệ Thuật tỉnh Vĩnh Long tổ chức gần cả tuần lễ thực tế và sáng tác cho hơn 20 hội viên, các nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh của tỉnh, đi thực tế tại đảo Phú Quốc và Nhà tù Phú Quốc, dầu lúc này Nhà tù Phú Quốc qua bao năm tháng sau ngày giải phóng miền Nam, ít có sự chăm lo, đã bị hao mòn các cơ sở, kể cả các khu từng đối chất, gom nhốt, tra tấn người tù là các chiến sĩ ta. Lần ấy, chúng tôi rất hân hạnh được anh Thanh Phương, cùng đi với đoàn và trong gần cả tuần lễ đó, anh là người duy nhất từng ở tù lâu năm tại Phú Quốc, đã giúp tất cả mọi thành viên hiểu được thế nào là tra tấn ghê gớm tù nhân ta tại Nhà tù Phú Quốc, đối với các chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ, những đảng viên trung kiên của Đảng.

Và cũng lần ấy, anh là người biết rõ nhất nơi ở khu nhà và vườn cây của thuợng sĩ ngụy Sài Gòn Nhất Nhu (Trần Văn Nhu), quê ở Đồng Tháp, từng là đối tượng gan lỳ nhất, hiểm nguy nhất cho mỗi người tù tại Phú Quốc. Bằng các hình thức tra tấn bẽ rang, búng vào bộ hạ người tù... Trưa đó, trời hơi nắng nhẹ gió đảo thổi vào thật êm, trưa đó, khi ngồi trên xe xuống nhà ông Nhất Nhu, tôi chưa thể hiểu ra cách tra tấn kiểu này, mà sao bộ đội ta chịu đựng nổi. Anh Thanh Phương nói gọn lỏn: Vào thì chú biết, nói là tra tấn bằng bẻ răng, tức là dùng chiếc kìm sắt to tướng, tay ông ta cầm và nhằm vào mỗi chiếc răng của người chiến sĩ, mà bẻ từng cái, cho máu mỗi chiến sĩ cứ phun ra… Trong hơn 10 năm liền, tay thượng sĩ Nhất Nhu cứ tra tấn ghê rợn người như thế, song không một tù nhân nào, người chiến sĩ bộ đội ta nào, phải chịu khuất phục, khai báo theo ý đồ của chúng.

Vào đến ngôi nhà thượng sĩ tra tấn tù nhân khét tiếng Nhất Nhu, nằm khuất sau khu vườn cách con đường chính từ Bắc đảo đi Nam đảo vài trăm mét. Kẻ tra tấn tù nhân khét tiếng Nhất Nhu, dáng thấp, người mập, có con mắt như nhằm dò xét với từng người. Anh Thanh Phương, nói cho ông Nhất Nhu: “Anh yên tâm, hôm nay các nhà báo, nhà văn đến để tìm hiểu về các cách đối xử với tù nhân, cho những người chưa từng biết, để trong cách viết của họ, mà được hiểu thêm”.

Tôi biết phải cố gắng, kìm lòng mình quá mức, thì anh Thanh Phương mới nói được với các nhà báo, nhà văn của tỉnh, khi chính mình đã từng bị kẻ ngồi ngay trước mặt đây, đã bẻ 12 lần gãy từng chiếc răng của mình và bao đồng đội khác.

Lần ấy, dù trời giữa nắng trưa, trời xứ đảo có gió mát, song ai cũng toát mồ khi nghe một kẻ tra tấn tù nhân cộng sản nổi tiếng nhất Nhà tù Phú Quốc ngồi nói chuyện bẻ gãy từng chiếc răng của bạn tù anh Thanh Phương. Đến nổi sau khi tra tấn xong, nhiều chiến sĩ đã ngất xỉu tại khu tra tấn, để bạn tù phải ra cõng về khu giam.

Cứ 4 năm dài đằng đẵng, anh Thanh Phương và bao bạn tù là các chiến sĩ bộ đội ta, cứ ngày mỗi ngày được kẻ sát nhân thượng sĩ Nhất Nhu, “cho nếm” dùi cui, nếm những chiếc răng bị bẻ gãy của từng chiến sĩ là tù nhân nhà tù. Máu lạnh tanh trước cái chết con người, đã chớm hết cả con người này, khi ông ta cứ thản nhiên kể cách tra tấn rất ư kiểu Mỹ này, mà không hề có một sự xót thương tình người với người, cùng đồng loại, cùng dân tộc.

Lần ấy, anh hùng Đoàn Thanh Phương nói, chính anh bị kẻ máu lạnh này bẻ gãy răng đến 12 lần, còn cách tra tấn bằng dùi cui, thì không thể nào nhớ hết. Song, các anh vẫn không một ai, khai ra với chúng nữa lời về cơ sở của đơn vị. Dữ nhất là đêm mùng 8 Tết Kỷ Dậu, năm 1969, anh Thanh Phương và 4 bạn tù vượt ngục, tính vượt ngục rồi đi bằng đường biển trở về đất liền, thì bị chúng phát hiện, bắt vào, tra tấn bằng cách vừa nhổ răng anh, vừa rút móng tay, móng chân… những cách tra tấn, mà nay ngồi trước mặt người lính hiền lành như đất, tôi cũng không thể ngờ chúng đã tra tấn một tù nhân chúng ta, theo kiểu còn hơn cả thời trung cổ như thế. Cứ thế, cả 4 lần vượt ngục Phú Quốc của anh và đồng đội, khi bị chúng phát hiện đều được “nếm” đủ mùi tra tấn từ tay kẻ sát nhân thượng sĩ Nhất Nhu, mà chúng tôi được bắt gặp trong lần thực tế Nhà tù Phú Quốc lần đó.

Lửa và máu trong tim anh luôn tin vào Đảng, tin vào cuộc kháng chiến thành công, đã giúp các anh đứng vững. Nợ máu phải trả bằng máu, ngày 21-01-1971, anh Thanh Phương cùng phối hợp 2 chiến sĩ khác đã bắt tên cảnh sát ác ôn Lê Ba phải đền tội. Sau đó, chúng đưa 3 người trong vụ việc này ra trước tòa án binh của chúng tại TP. Cần Thơ, kết án anh Trần Văn Minh (quê Tiền Giang) 15 năm tù, anh Trần Minh Quang 20 năm tù, còn anh thì chúng kết tội tù tử hình và đày đi Côn Đảo từ năm 1971. Cho đến ngày trao trả tù binh, ngày 07-4-1974 tại TP Biên Hòa - Đồng Nai, các anh mới được trao trả.

Hòa bình trở về, anh được đơn vị đón về quê hương Vĩnh Xuân - Trà Ôn, cùng an dưỡng mấy tháng liền mới đủ sức khỏe phục vụ tiếp trong quân đội, khi đó anh là là Chính trị viên đại đội 2, của Tiểu đoàn Tây Đô, thuộc Quân khu 9.

Sau này, sức khỏe giảm đi, anh được đơn vị cho chuyển ngành về làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Trà Ôn, rồi nghỉ hưu trước tuổi do sức khỏe bị tra tấn trong lao tù giảm sút, từ năm 1979. Năm 1985, vinh dự đến với người chiến sĩ Cộng sản là anh đã được Chủ tịch nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang.

Lần về Vĩnh Long gần đây, đến thăm anh tại Phường 4 - TP Vĩnh Long, chúng tôi mới biết, sau khi nghỉ hưu, anh về lại quê nhà, rồi lên TP Vĩnh Long sống cùng với các con. Chúng tôi rất mừng cho anh, đã nuôi dạy các con học hành rất chu đáo. Nay một con trai là Thiếu tá, Chính ủy Trường dạy nghề số 9, Quân khu 9, đang noi gương cha tiếp tục phục vụ trong quân đội, còn 2 con gái anh nay đã là bác sĩ, đang công tác tại tỉnh nhà. Chú Nguyễn Văn Năm, Chi hội phó Chi hội Cựu chiến binh (CCB) Khu phố 4, Phường 4 nói với chúng tôi: “Anh Hai Phương là một CCB rất gương mẫu, khi anh về TP Vĩnh Long, được chính quyền hỗ trợ nền đất và anh tự làm quán bánh bún, để nuôi dưỡng 3 con ăn học thành tài. Mỗi hội viên CCB khu phố chúng tôi đều lấy gương anh, để mà nuôi dạy con cái”.

Chia tay người tù nhân Cộng sản, người 4 lần tổ chức cho anh em bạn tù vượt ngục tại Nhà tù Phú Quốc, chúng tôi cũng cầu chúc cho anh luôn giữ được sức khỏe, để cùng với mỗi bạn tù Phú Quốc khi trở về để cùng sống an lành sau những trận đòn thù trong nhà tù của đế quốc, chia sẻ cùng bà con lối xóm, sống chan hòa trong thanh bình của một TP Vĩnh Lon g- TP Anh hùng, mà xương máu các anh đã từng cống hiến.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cha tôi: Một ngón đàn tài tử đậm hồn thơ – Tạp bút Tương Như
Trong suốt cuộc đời, đôi khi phải chịu đựng cảnh mưa gió chìm nổi, tôi vẫn thường tự nghĩ mình là có lẽ là nơi hội tụ cơ duyên giữa ba dòng sông nghệ thuật: mỹ thuật, thi ca và âm nhạc.
Xem thêm
Duyên đá - Bút ký của Minh Đan
Mỗi ngày, mặt trời phía xa xa chưa kịp lấp ló, đã thấy ba tôi cần mẫn xách những xô nước mát trong trĩu nặng đôi bờ vai xương xẩu tưới lên những tia sống khỏe, mớm yêu cho từng khóm cây, chậu cảnh vườn nhà.
Xem thêm
Sức quyến rũ của sự chân thành
16 giờ ngày 14.4.2024, Nhà xuất bản Hội Nhà văn tổ chức buổi gặp gỡ giao lưu giữa tác giả - Tiến sĩ Lê Kiên Thành (con trai cố Tổng bí thư Lê Duẩn)
Xem thêm
Sông chảy bên đời – Tuỳ bút của Nguyễn Thị Thu Thủy
Một đời người đã đi qua biết bao dòng sông, bao nhiêu ngã rẽ, khúc cua; mỗi dòng sông đều để lại bao luyến lưu, vương vấn, để lại những kí ức luôn tươi xanh mỗi khi nhớ về. Sông vẫn cứ chảy như thời gian trôi đi mải miết vì vậy “không ai tắm hai lần trên một dòng sông”.
Xem thêm
Rặng Diên Vĩ - Tản văn của Quốc Tuấn
Gió vẫn thổi, mái tóc thơm tuột khỏi giây buộc, quấn quanh đầu như vòng hoa nâu thẫm, vô tình quất bỏng môi người. Mùi hương đó, quen quá. Mùi tóc mẹ, hương quê vị quán. Tựa như làn nước lung linh, hơi thở chị uyển chuyển theo nhịp điệu không gian. Đôi mắt và đôi môi vẫn mỉm cười nhưng đã có chút tiếc nuối. Chính nỗi buồn ẩn chứa trên khuôn dung đã khiến chị trở nên hấp dẫn, pha lẫn sự hồn nhiên, ngây thơ tạo nên một tổng thể đẹp đến khó tin.
Xem thêm
Trần Bảo Định - Thú thưởng ngoạn văn chương qua tác phẩm “Đọc thơ bạn”
Có thể nói Trần Bảo Định là một hiện tượng văn học Việt Nam hiện đại: Chỉ trong vòng khoảng hơn 10 năm trở lại đây, từ khi về hưu anh đã cho ra đời 6 tập thơ, hơn 10 tập tản văn, truyện ngắn và 3 tập tiểu luận phê bình trong khi phải chống chọi với căn bệnh ung thư quái ác...
Xem thêm
Canh cá rô đồng – Tản văn của Châu Duyên
Tôi biết về món canh cá rô đồng đã lâu theo lời kể của cô bạn đang ở thành phố mang tên Bác, toàn những tin nhắn như là: Ê! Trưa nay tớ đang ăn canh cá rô đồng nè.
Xem thêm
Sài Gòn như nhà, như mẹ, như quê… – Tản văn của Triệu Vẽ
Ở Sài Gòn, không có ranh giới trọng khinh giữa dân “Sài Gòn” hay dân “tỉnh lẻ”, dân “phố” hay dân “phèn”. Trong huyết quản sâu xa của người Sài Gòn có ruộng đồng, bờ bãi, con trâu, con gà.
Xem thêm
Ơi mùa hoa ban! – Bút ký của Nguyễn Huy Bang
Chiếc máy bay VJ 299 từ Tân Sơn Nhất (sau 2 giờ 5 phút) bay qua không phận 3 nước.
Xem thêm
Tháng Ba hoa gạo – Tản văn của Bằng Lăng Tím
Đào phai, mai vàng là sự kì diệu của tháng giêng. Chúa của các loài hoa tháng ba chính là hoa gạo. Xuân sắp sửa đi qua, hạ lấp ló ở đầu ngõ. Hoa gạo đẹp theo nét riêng và tùy vào thời tiết. Hôm nào trời quang hoa đỏ thắm, ngời sắc trong khoảng không. Ríu rít đàn chim, lao xao ong bướm. Hoa như đốm lửa thắp sáng cả bình minh. Hôm nào sương dày đặc, nhìn hoa như ánh lửa đêm đông, lập lòe mang đến sự ấm áp lạ thường.
Xem thêm
Nhớ hoa đào - Tùy văn của Nguyễn Linh Khiếu
Mỗi năm khi sắp tết bao giờ mình cũng mua hoa đào. Hà Nội không có hoa đào làm sao gọi là tết. Dù là bích đào bạch đào hay đào phai thì hoa đào bao giờ cũng mang tết đến mỗi ngôi nhà thân thương. 
Xem thêm
Giữa những mùa hoa nở - Bút ký Nguyễn Xuân Thủy
Từ Yên Khương, thuộc huyện Lang Chánh chúng tôi đi theo đường tuần tra biên giới lên Đồn Biên phòng Bát Mọt, thuộc huyện Thường Xuân. Đường tuần tra biên giới chập chùng uốn lượn giữa núi non, len lỏi giữa màu xanh của rừng. Càng lên hướng Cửa khẩu Khẹo càng có cảm giác đang đi về nơi thâm sơn cùng cốc. Cũng đúng, Bát Mọt là tuyến cuối của dải biên giới xứ Thanh, nơi có cột mốc 378 là nơi tiếp giáp biên giới giữa Thanh Hóa và Nghệ An. Những nơi cuối đất cùng trời bao giờ cũng gợi cho người ta sự rưng rưng về những niềm thương nỗi nhớ.
Xem thêm
Lửa Cát Bi, ngọn trao truyền khí chất Hải Phòng
“Ơi Hải Phòng cửa biển quê hương/ Tổ quốc đang ghi những trang lịch sử/ Của Hải Phòng viết trên sóng bão Thái Bình Dương”. Với vị thế địa lý của Hải Phòng, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nơi đây luôn là miền đất tiền tiêu quan trọng, cửa ngõ chiến lược. Bởi kẻ thù thường tiến hành xâm lược Hải Phòng đầu tiên, lấy đó làm bàn đạp để đánh chiếm Thăng Long – Hà Nội. Khi thất bại, chúng cũng thường chọn Hải Phòng là một trong những tuyến đường rút chạy cuối cùng. Hải Phòng là địa phương luôn “đi trước về sau”, có vị trí xứng đáng, giữ vai trò quan trọng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc cũng như các cuộc kháng chiến của cách mạng Việt Nam, xứng đáng với danh hiệu “Thành phố Cảng trung dũng, quyết thắng”.
Xem thêm
Mùi Tết vương dấu chân xa – Tản văn của Đặng Tường Vy
Mỗi độ xuân về, người con xa xứ không tránh khỏi rưng rức, chạnh lòng. Nỗi nhớ trong lòng người tha hương rất lạ: sâu lắng, dịu dàng, chôn kín. Như gái đôi mươi thầm thương trộm nhớ một ai đó, âm thầm, mãnh liệt, nồng nàn,  tha thiết.
Xem thêm
Mùi hương thảo - Tản văn Quốc Tuấn
Chị mười tám, hay hai lăm tuổi. Tôi cũng chẳng biết và không cần biết, chỉ cần trong tôi đã bận lòng trước vẻ đẹp thuần khiết của loài cúc lam đồng thảo ấy. Nơi đáy mắt thể hiện những đốm lửa vui, những nét cong, nếp gấp mong manh nơi khóe miệng, bờ môi thể hiện sự phong phú nơi nhiệt tâm.
Xem thêm
Phép màu đã không đến với chị, chị Hồng Oanh ơi!
Chia sẻ của nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh
Xem thêm
Vào vườn hương
Thành phố Cần Thơ đất rộng người thưa không chỉ có gạo trắng nước trong để níu chân người và du khách bốn phương. Tây Đô còn là mảnh đất văn hiến với không hiếm những trang anh hùng hào kiệt yêu nước và nghệ sĩ phong lưu tài hoa nhân cách. Kế thừa truyền thống văn chương của Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt … và các bậc văn nghệ sĩ đàn anh: Kiều Thanh Quế, Lưu Hữu Phước, Hoài Sơn, Mai Văn Bộ, Trần Kiết Tường, …đã có không ít thế hệ đàn em kế thừa xứng đáng trên lĩnh vực văn học nghệ thuật.
Xem thêm
Suy ngẫm về “chữ” của “một thời vang bóng”_ Tản mạn của Quốc Tuấn
Người xưa, dẫu không biết chữ nhưng khi thấy một mẫu giấy có vết mực sẽ lượm lên, mang về cất giữ. Điều đó thể hiện sự “sùng chữ” (trân trọng giá trị của văn chương, chữ nghĩa) của ông cha. Những người không biết chữ đã biết đối xử với con chữ bằng tấm lòng trân quý như thế, thì dễ hiểu các trí giả đời trước họ sống với chữ nghĩa sâu sắc đến độ nào.
Xem thêm
Má tôi
Bài đăng báo Người Lao động Xuân Giáp Thìn 2024
Xem thêm