TIN TỨC

Hélène – con gái ông Tây Việt Minh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-03-14 16:55:09
mail facebook google pos stwis
871 lượt xem

NGUYỄN THANH

Nắng trưa hè chang chang như thiêu đốt con người và cảnh vật. Con hẻm nhỏ đường Hoàng Văn Thụ nội ô thành phố, cơn nóng đôi lúc dịu đi khi bất chợt có luồng gió nhẹ xào xạc từ bờ kè sông Cái Khế thổi vào, làm vơi bớt sự im vắng trong giờ khắc nghỉ ngơi của mọi người.

– Có người tìm thầy giáo ơi!

Nghe tiếng gọi của người quen cạnh nhà, tôi vội vã từ phía sau khoác lấy chiếc áo sơ mi vừa mới cởi ra sau buổi sáng đi làm về để lại mặc vào chuẩn bị tiếp khách. Niềm vui nhẹ nhàng xóa tan nỗi mệt nhọc âm ỉ sau buổi đi thực tế ở lộ Vòng Cung – Cần Thơ cùng các bạn nghệ sĩ trong hội nhà văn. Trong tiếng nói lao xao quyện lẫn với tiếng ô tô rì rầm vọng lại từ trước cửa nhà, tôi đoán biết phần nào sự tình.

– Con xin chào chú! Dạ thưa chú… chú là chú Phương, bạn của ba cháu là Ba Paul phải không ạ? Cháu là Marguerite, con gái của Ba Paul đây!

Bằng tiếng Pháp, một trong hai người phụ nữ lạ khá cao nhìn tôi ra vẻ thân mật.

– Chào cháu! Đúng rồi, chú là chú Phương, bạn của Ba Paul ba cháu đó.

Tôi nhanh nhẹn mở cửa chào đón hai người khách lần đầu tiên xuất hiện trước ngôi nhà nhỏ thường đóng cửa im ỉm suốt ngày nơi xóm lao động này. Trong thoáng chốc, tôi cảm thấy phơi phới trong lòng vì Kim Cúc – Marguerite tức là Bông cúc vàng- đúng hẹn. Tôi nhớ lại trong những ngày về thăm quê, ba Paul đều ghé thăm và ở trọ ăn nghỉ lại tại nhà tôi. Ba Paul hay trìu mến nói về chị Jacqueline vợ anh và hai cô con gái là Kim Cúc và Minh Nguyệt – Hélène – ở thành phố duyên hải Marseille nơi miền Nam nước Pháp. Kim Cúc đã hăm hở gọi điện báo trước cho tôi từ mấy hôm nay ngay khi nàng vừa chân ướt chân ráo đặt va-li xuống sân bay Nội Bài – dấu ấn đầu tiên của đất nước tổ phụ anh hùng mà cha nàng ở Pháp thường hay tự hào nhắc đến với vợ con.

Đứng tránh lại một bên cửa, tôi vui vẻ mời hai người phụ nữ đi vào nhà.

Vừa đặt túi xách du lịch xuống góc bàn, Kim Cúc nhìn cô gái đứng cạnh nàng với dáng hơi thấp, có da thịt nhưng gọn gàng đi theo mình, giới thiệu:

– Đây là chị Liên ở Hà Nội theo giúp về ngôn ngữ từ khi cháu trở về Việt Nam

– Hân hạnh được biết cháu Liên. Chú cám ơn cháu đã nhiệt tình giúp đỡ Kim Cúc trong những ngày qua.

Vừa nói vừa nhìn Liên, tôi thông cảm với những câu tiếng Pháp thỉnh thoảng lộn tiếng Anh của Liên những lúc tôi trao đổi bằng tiếng Việt trước hai người. Tôi ở một mình, nhà vắng vẻ, đạm bạc. Buổi trưa càng nóng bức.

Vừa uống xong ly nước mát tôi mời, Kim Cúc với vẻ mặt thoáng buồn:

– Cháu về quê nội lần này là để thực hiện đúng lời căn dặn tâm huyết của ba cháu lúc sinh tiền và di chúc của ba viết trước khi qua đời. Tro hỏa táng ba mang về từ Pháp, cháu đã rải khắp các nơi: quê nội, quê ngoại và trên dòng sông Hậu tại những nơi có in dấu chân hoạt động của Ba cháu trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Tôi yên lặng, chăm chú lắng nghe lời cô gái hiếu thảo đi hơn nửa vòng trái đất trần tình. Kim Cúc dù là con gái, trông rất giống cha. Vóc dáng người cô rắn rỏi, cao trên mét bảy, tầm vóc như một nữ vận động viên điền kinh dày dạn. Nét mặt hơi gầy, hình trái xoan với nước da bánh mật trông phảng phất vẻ phong trần như cha cô lúc còn sinh tiền.

Con rạch Cái Tắc trước nhà tôi và nhà anh Ba Paul bên kia sông ngày ấy hiền hòa, đôi bờ rợp bóng dừa xanh bốn mùa như một cánh tay lực điền vạm vỡ níu dòng Trà Mơn màu mỡ phù sa. Nước rạch không sâu, đủ cho đàn trâu nghỉ trưa hì hục tắm mát, rẩy nước bùn văng tua tủa lên khắp mặt sông quê. Nơi bờ rạch gần cạnh, đàn vịt ta lông trắng như bông bưởi lăn hụp đùa giỡn, vẽ nên một bức tranh sinh động ngày hè.

Ngôi nhà gỗ cổ kính trang nghiêm do nội tổ tôi để lại nằm yên ả giữa hai đầu rạch Thông Lưu và vàm kênh Mười Thới. Bên kia bờ rạch Cái Tắc đối diện với nhà tôi là một ngôi nhà gạch lớn rộng, khang trang của bà Bảy Phố. Nhà có hàng rào với cột bê tông kiên cố đã lỗ đỗ sắc rêu phong, che chắn gần hết cảnh vật sầm uất một bên bờ sông. Chính từ ngôi nhà lớn nổi trội cả một vùng quê đó, đứa cháu ngoại ruột rà yêu quí của bà Bảy, Ba Paul (Paul Bastien), trong một đêm tối trời, từ vùng trong trở về, tự tay mình cùng anh em du kích đập phá và phóng lửa thiêu hủy ngôi nhà tổ ấm của ngoại mình vào đầu mùa tiêu thổ kháng chiến theo lời kêu gọi của chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ba Paul là một gia đình nhà giáo mẫu mực tại Phụng Hiệp (Cần Thơ, nay thuộc Hậu Giang), dù nhân thân thuộc giai cấp thống trị, anh ba Paul sớm giác ngộ và tham gia phong trào Việt Minh tại quê nhà. Trước hết anh vào Vệ thám đoàn, sau được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tại xã Tân Quới, huyện Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ – nay thuộc huyện Bình Tân, Vĩnh Long. Đầu tháng 04 năm 1947, trong một lần đi công tác, anh bị bọn giáo phái phản động Năm Lửa bắt, giao cho thực dân Pháp. Bị giam tại khám lớn Cần Thơ, Vĩnh Long và Tổng nha Cảnh sát Ca-ti-na, Sài Gòn, anh phải chịu liên tục những đòn tra tấn tàn nhẫn. Sau một thời gian đấu tranh tuyệt thực trong nhà tù, năm 1948, anh ba Pôn bị đưa xuống bít bùng chở về Pháp, giam tại nhà ngục Marseille năm năm. Sau khi được trả tự do, anh đi làm công nhân. Anh ba Paul hoạt động hăng hái ở nghiệp đoàn, tổng công đoàn và thường xuyên liên hệ với đảng Cộng sản Pháp vì anh tán thành, đường lối, chủ trương hoạt động của các đoàn thể. Đầu năm 1952, anh Ba Paul được kết nạp vào Đảng Cộng sản Pháp. Một thời gian ngắn sau, nhờ làm việc tích cực và thể hiện được lập trường kiên định, Ba Paul được cử làm bí thư chi bộ (tiểu tổ) tại địa phương anh thường trú. Cuối năm đó, sau khi dự khóa chính trị trường Đảng cấp tỉnh, Ba Paul được đảm trách vai trò Bí thư Quận ủy. Trung ương đảng Cộng sản Pháp còn dự kiến giới thiệu anh vào Ban Chấp hành Tỉnh ủy. Dù trên danh nghĩa là công dân Pháp, nhưng anh là người Việt, anh vẫn tích cực tham gia các phong trào yêu nước và hội Hữu nghị Pháp Việt. Ba Paul lúc nào cũng là người đi đầu trong các cuộc mit-tinh biểu tình chống chiến tranh Việt Nam tại Pháp trong thời kỳ nhân dân ta tiến hành cuộc chiến tranh thần thánh chống đế quốc Mỹ.

Lúc nào tâm trí cũng nghĩ đến quê hương, từ năm 1968 đến năm 1973, tại hội nghị Paris đàm phán để chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, anh Ba Paul yểm trợ tích cực phái đoàn ta, khi đóng vai trò phiên dịch, khi làm tài xế và cả bảo vệ, liên hệ sát cánh với nhiều đồng chí cán bộ Đảng như Xuân Thủy, Huỳnh Tấn Phát, Lưu Hữu Phước, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Thứ trưởng bộ Y Tế nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976-1978)… Chính anh Ba Paul tự thân lái xe đưa rước trong những ngày dự họp các chính khách Việt Nam trong đó nhiều người là bằng hữu đồng chí ngày trước hoạt động cùng anh trong thời kháng chiến chống Pháp. Anh tỏ ra vô cùng hạnh phúc khi có cơ hội được tổ chức các buổi họp mặt anh em đồng chí ngày trước tại nhà riêng của anh tại Marseille.

Ấn tượng không thể nào quên được đối với tôi là trong thời gian đàm phán về hòa bình ấy, anh Ba Paul đã mạnh dạn đề xuất cho hai cô con gái lai Pháp chưa tới tuổi teen của anh là Lê Kim Cúc và Lê Minh Nguyệt mặc áo dài truyền thống của phụ nữ Việt Nam mang màu cờ VNDCCH và MTDTGPMN hiên ngang đi hàng đầu trong các cuộc diễu hành ở Marseille ủng hộ Việt Nam trong lúc chính quyền sở tại nghiêm cấm không được mang cờ hai miền Nam Bắc Việt Nam. Vợ anh Ba Paul, chị Jacqueline xinh đẹp là giáo sư ngoại ngữ nổi tiếng, các con của chị là Kim Cúc, Minh Nguyệt đều là những sinh viên giỏi, đỗ Cử nhân từ các trường Đại học. Năm 1983, yêu tiếng mẹ đẻ, anh Ba Pôn về nước tích cực vận động với Bộ Giáo dục, trường Đại học Tổng hợp, bộ Ngoại giao và bộ Nội vụ để được gởi Minh Nguyệt về Việt Nam, học tiếng Việt tại Hà Nội, thủ đô của đất nước tổ phụ. Minh Nguyệt – tên Pháp là Hélène Bastien ngụ ý là Déesse de la lune, tức là Nữ thần mặt trăng – ở trọ tại nhà Ông Phạm Tuấn Khánh, một người bạn mới quen của anh Ba Paul khi về nước.

Từ đó, Hélène Minh Nguyệt ở tại nhà vợ chồng bác Khánh như cha mẹ đỡ đầu tại Hà Nội. Theo đánh giá của nhiều giáo sư uy tín gần gũi hoặc trực tiếp giảng dạy, Minh Nguyệt là một cố gái tuyệt vời: có lý tưởng và hoài bão lớn, ý chí cao, giàu nghị lực và học giỏi. Hélène hết sức kính trọng thầy cô, quan hệ thân thiện và đúng mực với sinh viên. Cô còn có nguyện vọng học sâu Văn và Sử Việt Nam với mục đích sau này trở về Pháp giới thiệu văn học và lịch sử Việt Nam với nhân dân Pháp và thế giới. Minh Nguyệt đã ấp ủ một luận án Tiến sĩ với đề tài: “Nạn thổ phỉ ở hai biên giới Việt-Trung giữa thế kỷ 19”.  Biết được điều này qua Ba Paul, tôi vô cùng thán phục Minh Nguyệt. Đây là một đề tài hóc búa không chỉ về nội dung mà nghiên cứu còn phải gian nan thâm nhập thực tế để khảo sát trên một địa bàn núi rừng hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, nơi có nhiều dân tộc ít người trong một phạm vi dài 200 km suốt dọc hai biên giới Việt Trung.

Nhờ mang dòng máu cách mạng của cha và tinh thần hoạt động xã hội của mẹ, Minh Nguyệt đã rất sớm thể hiện được lòng yêu nước. Cả gia đình Ba Paul: người vợ Pháp Jacqueline, hai cô con gái Marguerite và Hélène đều hiểu rõ và chia sẻ với những hoạt động cách mạng của anh. Tất cả nhiệt tình giúp đỡ để anh với tư cách là Trưởng ban Đối ngoại của Hội Liên Hiệp Việt Kiều Marseille, được rảnh tay phục vụ hai phái đoàn đại biểu Việt Nam đàm phán với Mỹ. Minh Nguyệt sớm được cha chú ý giáo dục ý thức đấu tranh cho lý tưởng vô sản và nền độc lập nước nhà theo con đường xã hội chủ nghĩa cũng như được rèn luyện phẩm chất con người cách mạng.

Mới lên sáu tuổi, đến giờ sinh hoạt tự do trong lớp, Minh Nguyệt đứng lên xin hát bài Quốc ca Việt Nam và đề nghị cả lớp và cô giáo đứng nghiêm. Về nhà, Minh Nguyệt háo hức khoe với ba mẹ và xin diễn lại khiến vợ chồng anh Ba vô cùng tự hào và hạnh phúc. Cả hai chị em Kim Cúc, Minh Nguyệt đều đứng trong hàng ngũ đảng Cộng sản Pháp. Lúc nào hai chị em cũng luôn quan tâm đến tình hình nước nhà nên có phản ứng mạnh mẽ khi có ai xúc phạm đến Việt Nam. Có lần, vào năm 1990, Hélène Minh Nguyệt đã gởi thư phản bác đài truyền hình Pháp khi đài nhận định không đúng về Việt Nam. Minh Nguyệt đã hoạt động y hệt như ba cô đúng như câu tục ngữ cha nào con nấy.

Trong thời gian sống ở nhà Bác Phạm Tuấn Khánh tại thủ đô, gốc người Nam bộ, Minh Nguyệt vẫn dễ dàng hòa đồng, cư xử tự nhiên như con cháu trong gia đình miền Bắc. Hélène gọi hai vợ chồng Bác Khánh là Ba, Má, xưng con; với các chị con bác Khánh, cô xưng em. Do vậy, dù giọng nói có khác nhau đôi chút lúc đầu, cử chỉ dịu dàng và nụ cười diệu hiền tươi thắm của cô sớm gây được cảm tình với mọi người khiến cả nhà bác Khánh ai cũng yêu thương Minh Nguyệt.

Tình cảm dạt dào, ý chí mãnh liệt như Ba Pôn, nhưng Minh Nguyệt sống giản dị giống con gái một gia đình lao động bình thường. Đi học về, cô tự nhiên vào bếp lục cơm nguội. Áo cũ của chị, váy cũ của mẹ gởi cho cũng là quần áo Minh Nguyệt hay mặc ở nhà.

Hèlène là một đứa con hiếu thảo, một học trò ngoan, một người bạn tốt. Vì ở trọ học lâu nhà Bác Khánh ở Hà Nội nên cô còn để lại ở đây nhiều lưu vật kỷ niệm cho Cha mẹ đỡ đầu: Một tấm thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, một quyển tập học trò ghi nhiều bài thơ, bài hát bằng tiếng Pháp, tiếng Anh có bài cô chép, có bài cô làm và một bài dân ca quan họ bằng tiếng Việt ở cuối vở.

Đầu năm 1995, Minh Nguyệt trở lại Hà Nội. Nhưng thật đau lòng, lần này cô trở về thăm gia đình Bác Khánh trong một thân hình tiều tụy, người chỉ như còn bộ xương bọc da. Thật đáng tiếc và đáng thương dường nào. Dự định đây là chuyến thăm Ba Má Khánh ở thủ đô, thăm dò tình hình, chuẩn bị sang Trung Quốc thu thập tài liệu làm luận án Tiến sĩ. Nhưng không ngờ, cô đã bị mắc chứng bệnh ung thư hiểm nghèo, phải chịu chế độ xạ trị đến nỗi rụng hết tóc, lúc nào cũng phải quấn khăn trùm đầu. Nguyệt chọn cái khăn rằn của Arafat, người đã chiến đấu không mệt mỏi cho nền độc lập của dân tộc Palestine. Cũng như trước đây khi còn nhỏ tuổi học trung học, hai chị em cô đã nhất trí cùng nhau mặc áo dài in đậm sắc cờ hai miền Nam, Bắc Việt Nam đi mít-tinh.

Bây giờ, tôi mới hiểu thêm, đầu năm 2001, trong một lần về thăm quê hương, anh trọ nhà tôi tại Cần Thơ. Khi nói về gia đình mình, anh Ba Pôn thường hay nhắc về Hélène Minh Nguyệt với sắc mặt buồn như mãi tiếc thương đứa con gái yêu của anh.

Tôi ngậm ngùi thương tiếc vô cùng người con gái lai, tài năng, đầy hứa hẹn mới 33 tuổi đời mang tên Minh Nguyệt – “Vầng trăng sáng”, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp mang trên mình hình ảnh hai Tổ quốc Việt và Pháp.

Ngưỡng mộ và tiếc thương một trang anh thư toàn vẹn công ngôn dung hạnh, một nghệ sĩ nổi tiếng đã khắc họa chân dung của Hélène qua bức tượng bán thân hiện nay còn trang trọng lưu giữ tại gia đình Bác Khánh tại thủ đô

Trong niềm thương tiếc khôn nguôi, tôi viết bài này để tưởng nhớ đến Ba Paul và Hélène Minh Nguyệt, cô con gái yêu tài hoa bạc mệnh của anh – một ông Tây Việt Minh ở quê tôi.

5. 3. 2025,

N.T.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm