TIN TỨC

Về Tiên Động nhớ Ngư Phong – Nguyễn Quang Bích

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-02-22 23:21:59
mail facebook google pos stwis
1187 lượt xem

PHAN ANH

1. Ngư Phong - Nguyễn Quang Bích, người hùng của núi rừng Tây Bắc.

Ngư Phong là tên hiệu của thủ lĩnh miền Thao - Đà trong thời Cần Vương chống Pháp ở Bắc Kỳ. Ông tên thật là Nguyễn Quang Bích (1832 – 1890). Đương thời ông được nhân dân miền Tây Bắc xưng tụng là “phật sống” và hết lòng yêu quý, ngưỡng mộ. “Phật sống” Nguyễn Quang Bích cũng có tên gọi khác là Ngô Quang Bích. Lý do, ông vốn là người của dòng họ Ngô Vương nhưng ông nội ông lại đổi sang họ ngoại, họ Nguyễn. Ngư Phong – Nguyễn Quang Bích sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (tức 7 tháng 5 năm 1832) tại làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay là làng Trình Nhất, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình). Nguyễn Quang Bích dùng danh xưng Ngư Phong để thể hiện tấm lòng yêu quý và thương nhớ quê hương. Ngư Phong tên một ngọn đồi chốn quê nhà Nguyễn Quang Bích ở Thái Bình. Đó chính là gò Chài, ở cửa bể, nơi những người dân chài quê ông mỗi khi đi biển về thường ngồi nghỉ và phơi chài, phơi lưới để chuẩn bị cho lần sau ra khơi. Nguyễn Quang Bích đặt tên hiệu của mình là Ngư Phong nhằm nhắc nhở, ngụ ý rằng luôn nhớ về quê hương. Nghe kể, thủa nhỏ ông học rất giỏi nhưng đỗ muộn. Năm 1861, ông đỗ cử nhân và được bổ làm giáo thụ phủ Trường Khánh, tỉnh Ninh Bình. Ông làm được một năm thì cáo quan về dạy học. Đến năm 1869 ông tiếp tục thi đình và đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ. Sau đó ông được bổ làm Tri phủ Lâm Thao (Phú Thọ), rồi Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa) và lần lượt làm Án sát tỉnh Sơn Tây, Tế tửu Quốc tử giám ở Huế, Án sát tỉnh Bình Định. Năm 1875, ông từng được vua Tự Đức giao cho duyệt bộ sách “Khâm định Việt sử Thông giám cương mục”. Cũng trong năm đó nhà Nguyễn cho mở doanh điền Hưng Hóa (Phú Thọ) để vừa khai hoang vừa phòng vệ ở khu vực núi rừng Tây Bắc và Nguyễn Quang Bích lại được cử làm Chánh sứ sơn phòng Hưng Hóa, năm sau ông được kiêm thêm chức Tuần phủ Hưng Hóa. Năm 1885, khi vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân cả nước đứng dậy chống Pháp cứu nước, Nguyễn Quang Bích được phong cấp Thượng thư bộ Lễ sung Hiệp thống quân vụ Bắc Kỳ đại thần, được toàn quyền chọn văn võ các cấp và hai lần được giao nhiệm vụ mang quốc thư sang Trung Quốc cầu viện. Tuy nhiên do Pháp - Thanh ký hiệp ước Thiên Tân (1885) nên việc bất thành. Tuy không thành nhưng ông cũng đã để lại những ấn tượng tốt đẹp và cũng phần nào tranh thủ được tình cảm cùng sự giúp đỡ ít ỏi của người Hoa, cụ thể là Sầm Dục Anh - Tổng đốc Vân Quý, đã gửi một ít vũ khí (600 khẩu súng), đạn dược, vật phẩm, bạc nén sang để khích lệ tinh thần kháng chiến của nghĩa quân.

Đền Ngư Phong - Nguyễn Quang Bích

Suốt cuộc đời làm quan, Nguyễn Quang Bích sống thanh liêm, đức độ. Đặc biệt, ông là vị quan nhà Nguyễn cương quyết chống lại đường lối thỏa hiệp với Pháp. Sau sự việc cầu Thanh bất thành, Nguyễn Quang Bích đã trực tiếp lãnh đạo phong trào chống Pháp ở Tây Bắc. Khi Pháp tấn công Hưng Hóa, ông đã chỉ huy binh lính giữ thành. Do tương quan giữa hai bên không cân sức, lực yếu quân mỏng, Nguyễn Quang Bích định theo gương Tổng đốc thành Hà Nội (Hoàng Diệu) tuẫn tiết ngay trên vọng lâu của kỳ đài. Tuy nhiên các tướng lĩnh bên ông đã kịp thời can ngăn, đưa ông lên ngựa, phá vòng vây của quân Pháp chạy về Tam Nông (Phú Thọ) rồi đến Cẩm Khê (Phú Thọ). Tại đây ông đã thu thập quân binh tính chuyện chiến đấu dài lâu, ông đã nói với các tướng sĩ và con cháu rằng: “Ta đã đem thân hứa quốc, không cần đi lại thăm nom. Sau này có nhớ đến ta cứ lấy ngày mất thành Hưng Hóa mà làm giỗ”.

Khi Pháp xâm lược Bắc Kỳ, từng nghe uy danh của “phật sống” nên quân Pháp đã không ít lần sai người dùng vinh hoa phú quí dụ ông đầu hàng nhưng Nguyễn Quang Bích đã khẳng khái trả lời bọn chúng: “Rồi, nếu mà thắng, mà sống thì là nghĩa sĩ của triều đình, nhưng chẳng may mà thua, mà chết thì cũng làm quỷ thiêng giết giặc… Thà chịu tội với nhất thời, quyết không chịu tội với vạn thế; một chữ thú từ nay xin đừng nhắc lại nữa và cũng đừng có khuyên bừa”. Từ năm 1885 đến 1890, Nguyễn Quang Bích vừa trực tiếp chỉ huy lực lượng vừa tìm cách liên kết với các thủ lĩnh phong trào yêu nước khác ở trong vùng như Nguyễn Thiện Thuật, Đèo Văn Trì, Nông Văn Quang, Cầm Văn Hoan, Cầm Văn Thanh … để cùng nhau chống Pháp. Và, ông cũng đã lôi kéo được khá nhiều sĩ phu, hào trưởng cùng đồng bào các dân tộc Kinh, Thái, Mường, H’Mông, Dao, Nùng… trực tiếp tham gia chiến đấu hoặc ủng hộ nghĩa quân nổi dậy chống Pháp. Cuộc kháng chiến của ông đang phát triển và thu được một số thắng lợi thì bất ngờ ông đổ bệnh rồi mất tại căn cứ Tôn Sơn vào ngày rằm tháng Chạp năm Canh Dần (tức 24 tháng 1 năm 1890). Ông ra đi trong niềm thương tiếc và ngưỡng mộ của mọi người khi nợ nước còn đang dang dở. Thi hài của ông đã được nghĩa quân mai táng tại đại bản doanh trên núi Tôn Sơn - Mộ Xuân xã Xuân An, huyện Yên Lập (Phú Thọ). Vài năm sau, hài cốt của ông đã được gia đình bí mật đưa về quê nhà. Cảm kích tấm lòng nhân nghĩa, yêu nước của Nguyễn Quang Bích, nhân dân nhiều nơi ở Phú Thọ đã dựng đền, lập miếu để thờ ông và nghĩa quân, trong đó có căn cứ Tiên Động ở xã Tiên Lương huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ. Không chỉ là một võ tướng, đương thời ông còn là một nhà ngoại giao, một thi sĩ rất tài hoa. Tác phẩm “Ngư Phong thi tập” (gồm 112 bài bằng chữ Hán) của ông để lại tựa như một cuốn nhật ký và thể hiện một cách rất sinh động về cảnh vật cũng như cuộc sống kháng chiến chống Pháp của con người vùng Tây Bắc hồi cuối thế kỷ XIX.

2. Đền thờ Tướng Quân, tĩnh lặng giữa trập trùng non xanh cọ biếc

Chúng tôi về Tiên Lương vào những ngày đầu xuân tiết trời rất đẹp. Bầu trời sáng trong cùng những làn gió vẫn còn hơi lạnh thổi nhẹ làm đung đưa những tàu cọ xanh biếc trên những đồi gò nhấp nhô khiến đất trời vùng trung du Tây Bắc hiện lên thật trữ tình. Xe chúng tôi sau một hồi rẽ trái, quẹo phải trên cung đường quanh co bên dòng sông Thao rồi cuối cùng cũng đến chân đồi Tướng Quân. Khi đến chân đồi, google map báo kết thúc nơi đến nhưng nhìn bốn phía chỉ thấy làng quê ẩn nấp bên những đồi, gò rợp bóng cọ xanh, chẳng thấy đền miếu đâu cả. Những tưởng nhầm đường đành dừng lại hỏi thăm một chú bé bên đường. Chú bé nhanh nhảu bảo đi ngược lại và hướng dẫn rẽ vào con đường đi lên đỉnh đồi. Theo chỉ dẫn, chúng tôi quay xe và theo con đường nhỏ với những bóng cọ xèo ô hai bên là đến thẳng đền thờ Nguyễn Quang Bích và các nghĩa sĩ Cần Vương giữa trung tâm căn cứ Tiên Động.

Bia đá khắc ghi ý chí chống giặc ngoại xâm của Nguyễn Quang Bích

Đền thờ Nguyễn Quang Bích nằm trên đồi Tướng Quân năm xưa, ở giữa đại bản doanh của nghĩa quân Cần Vương ở Tiên Động. Nghe kể, năm 1884, sau sự kiện thất thủ thành Hưng Hóa, Nguyễn Quang Bích đã đưa quân về lập căn cứ ở Tiên Động. Thời ấy, địa bàn Tiên Động là nơi giáp ranh giữa Cẩm Khê, Hạ Hòa và Yên Lập. Đó là một cánh đồng chiêm trũng sình lầy khoảng hơn chục cây số vuông và được bao quanh bởi những đồi núi hiểm trở. Phía Đông, cách đó không xa là sông Thao; phía Nam là đầm lầy; phía Tây là dãy núi Lưỡi Hái, sừng sững như bức tường thành; phía Tây Bắc là những đồi núi thấp xen kẽ những dộc, ngòi ngoằn nghèo tạo thành một vòng cung. Từ Yên Lập chảy qua Tiên Động đổ ra sông Thao có Ngòi Giành. Với địa hình như thế; ra, vào căn cứ Tiên Động, người ta có thể đi được bằng cả hai đường thủy, bộ. Đường thủy thì đi theo ngòi Giành. Đường bộ qua Minh Côi (Hạ Hòa) men theo đường núi hình vòng cung để vào khu trung tâm Tiên Động. Từ căn cứ Tiên Động khi tiến có thể dùng thuyền đi trên ngòi Giành ra sông Thao để sang Thanh Ba hoặc xuôi về Cẩm Khê hay ngược lên Hạ Hòa. Khi rút có thể vào Yên Lập để đi lên Nghĩa Lộ và cả vùng Tây Bắc mênh mông. Với vị trí và địa hình như thế, thời đó, căn cứ Tiên Động có thể coi là một địa bàn có vị trí chiến lược địa - quân sự quan trọng và rất hiểm yếu. Địa thế ấy có khả năng tiến công và cũng có khả năng phòng thủ, rút lui rất tốt. Trên địa bàn chiến lược Tiên Động, Chánh sứ sơn phòng Ngô Quang Bích đã xây dựng một hệ thống đồn lũy liên hoàn, đảm bảo cho sự phòng thủ và tấn công kẻ thù một cách rất hiệu quả. Hệ thống đồn lũy ở Tiên Động đã biến nơi đây trở thành một căn cứ địa vững chắc của cuộc kháng chiến chống Pháp ở vùng Trung du, miền núi Tây Bắc. Theo hệ thống ấy thì đại bản doanh của nghĩa quân đóng trên một gò cao, nay gọi là gò Quan Đại. Đây là quả đồi cao khoảng một trăm năm mươi mét so với mặt bằng ở trong khu vực, giáp với núi Lưỡi Hái, đỉnh đồi lồi lên bề mặt thành ba mỏm. Mỏm giữa gọi là đồi Tướng Quân, nơi đóng đại bản doanh của nghĩa quân, cũng là nơi sau này nhân dân dựng đền thờ Nguyễn Quang Bích. Bên phải là mỏm Hồ Gia, án ngữ con đường đi qua núi Lưỡi Hái để thông sang Yên Lập. Đây cũng chính là con đường Nguyễn Quang Bích cho rút quân vào Yên Lập. Bên trái là gò Cổng Đồn, Nguyễn Quang Bích đã cho xây dựng đồn vệ binh ở đây để bảo vệ đại bản doanh. Nhìn tổng thể mỗi mỏm đồi ấy cách nhau khoảng ba trăm đến bốn trăm mét, gần chân đồi hiện nay vẫn còn những vết tích của giếng nước và nơi buộc ngựa của nghĩa quân năm xưa. Trong khu căn cứ Tiên Động bây giờ nhiều chỗ vẫn còn giữ nguyên các tên gọi của thời kỳ cách đây hơn một trăm năm như: đồi Tướng Quân, đồi Cột Cờ, gò Mai, gò Đồn, gò Múc, đồi Cỏ Rác… Đây chính là những địa danh gắn liền với tên tuổi thủ lĩnh Ngô Quang Bích cùng với những hoạt động kháng chiến của các nghĩa sĩ Cần Vương và phong trào khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Tây Bắc.

Đền thờ Ngô Quang Bích nằm trên đồi cao thoáng đãng, dưới những tán cọ xanh biếc, nhìn ra bốn phía mênh mông ruộng đồng, ao ngòi tươi đẹp. Ngôi đền có quy mô không lớn, khoảng hơn một ngàn mét vuông nhưng thanh thoát, đẹp đẽ với tường xây bằng gạch và mái gỗ lợp ngói ta theo kiến trúc truyền thống cùng những đầu đao mềm mại, vút cong duyên dáng. Dẫn lên đền là con đường nhỏ quanh co bên sườn đồi. Nhìn tổng thể đền thờ tướng quân có đủ các hạng mục, gồm cổng đền với các trụ hoa biểu trang trí rất đẹp; đền thờ với hai gian tiền tế và nhà hậu cung tạo thành chữ Đinh; cột cờ rất cao, trong lòng cột cờ có cầu thang bộ lên đỉnh, đứng trên đỉnh cột cờ, cảnh vật xung quanh dưới chân đồi có thể hiện trong tầm mắt rất rõ, cột cờ này chính là nơi khi xưa nghĩa quân tổ chức tế cờ. Trong đền có tượng Nguyễn Quang Bích, bút tích của vua Tự Đức và một số đồ dùng của tướng quân lúc đương thời (bộ ấm chén, phạng sứ đựng cơm màu da lươn, một số đạn và vỏ đạn của nghĩa quân). Bên ngoài đền, nhìn ra cánh đồng, ở phía cổng vào, có một khẩu súng hỏa mai từ thời xưa vẫn còn được lưu giữ. Ngoài những hạng mục chính, khu di tích đền thờ Ngô Quang Bích còn có một số nhà phụ trợ khác và đặc biệt có rất nhiều bia đá khắc thơ văn của Nguyễn Quang Bích và những lời đánh giá về ông cùng nghĩa quân Cần vương của các văn nhân, bè bạn đương thời. Ví dụ như: bia khắc thư của Nguyễn Quang Bích trả lời khi giặc dụ hàng; tấm bia khắc bốn câu thơ cảm phục, ca ngợi của Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết dành cho ý chí và tấm lòng yêu nước của Nguyễn Quang Bích:“Lòng trung không nỡ bỏ Tây Châu/ Giữ lấy Thao, Đà dải thượng lưu/ Họp đám cô quân nơi viễn cảnh/ Cầm ba thước kiếm chém quân thù”… Đứng dưới những tán cọ, bên cột cờ, giữa đại bản doanh của nghĩa quân Cần Vương năm xưa, trong không gian tĩnh mịch, thoang thoảng hương thơm của cây cỏ mùa xuân trong tôi nghe như vang lên, vọng về hai câu thơ tựa như một lời tuyên ngôn bất hủ của Hiệp thống Bắc kỳ quân vụ đại thần trong buổi lễ tế cờ: “Việt quốc thiên thu nguyên bất dịch/ Lạc hồng tiên chủng phục hoàn tô”, dịch nghĩa là: “Giữ gìn nước Việt ngàn năm không đổi/ Nòi giống Lạc Hồng sẽ phục dựng lại thắm tươi”. Từ đỉnh cột cờ tựa như đài viễn vọng, nhìn ra trập trùng đồi gò nhấp nhô bóng cọ xanh um; sông ngòi, đầm ao cùng ruộng đồng quanh co của miền quê trung du Tây Bắc, tôi như đang thấy đâu đây hiện về những bóng hình của Tống Duy Tân, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Quang Huy, Nguyễn Cao và biết bao văn nhân, chí sĩ yêu nước của một thời Cần Vương đang tụ hội về đây cùng Hiệp thống Bắc kỳ quân vụ đại thần Ngô Quang Bích mưu bàn việc nước.

Bây giờ Tiên Động đã khác thời xưa nhưng cảnh đẹp của vùng núi trung du với những ruộng đồng, đồi núi, ao đầm, sông ngòi xen lẫn cùng với rừng cọ, nương chè hẳn là vẫn ít nhiều bóng dáng thủa trước. Một thoáng hơn trăm năm đâu có là bao? Bóng người xưa còn như đang phảng phất đâu đó nơi này! Dấu tích của miền chiến địa một thời vẫn còn đó. Các địa danh đồi Tướng Quân, gò Mai, gò Đồn, gò Múc, đồn Cỏ Rác … kia đó không chỉ là một miền thắng cảnh mà mỗi khi được nhắc đến bông ngâm lên trong trí tưởng tượng như thể đang gọi về trong ta tháng năm oanh liệt, bi hùng của nghĩa quân chống Pháp. Cũng bởi những giá trị không gì thay thế được như thế mà hồi cuối năm 1999, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia đối với căn cứ Tiên động (xã Tiên Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ). Và để tưởng nhớ ông “phật sống” Nguyễn Quang Bích và các nghĩa sĩ Cần Vương từng hy sinh ở nơi đây, nhân dân Tiên Lương đã chọn ngày mười sáu tháng Hai tổ chức lễ hội Tiên Động để thể hiện tấm lòng biết ơn của mình với những người đã hy sinh vì nền độc lập của nước nhà. Đến di tích Tiên Động, nhớ về một thủa oanh liệt, đầy bi hùng của dân tộc ở nơi đây lòng nào chẳng trào dâng bao xúc động. Bất chợt tôi lại nhớ đến nhà sử học người Pháp (Charles Fourniau) đã viết về Nguyễn Quang Bích với những nhận xét đầy cảm kích: “Chúng ta biết khá rõ về ông và ông là hiện thân như mẫu của những nhà nho yêu nước lớn, tạo nên linh hồn của cuộc kháng chiến của dân tộc”. Đặc biệt, một nhà văn và cũng là một triết gia người Mỹ (JamesWilhelm) đã ca ngợi ông rằng: “Ngài là một vị tướng nổi tiếng và là tầm một anh hùng thế giới, bởi ngài là tiêu biểu cho ý chí chống chủ nghĩa thực dân xâm lược!”. Ghi nhớ công lao của Nguyễn Quang Bích, cảm động trước tinh thần bất khuất, yêu nước của ông, có nhiều nơi đã lấy tên ông để đặt tên cho các đường phố; xã Tiên Lương và nhiều nơi khác cũng lấy tên ông để đặt tên cho những ngôi trường. Ấy vậy mà căn cứ Tiên Động và đền thờ “người hùng của núi rừng Tây Bắc” trên đồi Tướng Quân xem ra còn chưa được nhiều người biết đến. Những ngày đầu xuân, chiêm bái, vãn cảnh nhiều khu di tích lịch sử, có nơi từng là chiến địa một thời, tôi thấy có rất nhiều người. Đến Tiên Động, cảnh đẹp, truyền thống hào hùng nhưng lại rất vắng vẻ. Trước, sau tôi đến chẳng thấy bóng người, chỉ có một mình chúng tôi, mấy anh em giữa bốn bề không gian thâm trầm, vắng vẻ, tĩnh mịch, cô liêu, xôn xao lá động. Tiếc thay!

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm