TIN TỨC

Về Tiên Động nhớ Ngư Phong – Nguyễn Quang Bích

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-02-22 23:21:59
mail facebook google pos stwis
1327 lượt xem

PHAN ANH

1. Ngư Phong - Nguyễn Quang Bích, người hùng của núi rừng Tây Bắc.

Ngư Phong là tên hiệu của thủ lĩnh miền Thao - Đà trong thời Cần Vương chống Pháp ở Bắc Kỳ. Ông tên thật là Nguyễn Quang Bích (1832 – 1890). Đương thời ông được nhân dân miền Tây Bắc xưng tụng là “phật sống” và hết lòng yêu quý, ngưỡng mộ. “Phật sống” Nguyễn Quang Bích cũng có tên gọi khác là Ngô Quang Bích. Lý do, ông vốn là người của dòng họ Ngô Vương nhưng ông nội ông lại đổi sang họ ngoại, họ Nguyễn. Ngư Phong – Nguyễn Quang Bích sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (tức 7 tháng 5 năm 1832) tại làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay là làng Trình Nhất, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình). Nguyễn Quang Bích dùng danh xưng Ngư Phong để thể hiện tấm lòng yêu quý và thương nhớ quê hương. Ngư Phong tên một ngọn đồi chốn quê nhà Nguyễn Quang Bích ở Thái Bình. Đó chính là gò Chài, ở cửa bể, nơi những người dân chài quê ông mỗi khi đi biển về thường ngồi nghỉ và phơi chài, phơi lưới để chuẩn bị cho lần sau ra khơi. Nguyễn Quang Bích đặt tên hiệu của mình là Ngư Phong nhằm nhắc nhở, ngụ ý rằng luôn nhớ về quê hương. Nghe kể, thủa nhỏ ông học rất giỏi nhưng đỗ muộn. Năm 1861, ông đỗ cử nhân và được bổ làm giáo thụ phủ Trường Khánh, tỉnh Ninh Bình. Ông làm được một năm thì cáo quan về dạy học. Đến năm 1869 ông tiếp tục thi đình và đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ. Sau đó ông được bổ làm Tri phủ Lâm Thao (Phú Thọ), rồi Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa) và lần lượt làm Án sát tỉnh Sơn Tây, Tế tửu Quốc tử giám ở Huế, Án sát tỉnh Bình Định. Năm 1875, ông từng được vua Tự Đức giao cho duyệt bộ sách “Khâm định Việt sử Thông giám cương mục”. Cũng trong năm đó nhà Nguyễn cho mở doanh điền Hưng Hóa (Phú Thọ) để vừa khai hoang vừa phòng vệ ở khu vực núi rừng Tây Bắc và Nguyễn Quang Bích lại được cử làm Chánh sứ sơn phòng Hưng Hóa, năm sau ông được kiêm thêm chức Tuần phủ Hưng Hóa. Năm 1885, khi vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân cả nước đứng dậy chống Pháp cứu nước, Nguyễn Quang Bích được phong cấp Thượng thư bộ Lễ sung Hiệp thống quân vụ Bắc Kỳ đại thần, được toàn quyền chọn văn võ các cấp và hai lần được giao nhiệm vụ mang quốc thư sang Trung Quốc cầu viện. Tuy nhiên do Pháp - Thanh ký hiệp ước Thiên Tân (1885) nên việc bất thành. Tuy không thành nhưng ông cũng đã để lại những ấn tượng tốt đẹp và cũng phần nào tranh thủ được tình cảm cùng sự giúp đỡ ít ỏi của người Hoa, cụ thể là Sầm Dục Anh - Tổng đốc Vân Quý, đã gửi một ít vũ khí (600 khẩu súng), đạn dược, vật phẩm, bạc nén sang để khích lệ tinh thần kháng chiến của nghĩa quân.

Đền Ngư Phong - Nguyễn Quang Bích

Suốt cuộc đời làm quan, Nguyễn Quang Bích sống thanh liêm, đức độ. Đặc biệt, ông là vị quan nhà Nguyễn cương quyết chống lại đường lối thỏa hiệp với Pháp. Sau sự việc cầu Thanh bất thành, Nguyễn Quang Bích đã trực tiếp lãnh đạo phong trào chống Pháp ở Tây Bắc. Khi Pháp tấn công Hưng Hóa, ông đã chỉ huy binh lính giữ thành. Do tương quan giữa hai bên không cân sức, lực yếu quân mỏng, Nguyễn Quang Bích định theo gương Tổng đốc thành Hà Nội (Hoàng Diệu) tuẫn tiết ngay trên vọng lâu của kỳ đài. Tuy nhiên các tướng lĩnh bên ông đã kịp thời can ngăn, đưa ông lên ngựa, phá vòng vây của quân Pháp chạy về Tam Nông (Phú Thọ) rồi đến Cẩm Khê (Phú Thọ). Tại đây ông đã thu thập quân binh tính chuyện chiến đấu dài lâu, ông đã nói với các tướng sĩ và con cháu rằng: “Ta đã đem thân hứa quốc, không cần đi lại thăm nom. Sau này có nhớ đến ta cứ lấy ngày mất thành Hưng Hóa mà làm giỗ”.

Khi Pháp xâm lược Bắc Kỳ, từng nghe uy danh của “phật sống” nên quân Pháp đã không ít lần sai người dùng vinh hoa phú quí dụ ông đầu hàng nhưng Nguyễn Quang Bích đã khẳng khái trả lời bọn chúng: “Rồi, nếu mà thắng, mà sống thì là nghĩa sĩ của triều đình, nhưng chẳng may mà thua, mà chết thì cũng làm quỷ thiêng giết giặc… Thà chịu tội với nhất thời, quyết không chịu tội với vạn thế; một chữ thú từ nay xin đừng nhắc lại nữa và cũng đừng có khuyên bừa”. Từ năm 1885 đến 1890, Nguyễn Quang Bích vừa trực tiếp chỉ huy lực lượng vừa tìm cách liên kết với các thủ lĩnh phong trào yêu nước khác ở trong vùng như Nguyễn Thiện Thuật, Đèo Văn Trì, Nông Văn Quang, Cầm Văn Hoan, Cầm Văn Thanh … để cùng nhau chống Pháp. Và, ông cũng đã lôi kéo được khá nhiều sĩ phu, hào trưởng cùng đồng bào các dân tộc Kinh, Thái, Mường, H’Mông, Dao, Nùng… trực tiếp tham gia chiến đấu hoặc ủng hộ nghĩa quân nổi dậy chống Pháp. Cuộc kháng chiến của ông đang phát triển và thu được một số thắng lợi thì bất ngờ ông đổ bệnh rồi mất tại căn cứ Tôn Sơn vào ngày rằm tháng Chạp năm Canh Dần (tức 24 tháng 1 năm 1890). Ông ra đi trong niềm thương tiếc và ngưỡng mộ của mọi người khi nợ nước còn đang dang dở. Thi hài của ông đã được nghĩa quân mai táng tại đại bản doanh trên núi Tôn Sơn - Mộ Xuân xã Xuân An, huyện Yên Lập (Phú Thọ). Vài năm sau, hài cốt của ông đã được gia đình bí mật đưa về quê nhà. Cảm kích tấm lòng nhân nghĩa, yêu nước của Nguyễn Quang Bích, nhân dân nhiều nơi ở Phú Thọ đã dựng đền, lập miếu để thờ ông và nghĩa quân, trong đó có căn cứ Tiên Động ở xã Tiên Lương huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ. Không chỉ là một võ tướng, đương thời ông còn là một nhà ngoại giao, một thi sĩ rất tài hoa. Tác phẩm “Ngư Phong thi tập” (gồm 112 bài bằng chữ Hán) của ông để lại tựa như một cuốn nhật ký và thể hiện một cách rất sinh động về cảnh vật cũng như cuộc sống kháng chiến chống Pháp của con người vùng Tây Bắc hồi cuối thế kỷ XIX.

2. Đền thờ Tướng Quân, tĩnh lặng giữa trập trùng non xanh cọ biếc

Chúng tôi về Tiên Lương vào những ngày đầu xuân tiết trời rất đẹp. Bầu trời sáng trong cùng những làn gió vẫn còn hơi lạnh thổi nhẹ làm đung đưa những tàu cọ xanh biếc trên những đồi gò nhấp nhô khiến đất trời vùng trung du Tây Bắc hiện lên thật trữ tình. Xe chúng tôi sau một hồi rẽ trái, quẹo phải trên cung đường quanh co bên dòng sông Thao rồi cuối cùng cũng đến chân đồi Tướng Quân. Khi đến chân đồi, google map báo kết thúc nơi đến nhưng nhìn bốn phía chỉ thấy làng quê ẩn nấp bên những đồi, gò rợp bóng cọ xanh, chẳng thấy đền miếu đâu cả. Những tưởng nhầm đường đành dừng lại hỏi thăm một chú bé bên đường. Chú bé nhanh nhảu bảo đi ngược lại và hướng dẫn rẽ vào con đường đi lên đỉnh đồi. Theo chỉ dẫn, chúng tôi quay xe và theo con đường nhỏ với những bóng cọ xèo ô hai bên là đến thẳng đền thờ Nguyễn Quang Bích và các nghĩa sĩ Cần Vương giữa trung tâm căn cứ Tiên Động.

Bia đá khắc ghi ý chí chống giặc ngoại xâm của Nguyễn Quang Bích

Đền thờ Nguyễn Quang Bích nằm trên đồi Tướng Quân năm xưa, ở giữa đại bản doanh của nghĩa quân Cần Vương ở Tiên Động. Nghe kể, năm 1884, sau sự kiện thất thủ thành Hưng Hóa, Nguyễn Quang Bích đã đưa quân về lập căn cứ ở Tiên Động. Thời ấy, địa bàn Tiên Động là nơi giáp ranh giữa Cẩm Khê, Hạ Hòa và Yên Lập. Đó là một cánh đồng chiêm trũng sình lầy khoảng hơn chục cây số vuông và được bao quanh bởi những đồi núi hiểm trở. Phía Đông, cách đó không xa là sông Thao; phía Nam là đầm lầy; phía Tây là dãy núi Lưỡi Hái, sừng sững như bức tường thành; phía Tây Bắc là những đồi núi thấp xen kẽ những dộc, ngòi ngoằn nghèo tạo thành một vòng cung. Từ Yên Lập chảy qua Tiên Động đổ ra sông Thao có Ngòi Giành. Với địa hình như thế; ra, vào căn cứ Tiên Động, người ta có thể đi được bằng cả hai đường thủy, bộ. Đường thủy thì đi theo ngòi Giành. Đường bộ qua Minh Côi (Hạ Hòa) men theo đường núi hình vòng cung để vào khu trung tâm Tiên Động. Từ căn cứ Tiên Động khi tiến có thể dùng thuyền đi trên ngòi Giành ra sông Thao để sang Thanh Ba hoặc xuôi về Cẩm Khê hay ngược lên Hạ Hòa. Khi rút có thể vào Yên Lập để đi lên Nghĩa Lộ và cả vùng Tây Bắc mênh mông. Với vị trí và địa hình như thế, thời đó, căn cứ Tiên Động có thể coi là một địa bàn có vị trí chiến lược địa - quân sự quan trọng và rất hiểm yếu. Địa thế ấy có khả năng tiến công và cũng có khả năng phòng thủ, rút lui rất tốt. Trên địa bàn chiến lược Tiên Động, Chánh sứ sơn phòng Ngô Quang Bích đã xây dựng một hệ thống đồn lũy liên hoàn, đảm bảo cho sự phòng thủ và tấn công kẻ thù một cách rất hiệu quả. Hệ thống đồn lũy ở Tiên Động đã biến nơi đây trở thành một căn cứ địa vững chắc của cuộc kháng chiến chống Pháp ở vùng Trung du, miền núi Tây Bắc. Theo hệ thống ấy thì đại bản doanh của nghĩa quân đóng trên một gò cao, nay gọi là gò Quan Đại. Đây là quả đồi cao khoảng một trăm năm mươi mét so với mặt bằng ở trong khu vực, giáp với núi Lưỡi Hái, đỉnh đồi lồi lên bề mặt thành ba mỏm. Mỏm giữa gọi là đồi Tướng Quân, nơi đóng đại bản doanh của nghĩa quân, cũng là nơi sau này nhân dân dựng đền thờ Nguyễn Quang Bích. Bên phải là mỏm Hồ Gia, án ngữ con đường đi qua núi Lưỡi Hái để thông sang Yên Lập. Đây cũng chính là con đường Nguyễn Quang Bích cho rút quân vào Yên Lập. Bên trái là gò Cổng Đồn, Nguyễn Quang Bích đã cho xây dựng đồn vệ binh ở đây để bảo vệ đại bản doanh. Nhìn tổng thể mỗi mỏm đồi ấy cách nhau khoảng ba trăm đến bốn trăm mét, gần chân đồi hiện nay vẫn còn những vết tích của giếng nước và nơi buộc ngựa của nghĩa quân năm xưa. Trong khu căn cứ Tiên Động bây giờ nhiều chỗ vẫn còn giữ nguyên các tên gọi của thời kỳ cách đây hơn một trăm năm như: đồi Tướng Quân, đồi Cột Cờ, gò Mai, gò Đồn, gò Múc, đồi Cỏ Rác… Đây chính là những địa danh gắn liền với tên tuổi thủ lĩnh Ngô Quang Bích cùng với những hoạt động kháng chiến của các nghĩa sĩ Cần Vương và phong trào khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Tây Bắc.

Đền thờ Ngô Quang Bích nằm trên đồi cao thoáng đãng, dưới những tán cọ xanh biếc, nhìn ra bốn phía mênh mông ruộng đồng, ao ngòi tươi đẹp. Ngôi đền có quy mô không lớn, khoảng hơn một ngàn mét vuông nhưng thanh thoát, đẹp đẽ với tường xây bằng gạch và mái gỗ lợp ngói ta theo kiến trúc truyền thống cùng những đầu đao mềm mại, vút cong duyên dáng. Dẫn lên đền là con đường nhỏ quanh co bên sườn đồi. Nhìn tổng thể đền thờ tướng quân có đủ các hạng mục, gồm cổng đền với các trụ hoa biểu trang trí rất đẹp; đền thờ với hai gian tiền tế và nhà hậu cung tạo thành chữ Đinh; cột cờ rất cao, trong lòng cột cờ có cầu thang bộ lên đỉnh, đứng trên đỉnh cột cờ, cảnh vật xung quanh dưới chân đồi có thể hiện trong tầm mắt rất rõ, cột cờ này chính là nơi khi xưa nghĩa quân tổ chức tế cờ. Trong đền có tượng Nguyễn Quang Bích, bút tích của vua Tự Đức và một số đồ dùng của tướng quân lúc đương thời (bộ ấm chén, phạng sứ đựng cơm màu da lươn, một số đạn và vỏ đạn của nghĩa quân). Bên ngoài đền, nhìn ra cánh đồng, ở phía cổng vào, có một khẩu súng hỏa mai từ thời xưa vẫn còn được lưu giữ. Ngoài những hạng mục chính, khu di tích đền thờ Ngô Quang Bích còn có một số nhà phụ trợ khác và đặc biệt có rất nhiều bia đá khắc thơ văn của Nguyễn Quang Bích và những lời đánh giá về ông cùng nghĩa quân Cần vương của các văn nhân, bè bạn đương thời. Ví dụ như: bia khắc thư của Nguyễn Quang Bích trả lời khi giặc dụ hàng; tấm bia khắc bốn câu thơ cảm phục, ca ngợi của Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết dành cho ý chí và tấm lòng yêu nước của Nguyễn Quang Bích:“Lòng trung không nỡ bỏ Tây Châu/ Giữ lấy Thao, Đà dải thượng lưu/ Họp đám cô quân nơi viễn cảnh/ Cầm ba thước kiếm chém quân thù”… Đứng dưới những tán cọ, bên cột cờ, giữa đại bản doanh của nghĩa quân Cần Vương năm xưa, trong không gian tĩnh mịch, thoang thoảng hương thơm của cây cỏ mùa xuân trong tôi nghe như vang lên, vọng về hai câu thơ tựa như một lời tuyên ngôn bất hủ của Hiệp thống Bắc kỳ quân vụ đại thần trong buổi lễ tế cờ: “Việt quốc thiên thu nguyên bất dịch/ Lạc hồng tiên chủng phục hoàn tô”, dịch nghĩa là: “Giữ gìn nước Việt ngàn năm không đổi/ Nòi giống Lạc Hồng sẽ phục dựng lại thắm tươi”. Từ đỉnh cột cờ tựa như đài viễn vọng, nhìn ra trập trùng đồi gò nhấp nhô bóng cọ xanh um; sông ngòi, đầm ao cùng ruộng đồng quanh co của miền quê trung du Tây Bắc, tôi như đang thấy đâu đây hiện về những bóng hình của Tống Duy Tân, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Quang Huy, Nguyễn Cao và biết bao văn nhân, chí sĩ yêu nước của một thời Cần Vương đang tụ hội về đây cùng Hiệp thống Bắc kỳ quân vụ đại thần Ngô Quang Bích mưu bàn việc nước.

Bây giờ Tiên Động đã khác thời xưa nhưng cảnh đẹp của vùng núi trung du với những ruộng đồng, đồi núi, ao đầm, sông ngòi xen lẫn cùng với rừng cọ, nương chè hẳn là vẫn ít nhiều bóng dáng thủa trước. Một thoáng hơn trăm năm đâu có là bao? Bóng người xưa còn như đang phảng phất đâu đó nơi này! Dấu tích của miền chiến địa một thời vẫn còn đó. Các địa danh đồi Tướng Quân, gò Mai, gò Đồn, gò Múc, đồn Cỏ Rác … kia đó không chỉ là một miền thắng cảnh mà mỗi khi được nhắc đến bông ngâm lên trong trí tưởng tượng như thể đang gọi về trong ta tháng năm oanh liệt, bi hùng của nghĩa quân chống Pháp. Cũng bởi những giá trị không gì thay thế được như thế mà hồi cuối năm 1999, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia đối với căn cứ Tiên động (xã Tiên Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ). Và để tưởng nhớ ông “phật sống” Nguyễn Quang Bích và các nghĩa sĩ Cần Vương từng hy sinh ở nơi đây, nhân dân Tiên Lương đã chọn ngày mười sáu tháng Hai tổ chức lễ hội Tiên Động để thể hiện tấm lòng biết ơn của mình với những người đã hy sinh vì nền độc lập của nước nhà. Đến di tích Tiên Động, nhớ về một thủa oanh liệt, đầy bi hùng của dân tộc ở nơi đây lòng nào chẳng trào dâng bao xúc động. Bất chợt tôi lại nhớ đến nhà sử học người Pháp (Charles Fourniau) đã viết về Nguyễn Quang Bích với những nhận xét đầy cảm kích: “Chúng ta biết khá rõ về ông và ông là hiện thân như mẫu của những nhà nho yêu nước lớn, tạo nên linh hồn của cuộc kháng chiến của dân tộc”. Đặc biệt, một nhà văn và cũng là một triết gia người Mỹ (JamesWilhelm) đã ca ngợi ông rằng: “Ngài là một vị tướng nổi tiếng và là tầm một anh hùng thế giới, bởi ngài là tiêu biểu cho ý chí chống chủ nghĩa thực dân xâm lược!”. Ghi nhớ công lao của Nguyễn Quang Bích, cảm động trước tinh thần bất khuất, yêu nước của ông, có nhiều nơi đã lấy tên ông để đặt tên cho các đường phố; xã Tiên Lương và nhiều nơi khác cũng lấy tên ông để đặt tên cho những ngôi trường. Ấy vậy mà căn cứ Tiên Động và đền thờ “người hùng của núi rừng Tây Bắc” trên đồi Tướng Quân xem ra còn chưa được nhiều người biết đến. Những ngày đầu xuân, chiêm bái, vãn cảnh nhiều khu di tích lịch sử, có nơi từng là chiến địa một thời, tôi thấy có rất nhiều người. Đến Tiên Động, cảnh đẹp, truyền thống hào hùng nhưng lại rất vắng vẻ. Trước, sau tôi đến chẳng thấy bóng người, chỉ có một mình chúng tôi, mấy anh em giữa bốn bề không gian thâm trầm, vắng vẻ, tĩnh mịch, cô liêu, xôn xao lá động. Tiếc thay!

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm