TIN TỨC

Cảm xúc tháng Tư

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-04-14 08:49:04
mail facebook google pos stwis
1576 lượt xem

TRẦN NGỌC PHƯỢNG

Tôi vào Nam năm 1965, chiến đấu ở chiến trường Long Khánh, Bà Rịa, Biên Hòa, có lần thọc sâu xuống tân Bến Cát, Củ Chi. Hàng đêm ra bìa trảng nhìn về Sài Gòn, nơi chôn nhau cắt rốn, bồi hồi với câu thơ của Lê Anh Xuân: “Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ đó / Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về/ Bao giờ bao gìờ Sài Gòn giải phóng? Ôi những phố hè, ôi những hàng me?”.

Cái khoảng cách chim bay mấy chục cây số đó tưởng đã tới được trong Mậu Thân 68. Tôi đi theo đơn vị tiền phương đã xuống tận Thủ Đức. Sau mấy ngày áp sát Sài Gòn, các đơn vị chủ lực của ta bị địch đánh bật ra. Thương vong nhiều vô kể. Sau Mậu Thân, địch tăng cường càn quét. Các cơ sở hậu cần bị bể. Các cửa khẩu bị phong tỏa. Đói ăn nhiều đơn vị phải lên tân biên giới. Đêm đến các đơn vị hậu cần chúng tôi phải đột ấp móc nối cơ sở. Mỗi ký gạo/ cân muối có khi phải đổi sinh mạng. Rồi phải 7 năm sau, trải qua những ngày tháng ác liệt của chiến dịch Nguyễn Huệ 72, những ngày tranh chấp giành đất sau hiệp định Paris, những ngày mưa bom B52 trên cả 2 miền Nam - Bắc, chúng ta mới tiến tới đợt Tổng tiên công, nổi dậy mùa xuân 75 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Khi phụ trách tổ đài vô tuyến điện theo Ban Chỉ huy Đoàn Hậu cần 814, tôi đã cảm nhận được khí thế khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch. Hàng đêm các xe chở vũ khí tập kết ở Sông Bé và sông Đồng Nai. Trận đánh mở màn ở Xuân Lộc diễn ra rất ác liệt. Địch chống trả quyết liệt và dùng đến cả bom CBU để hủy diệt đối phương. Quân đoàn 4 đứng chân trên mảnh đất miền Đông, sau khi phá tan cánh cửa Xuân Lộc phải đánh bọn địch ngoan cố co cụm cố thủ ở Trảng Bom, sân bay Biên Hòa, cầu Rạch Chiếc. Bao anh em đồng đội đã hy sinh trên đường vào Sài Gòn, xác để lại trên các cánh rừng cao su, dưới các chân cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc… Đoàn tôi được lệnh tiếp quản một phần Tổng kho Long Bình, kho vũ khí hậu cần vào loại lớn nhất miền Nam có 14, 15 cổng ra vào, rông 24 cây số vuông. Cơ man nào là xe cộ, vũ khí quấn áo vất bừa bãi trên đường. Mấy hôm sau anh Sao rủ mình đi Sài Gòn. Mình hỏi "Đi bằng gì? " Anh nói xe jip. Mình phân vân: "Ông có biết lái không?" Anh ta trả lời: "Dễ mà, ở quê, mình lái máy cày quen rồi”.


Cảnh Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Thế là đi Sài Gòn. Anh bạn mình lái xe chẳng biết đường sá luật lệ gì cả. May mà dân thương thấy xe bộ đội có cắm lá cờ đỏ nên tận tình chỉ đường.

Mình là dân thành phố mà vào Sài Gòn lần đầu cũng thấy choáng ngợp. Từ phía cầu Văn Thánh đã nhìn thấy ngôi nhà cao 11 tầng ở đương Phan Thanh Giản (nay là đường Điện Biên Phủ) trên bức tường vẽ ông da đen nhe hàm răng trắng phếu, quảng cáo cho hãng kem Hynos. Đường sá nhà cửa khang trang. Ở trung tâm thành phố, xe cộ tấp nập nhiều nhất là các loại xe Honda, xe lam. Các cô nữ sinh mặc áo dài đeo băng đỏ giữ trật tự đường phố. Người dân hồ hởi ra đường, gặp anh bộ đội nào cũng hỏi thăm quê quán để tìm người quen. Chúng tôi vòng xe qua đường Nguyễn Huệ ngắm nhìn khách san Palace và tòa nhà Ngân hàng Kỹ thương cao 16 tầng, qua chợ Bến Thành thấy hàng hóa phong phú, mua bán thoải mái nhưng chẳng đứa nào trong túi có tiền cả. Khi dừng chân trước công viên Dinh Độc Lập, mấy cô gái mắt xanh môi đỏ la cà đến gần hỏi các anh có đi chơi không? Một cụ già đi qua nhắc khéo: "Các cháu cẩn thận đấy, nếu không biết đường thì già chỉ cho”.

Buổi trưa đưa Phong đến nhà dì ruột theo cái địa chỉ ghi trên mảnh giấy. Nhà ở Quận 3, trên đưường Công Lý. Phải để xe ngoài đường, vào hẻm qua 3,4 cái 'xuyệt' mới tới. Gọi là nhà nhưng thực ra đây chỉ là túp lều lụp xụp với mấy tấm gỗ ván lấn chiếm dòng kênh. Bà ngoại ôm lấy Phong, sờ từ đầu đến đến chân rồi khóc. Dì Phong đang bán hàng rong trong hẻm cũng bỏ chạy về mang theo mấy chai nước ngọt. Dì chỉ vào cậu thanh niên mặt non choẹt đang ngồi khép nép góc nhà. "Em mày đấy, nó bị bắt đi lính năm ngoái, đẩy ra vùng 1 chiến thuật, may mà đào ngũ sống sót trở về".

Bà con hàng xóm kéo sang rất đông, Căn nhà ọp ẹp bên dòng nước hôi đen, Mọi người ngồi chật cứng, chỉ sợ sụp đổ bất cứ lúc nào. Tôi không ngờ giữa Sài Gòn hoa lệ, giữa trung tâm Q1, Q3 lại còn bạt ngàn những khu nhà ổ chuột như vậy. Chúng tôi lấy thùng lương khô 702, có viên tăng lực biếu gia đình và chia cho cho các cháu. Bọn trẻ thích lắm, ríu ra ríu rít với các chú bộ đội.

Ngày đầu tiên vào Sài Gòn là như vậy. Sau này khi có địa chỉ tôi có dịp vào thăm mấy gia đình họ hàng. Bác Dân đã 80 tuổi trông rất phúc hậu. Bác ôm lấy tôi mà khóc. “Ngày trước mẹ con ở với Bác. Nếu Mẹ con không mất, gia đình con ở lại Sài Gòn thì bây giờ có khi con đã trở thành sĩ quan ngụy rồi”.

Bác có con rể là tướng của ta, con trai là tá của ngụy. Cậu tôi dẫn đến thăm bác Chung ở ngôi nhà biệt thự ở phố Hai Bà Trưng. Bác là giám đốc ngân hàng Pháp Á. Trong thâm tâm tôi nghĩ Bác là tư sản mại bản. Có lẽ đoán được ý nghĩ của tôi, cậu tôi giải thích: "Giám đốc cũng là người làm thuê thôi con ạ. Ông chủ người Pháp thấy Bác là người giỏi thuê Bác cai quản cả nhân viên là ngưởi nước ngoài". Bác được Pháp bão lãnh, nhưng không đi xuất cảnh mà ở lại Việt Nam. Bác gái nói với tôi: "Bác mày, ngày trước tuần nào cũng lái ô tô riêng chở cả gia đình đi Cấp nghỉ mát, ăn cơm tiệm, bây giờ đi làm bằng xe đạp, hút thuốc Vàm Cỏ. Mỗi tháng được chia nửa ký đường để uống cafe đen. Khổ mấy ông nói cũng chiu được, nhưng  chỉ buồn vì có mấy cán bộ vào tiếp quản coi thường ông".

Sau năm 1975, tôi được đi phép đợt đầu tiên. Sau một tháng vào, đơn vị có nhiều thay đổi. Các đoàn hậu cần B2 giải thể. Tôi được điều động về Quân khu 7. Anh em hạ sĩ quan nếu không chuyển ngành thì giải quyết phục viên sớm. Nhiều anh em cầm số tiền trợ cấp ít ỏi, chưa kịp được hưởng chính sách chế độ gì đã cho về quê gấp. Tổ đài của tôi tứ tán mỗi người một nơi. Anh em qua tuổi thanh xuân, lại về với bàn tay trắng, với bệnh tật trong người, không nghề ít chữ, bắt đầu vật lộn với cuộc sống mưu sinh mới. Cậu Dè quê Phụng Hiệp lính quay viên ở với đài mình gần 10 năm. Cậu ta công tác chiến đâu rất dũng cảm tích cực. Trong rừng được mình giúp đỡ vào Đảng, dạy cho biết đọc biết viết. Thế rồi: "Sau giải phóng trở về làm dân/ Huân chương Dũng sĩ cất trong hòm/ Không nghề không chữ không chữ không ruộng đất/ Lại đi làm mướn để nuôi thân"). Ba chục năm sau mới gặp lại, trông Dè rất tiều tụy. Gặp đồng đội, cậu ta vẫn vô tư xòe hai bàn tay đen xạm, Dè cười: “Mình vẫn là vô sản/ Có gì đem ra nhậu lai rai". Nay cậu ta đã ra đi trong nghèo khó. Xã hội bấy giờ ai cũng khó khăn như vậy, kêu ca làm chi. Nghèo khó đến mấy cũng chịu đựng được nhưng sợ nhất là con cái bị chất độc da cam ... Biết vậy nhưng làm sao mà tránh được. Thương cho nhiều anh em bạc đầu còn phải đút cơm cho những đứa con tật nguyền.

Càng về già càng nhớ đến nhau. Mỗi năm rơi rụng một ít. Tháng trước anh Hanh người anh thân thiết, ở chung đơn vị thông tin Q5, Công trường 5 từ ngày đầu vào Nam đã từ giã cuộc đởi. Thủ trưởng Hai Phát nói: “Chú bị bệnh tim, không đến đám ma, để anh đi viếng thay cho”, nhưng không đi sao được. Vợ tôi về lấy xe máy chở đi, nhắc lại ngày xưa khi mình nghèo, anh Hanh ở đơn vị kinh tế hậu cần, Mỗi khi đi tàu đánh cá về, anh lại chạy đến nhà cho cá khô, nước mắm.

Anh em Bà Rịa, Long Khánh thường tổ chức họp mặt ở nhà anh Khảm mỗi năm một lần vào dịp 30/4. Nhà anh Khảm có vườn rộng, chị vợ và các con rất hiếu khách. Mấy năm gần đây trên bàn thờ đặt thêm con heo quay. Mình viết bài thơ “Tháng Tư họp mặt” đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân và báo Cựu Chiến Binh thành phố có đoạn:

Tháng Tư về

Gọi nhau họp mặt

Đồng đội ơi

Tóc bạc trắng hết rồi

Có đứa nào năm nay vắng mặt

Có đứa nào phải chống gậy đến không

Hương khói bay

Con heo quay cúng bạn

Chỉ thương nó một thời bom đạn

Ngày ra đi chưa được bữa ăn no

Anh em còn sống thì phải ráng đến để gặp nhau. Cứ tự an ủi mình dù cuộc sống có số phận thế nào, nhưng còn sống đến giờ so với những bạn bè đã mất là may mắn lắm rồi. Đất nước ngày càng thay đổi. Con cháu chúng ta đã trưởng thành bước vào thời đại công nghệ số. Căn nhà lụp xụp của gia đình cậu Phong cũng không còn nữa. Dòng kênh Nhiêu Lộc đã được chỉnh trang sạch đẹp. Khách du lịch có thể ngồi thuyền ngắm cảnh thành phố. Nghị quyết Đảng đặt mục tiêu đến năm 2045, nước mình trở thành nước giàu có, gia nhập nhóm các nước phát triển cao của thế giới. Mừng quá, nhưng anh em mình không biết ai còn sống đế chứng kiến ngày đó.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm