- Chân dung & Phỏng vấn
- Cầm súng, cầm bút bằng niềm tin, lẽ sống
Cầm súng, cầm bút bằng niềm tin, lẽ sống
KHÁNH AN
Nhân chuyến công tác tại Hà Nội, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng, nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 (hiện sống tại phường Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện thú vị. Suốt hơn hai giờ đồng hồ, những câu chuyện của một thời lửa đạn cứ thế ùa về không dứt trong giọng kể trầm ấm và trí nhớ mẫn tiệp của một người lính dày dạn trận mạc đã ở độ tuổi xưa nay hiếm.
.jpg)
Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng.
Sinh năm 1945 tại một vùng quê nghèo ở xã Sơn Phúc, huyện Hương Sơn (nay là xã Kim Hoa), tỉnh Hà Tĩnh, tháng 8-1964, Nguyễn Văn Hồng nhập ngũ. Sau 6 tháng miệt mài trên bãi tập, ông cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào Khu 5.
Trận đánh đầu tiên của ông và đồng đội là tại đèo Phủ Cũ (Bình Định). Đây là trận đánh công kiên đầu tiên tại vùng đồng bằng mà ông được trực tiếp tham gia với vai trò vừa là một trinh sát vừa là một chiến sĩ bộc phá. Ông bảo, lần đầu tiên “thực chiến”, không còn là những tình huống giả định trên thao trường, được giao nhiệm vụ thì cứ thế mà làm thôi, nhưng có lẽ giây phút căng thẳng nhất là lúc... bộc phá nổ. Cùng với tiếng pháo nổ và tiếng reo hò xông lên của đồng đội, bộ đội biết đã hoàn thành nhiệm vụ, hồi hộp và vỡ òa là vì vậy.
Đến trận tập kích quân Mỹ tháng 6-1966 tại Dốc Lết (Hoài Ân, Bình Định) thì ông đã là tổ trưởng tổ trinh sát của Đại đội 2, Tiểu đoàn 19, Sư đoàn 3-Sao Vàng. Sáng hôm ấy, ông vừa dẫn cán bộ đi nghiên cứu địa hình thì ngay buổi chiều, Sư đoàn Không vận số 1 của Mỹ đổ một đại đội xuống một trảng đất trống bằng máy bay trực thăng. Lệnh của cấp trên yêu cầu ngay trong đêm, đơn vị ông phải tổ chức tập kích số quân địch này.
Đêm ấy, Nguyễn Văn Hồng cùng chiến sĩ Nguyễn Minh Tiến và Nguyễn Đình Dinh làm nhiệm vụ trinh sát dẫn đường. Giữa đêm tối, trong tiếng nổ loạn xạ từ các loại súng của ta và địch, ông bị mất liên lạc với đồng đội. Thế nên khi đơn vị rút lui, ông không biết. Khi đang quan sát, định hướng xung quanh để ra khỏi khu vực địch thì một tên lính Mỹ ở đâu lừng lững xuất hiện.
Dưới ánh đèn của pháo sáng, ông thấy rõ hắn từ khoảng cách 15m, rồi 10m, 5m... Một ý nghĩ vụt lên trong đầu, nếu không xử lý ngay, hắn sẽ đến sát và phát hiện ra ông. Không chần chừ, ông giương khẩu súng CKC lên, bấm cò. Một viên đạn thoát ra khỏi nòng súng. Tên lính Mỹ đổ vật xuống giãy giụa, la hét. Lợi dụng lúc đèn vừa tắt, ông nhảy sang bụi cây khác xa hơn một chút. Một toán lính Mỹ khoảng 4-5 tên chạy lên, khiêng tên bị thương đi. Trên thắt lưng còn một trái lựu đạn chày, ông tung luôn vào toán lính Mỹ. Một tiếng nổ đanh rồi tất cả chìm vào bóng đêm trong tiếng máy bay gầm rú.
Đêm đó, bằng trí thông minh và sự nhạy bén, ông đã thoát khỏi họng súng của địch. Rồi dọc đường đi, vì đói, khát và sau một đêm căng thẳng, mất ngủ, mệt quá, ông chui vào một căn hầm của dân đã bỏ từ lâu và ngủ thiếp đi. Trời sáng, tiếng động cơ máy bay phản lực, máy bay trực thăng gầm rú làm ông tỉnh lại. Vừa mở mắt ra, ông đã trông thấy trên mấy thửa ruộng trước mặt, lính Mỹ dàn hàng ngang đang tiến vào phía chiếc hầm ếch của ông. Không kịp tính toán, lợi dụng lúc mấy tên lính Mỹ phía trước đang mải nói chuyện, ông ôm khẩu súng, vọt thật mạnh lên sườn đồi rồi cứ thế chạy ngược lên đỉnh đồi.
Về đến căn cứ, thấy nơi đây đã bị quân Mỹ càn quét đốt sạch, đơn vị cũng đã di chuyển, ông men theo đường mòn tìm về sư đoàn. Thật may, trên đường, ông gặp được hai đồng đội đang đi tìm mình. Về đơn vị, Chính trị viên Đại đội Huỳnh Xuân Mai nhường luôn nửa ăng-gô cơm đang ăn dở cho ông. Với ông, đó có lẽ là một trong những bữa cơm ngon nhất đời sau một ngày, một đêm lạc đơn vị.
Một trận đánh khác cũng khiến ông nhớ mãi là trận đánh cầu Châu Ô bởi những tình huống phát sinh ngoài dự kiến.
Xuân Mậu Thân 1968, đại đội công binh của ông được giao nhiệm vụ đánh sập cầu Châu Ổ. Lúc này, ông là Phó đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 19.
Cầu Châu Ổ nằm trên Đường 1, dài khoảng 200m. Đây là mục tiêu khá hóc búa, trước đây có đơn vị đã đánh nhưng không thành, bị tổn thất nặng. Để tiếp cận mố cầu phải qua bên bờ Bắc sông Trà Bồng, có một trại lính của đại đội bảo an bảo vệ cầu với các lớp rào thép gai bao bọc. Bên bờ Nam là chi khu Châu Ổ. Đánh sập cầu này là thực hiện chia cắt sự vận chuyển tiếp tế hậu cần và cơ động lực lượng ứng cứu của địch trong Chiến dịch Xuân Hè 1968. Ông được tiểu đoàn giao nhiệm vụ chỉ huy hai lực lượng đánh cầu ở dưới sông và lực lượng tiến công trại lính bảo vệ cầu bên bờ Bắc.
Đại tá Nguyễn Văn Hồng nhớ lại: “Sau Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi tổ chức hành quân tiếp cận cầu Châu Ổ. Trên đường, khi đi qua khu vực gần cầu đường sắt thì gặp địch phục kích, Tiểu đoàn trưởng Trần Văn Hồng bị thương, số dân công mang giúp lượng thuốc nổ chạy lạc. Đây là một tình huống rất khó xử trí, vì không có thuốc nổ thì làm sao đánh được cầu. May thay, sau khi đưa trinh sát và cán bộ đi tìm dân công chạy lạc, chúng tôi đã thu lại được số thuốc nổ họ mang giúp, cũng là lúc đến giờ vào chiếm lĩnh theo kế hoạch. Sau khi khối thuốc nổ đã được tiểu đội đánh cầu bí mật cố định vào chân trụ cầu thì lại phát sinh tình huống: Số kíp hẹn giờ bị tuột khỏi khối thuốc nổ, rơi xuống sông. Đã gần đến giờ G, không thể ra ngoài lấy kíp khác, may mắn là chúng tôi đã có dự kiến tình huống này nên chuẩn bị trước cả hai phương pháp gây nổ (bằng kíp hẹn giờ và bằng nụ xùy). Khi phát hiện kíp hẹn giờ bị tuột khỏi các khối thuốc nổ, đồng chí Trân giật ngay nụ xùy. Một tiếng nổ long trời lở đất làm mặt sông dựng lên một cột nước cả chục mét. Bên bờ Bắc, lực lượng xung kích ngụy trang như những chiến sĩ đặc công tung lựu đạn vào doanh trại địch”.
Địch bị đánh bật xuống phía Đông Đường 1, quân ta hoàn toàn làm chủ mục tiêu. Ngồi ở gần mố cầu bên bờ Bắc, ông Hồng vô cùng xúc động khi hai nhịp cầu bị đổ sập xuống lòng sông, để lại một khoảng trống trên dòng nước đang chảy xiết. Trận đánh thắng lợi, được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ông được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
Đại tá Nguyễn Văn Hồng cho biết, trong 10 năm tham gia chiến đấu chống đế quốc Mỹ (1965-1975) cũng như tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia (1978-1989), ông đã trực tiếp tham gia chiến đấu hàng trăm trận lớn nhỏ. Đó là cái “kho” đầy ắp và nguồn tư liệu phong phú để sau này, khi nghỉ hưu năm 1995, ông bắt tay vào viết văn.
Từ tác phẩm đầu tay, hồi ký "Những năm tháng không quên" ra mắt năm 2000 đến nay, ông đã có thêm 11 tác phẩm, như: "Pailin thời máu lửa", "Giữa hai trận tuyến", "Nghĩa tình đồng đội", "Đất kim cương", "Chiến trường khốc liệt", "Những bông hoa bất tử", "Thăm thẳm biên cương", "Đường 19"... Trong đó, tiểu thuyết "Pailin thời máu lửa" đã đoạt Giải thưởng văn học sông Mê Công năm 2021, cùng hồi ký "Những năm tháng không quên" và tác phẩm "Cuộc chiến tranh bắt buộc" được dịch sang tiếng Anh, xuất bản trên toàn cầu... Các tác phẩm này gần đây đã được ông tập hợp in chung trong bộ sách 3 tập "Nguyễn Văn Hồng tác phẩm". Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng chia sẻ: “Tuổi trẻ của tôi và đồng đội xông pha nơi chiến trận với niềm tin vào lý tưởng, vào lẽ sống vì độc lập, tự do của dân tộc. Giờ đây, tôi muốn kể lại trên những trang viết của mình về lẽ sống ấy để góp một tiếng nói tri ân với những máu xương đã đổ, để thế hệ hôm nay biết trân trọng, gìn giữ và trách nhiệm hơn với mỗi hành động, việc làm của mình".
Bài đăng Sự kiện & Nhân chứng, tháng 7/2026