TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Bản hùng ca anh “Bộ đội Cụ Hồ”: Đoàn Thanh Phương - người Cộng sản đối chọi với bao gông cùm đế quốc

Bản hùng ca anh “Bộ đội Cụ Hồ”: Đoàn Thanh Phương - người Cộng sản đối chọi với bao gông cùm đế quốc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-05 10:10:56
mail facebook google pos stwis
2298 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

PHẠM BÁ NHIỄU

Về tỉnh Vĩnh Long nhiều lần, song tôi biết anh Đoàn Thanh Phương trong một lần, được Huyện ủy Trà Ôn mời dự buổi báo cáo chuyên đề Nghị quyết Đại hội VII Tỉnh Đảng bộ Vĩnh Long, khi còn công tác tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long. Lần ấy, sau giờ giải lao Bí thư Huyện ủy Trà Ôn - người chủ trì buổi họp, có mời anh Đoàn Thanh Phương vào uống nước, nói chuyện và giới thiệu là một tù nhân bộ đội, một chiến sĩ Công sản đã đi từ nhà lao Vĩnh Long, nhà tù Cần Thơ, đến nhà tù Phú Quốc, Côn Đảo… mà kẻ địch không hề làm gì nổi trước ý chí của anh.


Anh Đoàn Thanh Phương & thượng sĩ Nhất Nhu - Trần Văn Nhu (ảnh tư liệu nhà tù Phú Quốc).

Biết anh Đoàn Thanh Phương là một chiến sĩ kiên cuờng trong lao tù của Mỹ - ngụy, tôi đã mời anh nhiều lần đến kể chuyện cho các hội nghị báo cáo viên của tuổi trẻ hay của Liên Đoàn lao động tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổ chức, và anh rất vui vẻ nhận lời; anh đã kể bằng chính cuộc đời thật của mình, chính những nhân chứng mà anh từng gặp, qua cả mấy năm tù đày của các nhà tù Mỹ-ngụy Sài Gòn, không thể nào khuất phục được các anh.

Anh Thanh Phương quê tại vùng đất Vĩnh Xuân - Trà Ôn, song lại hoạt động điệp báo nội tỉnh từ rất sớm, từ năm 1960. Lần đó, anh kể, khi anh được cử làm Trưởng trạm y tế xã Vĩnh Xuân (do tổ chức cài cắm để che mắt địch), trong một lần vượt qua các chốt kẻ địch tìm mua thuốc về trạm, anh đã bị chúng ném lựu đạn làm anh ngất đi, rồi bị chúng bắt giam, đày vào nhà lao Vĩnh Long (lúc đó đóng tại P.1 bây giờ). “Đó là ngày 03-6-1966, địch đưa tôi vào nhà lao Vĩnh Long, sau đó ngày 28-5-1967, chúng đưa sang nhà tù Cần Thơ, sau cùng, ngày 28-5-1968, chúng đưa tôi cùng 2000 chiến sĩ ta mà chúng bắt giam, đày ra nhà tù Phú Quốc” - anh nhấn mạnh.

Năm 1998, Hội Văn học Nghệ Thuật tỉnh Vĩnh Long tổ chức gần cả tuần lễ thực tế và sáng tác cho hơn 20 hội viên, các nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh của tỉnh, đi thực tế tại đảo Phú Quốc và Nhà tù Phú Quốc, dầu lúc này Nhà tù Phú Quốc qua bao năm tháng sau ngày giải phóng miền Nam, ít có sự chăm lo, đã bị hao mòn các cơ sở, kể cả các khu từng đối chất, gom nhốt, tra tấn người tù là các chiến sĩ ta. Lần ấy, chúng tôi rất hân hạnh được anh Thanh Phương, cùng đi với đoàn và trong gần cả tuần lễ đó, anh là người duy nhất từng ở tù lâu năm tại Phú Quốc, đã giúp tất cả mọi thành viên hiểu được thế nào là tra tấn ghê gớm tù nhân ta tại Nhà tù Phú Quốc, đối với các chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ, những đảng viên trung kiên của Đảng.

Và cũng lần ấy, anh là người biết rõ nhất nơi ở khu nhà và vườn cây của thuợng sĩ ngụy Sài Gòn Nhất Nhu (Trần Văn Nhu), quê ở Đồng Tháp, từng là đối tượng gan lỳ nhất, hiểm nguy nhất cho mỗi người tù tại Phú Quốc. Bằng các hình thức tra tấn bẽ rang, búng vào bộ hạ người tù... Trưa đó, trời hơi nắng nhẹ gió đảo thổi vào thật êm, trưa đó, khi ngồi trên xe xuống nhà ông Nhất Nhu, tôi chưa thể hiểu ra cách tra tấn kiểu này, mà sao bộ đội ta chịu đựng nổi. Anh Thanh Phương nói gọn lỏn: Vào thì chú biết, nói là tra tấn bằng bẻ răng, tức là dùng chiếc kìm sắt to tướng, tay ông ta cầm và nhằm vào mỗi chiếc răng của người chiến sĩ, mà bẻ từng cái, cho máu mỗi chiến sĩ cứ phun ra… Trong hơn 10 năm liền, tay thượng sĩ Nhất Nhu cứ tra tấn ghê rợn người như thế, song không một tù nhân nào, người chiến sĩ bộ đội ta nào, phải chịu khuất phục, khai báo theo ý đồ của chúng.

Vào đến ngôi nhà thượng sĩ tra tấn tù nhân khét tiếng Nhất Nhu, nằm khuất sau khu vườn cách con đường chính từ Bắc đảo đi Nam đảo vài trăm mét. Kẻ tra tấn tù nhân khét tiếng Nhất Nhu, dáng thấp, người mập, có con mắt như nhằm dò xét với từng người. Anh Thanh Phương, nói cho ông Nhất Nhu: “Anh yên tâm, hôm nay các nhà báo, nhà văn đến để tìm hiểu về các cách đối xử với tù nhân, cho những người chưa từng biết, để trong cách viết của họ, mà được hiểu thêm”.

Tôi biết phải cố gắng, kìm lòng mình quá mức, thì anh Thanh Phương mới nói được với các nhà báo, nhà văn của tỉnh, khi chính mình đã từng bị kẻ ngồi ngay trước mặt đây, đã bẻ 12 lần gãy từng chiếc răng của mình và bao đồng đội khác.

Lần ấy, dù trời giữa nắng trưa, trời xứ đảo có gió mát, song ai cũng toát mồ khi nghe một kẻ tra tấn tù nhân cộng sản nổi tiếng nhất Nhà tù Phú Quốc ngồi nói chuyện bẻ gãy từng chiếc răng của bạn tù anh Thanh Phương. Đến nổi sau khi tra tấn xong, nhiều chiến sĩ đã ngất xỉu tại khu tra tấn, để bạn tù phải ra cõng về khu giam.

Cứ 4 năm dài đằng đẵng, anh Thanh Phương và bao bạn tù là các chiến sĩ bộ đội ta, cứ ngày mỗi ngày được kẻ sát nhân thượng sĩ Nhất Nhu, “cho nếm” dùi cui, nếm những chiếc răng bị bẻ gãy của từng chiến sĩ là tù nhân nhà tù. Máu lạnh tanh trước cái chết con người, đã chớm hết cả con người này, khi ông ta cứ thản nhiên kể cách tra tấn rất ư kiểu Mỹ này, mà không hề có một sự xót thương tình người với người, cùng đồng loại, cùng dân tộc.

Lần ấy, anh hùng Đoàn Thanh Phương nói, chính anh bị kẻ máu lạnh này bẻ gãy răng đến 12 lần, còn cách tra tấn bằng dùi cui, thì không thể nào nhớ hết. Song, các anh vẫn không một ai, khai ra với chúng nữa lời về cơ sở của đơn vị. Dữ nhất là đêm mùng 8 Tết Kỷ Dậu, năm 1969, anh Thanh Phương và 4 bạn tù vượt ngục, tính vượt ngục rồi đi bằng đường biển trở về đất liền, thì bị chúng phát hiện, bắt vào, tra tấn bằng cách vừa nhổ răng anh, vừa rút móng tay, móng chân… những cách tra tấn, mà nay ngồi trước mặt người lính hiền lành như đất, tôi cũng không thể ngờ chúng đã tra tấn một tù nhân chúng ta, theo kiểu còn hơn cả thời trung cổ như thế. Cứ thế, cả 4 lần vượt ngục Phú Quốc của anh và đồng đội, khi bị chúng phát hiện đều được “nếm” đủ mùi tra tấn từ tay kẻ sát nhân thượng sĩ Nhất Nhu, mà chúng tôi được bắt gặp trong lần thực tế Nhà tù Phú Quốc lần đó.

Lửa và máu trong tim anh luôn tin vào Đảng, tin vào cuộc kháng chiến thành công, đã giúp các anh đứng vững. Nợ máu phải trả bằng máu, ngày 21-01-1971, anh Thanh Phương cùng phối hợp 2 chiến sĩ khác đã bắt tên cảnh sát ác ôn Lê Ba phải đền tội. Sau đó, chúng đưa 3 người trong vụ việc này ra trước tòa án binh của chúng tại TP. Cần Thơ, kết án anh Trần Văn Minh (quê Tiền Giang) 15 năm tù, anh Trần Minh Quang 20 năm tù, còn anh thì chúng kết tội tù tử hình và đày đi Côn Đảo từ năm 1971. Cho đến ngày trao trả tù binh, ngày 07-4-1974 tại TP Biên Hòa - Đồng Nai, các anh mới được trao trả.

Hòa bình trở về, anh được đơn vị đón về quê hương Vĩnh Xuân - Trà Ôn, cùng an dưỡng mấy tháng liền mới đủ sức khỏe phục vụ tiếp trong quân đội, khi đó anh là là Chính trị viên đại đội 2, của Tiểu đoàn Tây Đô, thuộc Quân khu 9.

Sau này, sức khỏe giảm đi, anh được đơn vị cho chuyển ngành về làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Trà Ôn, rồi nghỉ hưu trước tuổi do sức khỏe bị tra tấn trong lao tù giảm sút, từ năm 1979. Năm 1985, vinh dự đến với người chiến sĩ Cộng sản là anh đã được Chủ tịch nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang.

Lần về Vĩnh Long gần đây, đến thăm anh tại Phường 4 - TP Vĩnh Long, chúng tôi mới biết, sau khi nghỉ hưu, anh về lại quê nhà, rồi lên TP Vĩnh Long sống cùng với các con. Chúng tôi rất mừng cho anh, đã nuôi dạy các con học hành rất chu đáo. Nay một con trai là Thiếu tá, Chính ủy Trường dạy nghề số 9, Quân khu 9, đang noi gương cha tiếp tục phục vụ trong quân đội, còn 2 con gái anh nay đã là bác sĩ, đang công tác tại tỉnh nhà. Chú Nguyễn Văn Năm, Chi hội phó Chi hội Cựu chiến binh (CCB) Khu phố 4, Phường 4 nói với chúng tôi: “Anh Hai Phương là một CCB rất gương mẫu, khi anh về TP Vĩnh Long, được chính quyền hỗ trợ nền đất và anh tự làm quán bánh bún, để nuôi dưỡng 3 con ăn học thành tài. Mỗi hội viên CCB khu phố chúng tôi đều lấy gương anh, để mà nuôi dạy con cái”.

Chia tay người tù nhân Cộng sản, người 4 lần tổ chức cho anh em bạn tù vượt ngục tại Nhà tù Phú Quốc, chúng tôi cũng cầu chúc cho anh luôn giữ được sức khỏe, để cùng với mỗi bạn tù Phú Quốc khi trở về để cùng sống an lành sau những trận đòn thù trong nhà tù của đế quốc, chia sẻ cùng bà con lối xóm, sống chan hòa trong thanh bình của một TP Vĩnh Lon g- TP Anh hùng, mà xương máu các anh đã từng cống hiến.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm