TIN TỨC

Cảm xúc tháng Tư

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-04-14 08:49:04
mail facebook google pos stwis
1755 lượt xem

TRẦN NGỌC PHƯỢNG

Tôi vào Nam năm 1965, chiến đấu ở chiến trường Long Khánh, Bà Rịa, Biên Hòa, có lần thọc sâu xuống tân Bến Cát, Củ Chi. Hàng đêm ra bìa trảng nhìn về Sài Gòn, nơi chôn nhau cắt rốn, bồi hồi với câu thơ của Lê Anh Xuân: “Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ đó / Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về/ Bao giờ bao gìờ Sài Gòn giải phóng? Ôi những phố hè, ôi những hàng me?”.

Cái khoảng cách chim bay mấy chục cây số đó tưởng đã tới được trong Mậu Thân 68. Tôi đi theo đơn vị tiền phương đã xuống tận Thủ Đức. Sau mấy ngày áp sát Sài Gòn, các đơn vị chủ lực của ta bị địch đánh bật ra. Thương vong nhiều vô kể. Sau Mậu Thân, địch tăng cường càn quét. Các cơ sở hậu cần bị bể. Các cửa khẩu bị phong tỏa. Đói ăn nhiều đơn vị phải lên tân biên giới. Đêm đến các đơn vị hậu cần chúng tôi phải đột ấp móc nối cơ sở. Mỗi ký gạo/ cân muối có khi phải đổi sinh mạng. Rồi phải 7 năm sau, trải qua những ngày tháng ác liệt của chiến dịch Nguyễn Huệ 72, những ngày tranh chấp giành đất sau hiệp định Paris, những ngày mưa bom B52 trên cả 2 miền Nam - Bắc, chúng ta mới tiến tới đợt Tổng tiên công, nổi dậy mùa xuân 75 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Khi phụ trách tổ đài vô tuyến điện theo Ban Chỉ huy Đoàn Hậu cần 814, tôi đã cảm nhận được khí thế khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch. Hàng đêm các xe chở vũ khí tập kết ở Sông Bé và sông Đồng Nai. Trận đánh mở màn ở Xuân Lộc diễn ra rất ác liệt. Địch chống trả quyết liệt và dùng đến cả bom CBU để hủy diệt đối phương. Quân đoàn 4 đứng chân trên mảnh đất miền Đông, sau khi phá tan cánh cửa Xuân Lộc phải đánh bọn địch ngoan cố co cụm cố thủ ở Trảng Bom, sân bay Biên Hòa, cầu Rạch Chiếc. Bao anh em đồng đội đã hy sinh trên đường vào Sài Gòn, xác để lại trên các cánh rừng cao su, dưới các chân cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc… Đoàn tôi được lệnh tiếp quản một phần Tổng kho Long Bình, kho vũ khí hậu cần vào loại lớn nhất miền Nam có 14, 15 cổng ra vào, rông 24 cây số vuông. Cơ man nào là xe cộ, vũ khí quấn áo vất bừa bãi trên đường. Mấy hôm sau anh Sao rủ mình đi Sài Gòn. Mình hỏi "Đi bằng gì? " Anh nói xe jip. Mình phân vân: "Ông có biết lái không?" Anh ta trả lời: "Dễ mà, ở quê, mình lái máy cày quen rồi”.


Cảnh Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Thế là đi Sài Gòn. Anh bạn mình lái xe chẳng biết đường sá luật lệ gì cả. May mà dân thương thấy xe bộ đội có cắm lá cờ đỏ nên tận tình chỉ đường.

Mình là dân thành phố mà vào Sài Gòn lần đầu cũng thấy choáng ngợp. Từ phía cầu Văn Thánh đã nhìn thấy ngôi nhà cao 11 tầng ở đương Phan Thanh Giản (nay là đường Điện Biên Phủ) trên bức tường vẽ ông da đen nhe hàm răng trắng phếu, quảng cáo cho hãng kem Hynos. Đường sá nhà cửa khang trang. Ở trung tâm thành phố, xe cộ tấp nập nhiều nhất là các loại xe Honda, xe lam. Các cô nữ sinh mặc áo dài đeo băng đỏ giữ trật tự đường phố. Người dân hồ hởi ra đường, gặp anh bộ đội nào cũng hỏi thăm quê quán để tìm người quen. Chúng tôi vòng xe qua đường Nguyễn Huệ ngắm nhìn khách san Palace và tòa nhà Ngân hàng Kỹ thương cao 16 tầng, qua chợ Bến Thành thấy hàng hóa phong phú, mua bán thoải mái nhưng chẳng đứa nào trong túi có tiền cả. Khi dừng chân trước công viên Dinh Độc Lập, mấy cô gái mắt xanh môi đỏ la cà đến gần hỏi các anh có đi chơi không? Một cụ già đi qua nhắc khéo: "Các cháu cẩn thận đấy, nếu không biết đường thì già chỉ cho”.

Buổi trưa đưa Phong đến nhà dì ruột theo cái địa chỉ ghi trên mảnh giấy. Nhà ở Quận 3, trên đưường Công Lý. Phải để xe ngoài đường, vào hẻm qua 3,4 cái 'xuyệt' mới tới. Gọi là nhà nhưng thực ra đây chỉ là túp lều lụp xụp với mấy tấm gỗ ván lấn chiếm dòng kênh. Bà ngoại ôm lấy Phong, sờ từ đầu đến đến chân rồi khóc. Dì Phong đang bán hàng rong trong hẻm cũng bỏ chạy về mang theo mấy chai nước ngọt. Dì chỉ vào cậu thanh niên mặt non choẹt đang ngồi khép nép góc nhà. "Em mày đấy, nó bị bắt đi lính năm ngoái, đẩy ra vùng 1 chiến thuật, may mà đào ngũ sống sót trở về".

Bà con hàng xóm kéo sang rất đông, Căn nhà ọp ẹp bên dòng nước hôi đen, Mọi người ngồi chật cứng, chỉ sợ sụp đổ bất cứ lúc nào. Tôi không ngờ giữa Sài Gòn hoa lệ, giữa trung tâm Q1, Q3 lại còn bạt ngàn những khu nhà ổ chuột như vậy. Chúng tôi lấy thùng lương khô 702, có viên tăng lực biếu gia đình và chia cho cho các cháu. Bọn trẻ thích lắm, ríu ra ríu rít với các chú bộ đội.

Ngày đầu tiên vào Sài Gòn là như vậy. Sau này khi có địa chỉ tôi có dịp vào thăm mấy gia đình họ hàng. Bác Dân đã 80 tuổi trông rất phúc hậu. Bác ôm lấy tôi mà khóc. “Ngày trước mẹ con ở với Bác. Nếu Mẹ con không mất, gia đình con ở lại Sài Gòn thì bây giờ có khi con đã trở thành sĩ quan ngụy rồi”.

Bác có con rể là tướng của ta, con trai là tá của ngụy. Cậu tôi dẫn đến thăm bác Chung ở ngôi nhà biệt thự ở phố Hai Bà Trưng. Bác là giám đốc ngân hàng Pháp Á. Trong thâm tâm tôi nghĩ Bác là tư sản mại bản. Có lẽ đoán được ý nghĩ của tôi, cậu tôi giải thích: "Giám đốc cũng là người làm thuê thôi con ạ. Ông chủ người Pháp thấy Bác là người giỏi thuê Bác cai quản cả nhân viên là ngưởi nước ngoài". Bác được Pháp bão lãnh, nhưng không đi xuất cảnh mà ở lại Việt Nam. Bác gái nói với tôi: "Bác mày, ngày trước tuần nào cũng lái ô tô riêng chở cả gia đình đi Cấp nghỉ mát, ăn cơm tiệm, bây giờ đi làm bằng xe đạp, hút thuốc Vàm Cỏ. Mỗi tháng được chia nửa ký đường để uống cafe đen. Khổ mấy ông nói cũng chiu được, nhưng  chỉ buồn vì có mấy cán bộ vào tiếp quản coi thường ông".

Sau năm 1975, tôi được đi phép đợt đầu tiên. Sau một tháng vào, đơn vị có nhiều thay đổi. Các đoàn hậu cần B2 giải thể. Tôi được điều động về Quân khu 7. Anh em hạ sĩ quan nếu không chuyển ngành thì giải quyết phục viên sớm. Nhiều anh em cầm số tiền trợ cấp ít ỏi, chưa kịp được hưởng chính sách chế độ gì đã cho về quê gấp. Tổ đài của tôi tứ tán mỗi người một nơi. Anh em qua tuổi thanh xuân, lại về với bàn tay trắng, với bệnh tật trong người, không nghề ít chữ, bắt đầu vật lộn với cuộc sống mưu sinh mới. Cậu Dè quê Phụng Hiệp lính quay viên ở với đài mình gần 10 năm. Cậu ta công tác chiến đâu rất dũng cảm tích cực. Trong rừng được mình giúp đỡ vào Đảng, dạy cho biết đọc biết viết. Thế rồi: "Sau giải phóng trở về làm dân/ Huân chương Dũng sĩ cất trong hòm/ Không nghề không chữ không chữ không ruộng đất/ Lại đi làm mướn để nuôi thân"). Ba chục năm sau mới gặp lại, trông Dè rất tiều tụy. Gặp đồng đội, cậu ta vẫn vô tư xòe hai bàn tay đen xạm, Dè cười: “Mình vẫn là vô sản/ Có gì đem ra nhậu lai rai". Nay cậu ta đã ra đi trong nghèo khó. Xã hội bấy giờ ai cũng khó khăn như vậy, kêu ca làm chi. Nghèo khó đến mấy cũng chịu đựng được nhưng sợ nhất là con cái bị chất độc da cam ... Biết vậy nhưng làm sao mà tránh được. Thương cho nhiều anh em bạc đầu còn phải đút cơm cho những đứa con tật nguyền.

Càng về già càng nhớ đến nhau. Mỗi năm rơi rụng một ít. Tháng trước anh Hanh người anh thân thiết, ở chung đơn vị thông tin Q5, Công trường 5 từ ngày đầu vào Nam đã từ giã cuộc đởi. Thủ trưởng Hai Phát nói: “Chú bị bệnh tim, không đến đám ma, để anh đi viếng thay cho”, nhưng không đi sao được. Vợ tôi về lấy xe máy chở đi, nhắc lại ngày xưa khi mình nghèo, anh Hanh ở đơn vị kinh tế hậu cần, Mỗi khi đi tàu đánh cá về, anh lại chạy đến nhà cho cá khô, nước mắm.

Anh em Bà Rịa, Long Khánh thường tổ chức họp mặt ở nhà anh Khảm mỗi năm một lần vào dịp 30/4. Nhà anh Khảm có vườn rộng, chị vợ và các con rất hiếu khách. Mấy năm gần đây trên bàn thờ đặt thêm con heo quay. Mình viết bài thơ “Tháng Tư họp mặt” đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân và báo Cựu Chiến Binh thành phố có đoạn:

Tháng Tư về

Gọi nhau họp mặt

Đồng đội ơi

Tóc bạc trắng hết rồi

Có đứa nào năm nay vắng mặt

Có đứa nào phải chống gậy đến không

Hương khói bay

Con heo quay cúng bạn

Chỉ thương nó một thời bom đạn

Ngày ra đi chưa được bữa ăn no

Anh em còn sống thì phải ráng đến để gặp nhau. Cứ tự an ủi mình dù cuộc sống có số phận thế nào, nhưng còn sống đến giờ so với những bạn bè đã mất là may mắn lắm rồi. Đất nước ngày càng thay đổi. Con cháu chúng ta đã trưởng thành bước vào thời đại công nghệ số. Căn nhà lụp xụp của gia đình cậu Phong cũng không còn nữa. Dòng kênh Nhiêu Lộc đã được chỉnh trang sạch đẹp. Khách du lịch có thể ngồi thuyền ngắm cảnh thành phố. Nghị quyết Đảng đặt mục tiêu đến năm 2045, nước mình trở thành nước giàu có, gia nhập nhóm các nước phát triển cao của thế giới. Mừng quá, nhưng anh em mình không biết ai còn sống đế chứng kiến ngày đó.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm