TIN TỨC

Nhà văn nữ và những điều phía sau trang viết

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-08 16:14:40
mail facebook google pos stwis
638 lượt xem

BÙI SỸ HOA

Nhiều người lâu nay hiểu cụm từ “thân gái” thường được dùng để nói về thân phận người phụ nữ, nhấn mạnh sự mỏng manh, yếu mềm hoặc hoàn cảnh khó khăn, vất vả. Nhiều người cũng hiểu rõ cụm từ “thân gái dặm trường” để chỉ hoàn cảnh éo le, đường dài khốn khó của người phụ nữ trong cuộc sống gian truân, trên bước đường đằng đẵng kiếm tìm hạnh phúc với tứ bề bất trắc, hiểm nguy. Mới đây, nhà thơ Vương Trọng, trong bài viết về một nữ nhà văn trong chiến tranh, đã “sáng tạo” một cụm từ mới, khá đắt, đó là “thân gái chiến trường”*. Đọc kỹ bài viết mới thấy, có lẽ đây thực sự là thời kỳ đỉnh điểm khó khăn, ác liệt; khi thể hiện rõ nhất khí phách ngoan cường, quả cảm, vượt lên mọi hoàn cảnh để giành chiến thắng của các nhà văn nữ chiến trường như nhà văn Trần Thị Thắng.

Nhà văn Trần Thị Thắng tại Củ Chi – Ảnh tư liệu của nhà văn

Chuyện kể rằng, năm 1971, trong số 70 sinh viên vừa tốt nghiệp K11, 12 Khoa Văn Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tình nguyện xếp bút nghiên lên đường ra trận, có bốn người là nữ: Vũ Thị Hồng và Bùi Thị Chiến vào chiến trường ác liệt Khu 5, Đỗ Thị Thanh tức Hà Phương và Trần Thị Thắng đi vào Trung ương Cục ở B2. Đoàn của chị Trần Thị Thắng đi từ ngày 15 tháng 4, vài ngày đi xe từ Hà Nội vào đến Làng Ho, đi ca nô trên sông Gianh, còn lại tất tần tật là mang nặng và cuốc bộ. Đến Trung ương Cục là ngày 15 tháng 9 năm 1971, nghĩa là “dặm trường” mà chị Trần Thị Thắng và đồng đội đi qua kéo dài vừa vặn 5 tháng trời. Được biết, ngày đầu, khi hăm hở lên đường, chị Thắng cân nặng 50 kg, sau quá trình hành quân trên đường Trường Sơn, khi đến nơi, chị chỉ còn… 35 kg!

Người phụ nữ ấy đã vượt qua mọi sự can ngăn, lo lắng của người thân, bè bạn, và, dù tâm hồn đầy ắp lý tưởng thì chị cũng nhanh chóng nhận ra thực tại “khó khăn thật sự lớn hơn nhiều so với suy nghĩ, tưởng tượng ban đầu”. Ba lô trên lưng gồm quần áo, chăn màn, tăng võng, thuốc men, rồi súng đạn, ăng gô, bi đông, mấy mét vải màn làm băng vệ sinh, chưa kể bao gạo từ 7 đến 10 kg. Đặc biệt, trong chiếc ba lô ấy còn ôm chứa bao kỷ niệm vui buồn của chị. Đó là mấy chục đồng tiền bố gom góp cho chị dọc đường phòng nếu ốm đau còn có mà mua thuốc. Và quả đúng sốt rét đã hành hạ chị, không đi được phải bò, không ăn nổi cơm binh trạm, phải lùng trong dân mua trứng, mua thịt để tự mình hồi phục sức khỏe mà bước tiếp. Đó còn là cuốn sách kinh điển Chiến tranh và Hòa bình chị cố mang theo nhưng đến lúc nặng quá phải bỏ đi và tự an ủi mình “cái cần nhớ thì nhớ trong đầu”. Và “nặng” hơn cả là cuốn nhật ký chị cố ghi chép hàng ngày, để sau này trở thành “tài sản vô giá”. Để hôm nay và ngày mai, bạn đọc có thể được đọc, được ngẫm nghĩ những dòng như: “Ngày 22 tháng 4 năm 1971, bắt đầu leo Trường Sơn bộ. Máy bay địch bay vè vè suốt trên đầu, thỉnh thoảng bắn một quả “xin thùng” dọa dẫm. Đi đến gần trưa thì mệt, ba lô trên vai trở nên nặng nề, đè lên lưng. Bỗng có tiếng khóc tu… tu… rất to”; “Ngày 25 tháng 4… ngày đi mệt, đây là đêm đầu tiên ngủ rừng. Đang sợ thì mưa to ập đến. Chúng tôi ngồi co chân lên võng, chịu trận mưa rừng chảy vào võng, vào mùng, cốt che lấy chiếc ba lô vì đó là đồ ăn, thức uống của ba bốn tháng trời hành quân”; “…Ngày 1 tháng 5, phải chạy ròng rã từng người, từng người một qua đoạn đường 3 km trống lốc. Máy bay soi trên đầu, thỉnh thoảng chúng lại bắn phía trước mặt…”**

Tấm ảnh chụp chung tại Đình Bảng (Bắc Ninh) trước khi đi B. Từ trái sang: Trần Thị Thắng, Bùi Thị Chiến, Đỗ Thị Thanh (Hà Phương), Vũ Thị Hồng.

Người phụ nữ mảnh mai, vai nhỏ, chân yếu tay mềm đã cùng đồng đội vượt qua tất cả khó khăn, hiểm nguy với một niềm tin sắt đá. Chị Trần Thị Thắng và chị Đỗ Thị Thanh – Hà Phương gắn bó với nhau còn hơn ruột thịt. Lúc Thắng sốt rét, mê sảng, nói vứt đồ đạc lung tung, Thanh phải lội xuống suối mò dép cho Thắng. Đến Lượt Thanh sốt rét nằm li bì, Thắng bón từng thìa cháo và dìu bạn đi… Chị cùng đồng đội nhận ra “con người có những tiềm năng mà trong một hoàn cảnh nào đó mới biến thành khả năng, giúp mình vượt qua khó khăn, khắc nghiệt, hiểm nguy để tồn tại”.

Thực ra, không có sách vở, ghi chép nào kể hết, nói hết những chặng đường gian nan, hiểm nguy mà những người lính, những người cầm súng và cầm bút, nhất là các nhà văn nữ đã trải qua. Cho đến giờ đọc lại vẫn rơi nước mắt nghẹn ngào về chuyện Dương Thị Xuân Quý gửi con cho bố mẹ để ra chiến trường “khi con vừa biết gọi mẹ”! Nhà văn Lê Minh Khuê từng phải khai tăng tuổi khi chưa học hết phổ thông để tham gia thanh niên xung phong và sau này để lại rất nhiều truyện ngắn có giá trị. Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh từ miền Bắc đằng đẵng ba tháng ròng đi tìm chồng bị sốt rét ở Lộc Ninh…

Được biết, Hội Nhà văn Việt Nam có khoảng hai chục cặp vợ chồng nhà văn, phần lớn là những người lính cầm súng và cầm bút, tình yêu và hạnh phúc nảy nở từ thực tiễn chiến đấu và sáng tác trên chiến trường cũng như trong cuộc sống hòa bình sau này. Trong số các cặp vợ chồng nhà văn, nhà báo nổi tiếng như Chu Cẩm Phong – Dương Thị Xuân Quý, Chu Lai – Nguyễn Thị Hồng,… nhiều người biết cặp Lê Quang Trang – Trần Thị Thắng. Họ học cách nhau một khóa, có cảm tình với nhau nhưng đành gác lại, rồi vào chiến trường. Anh chị chỉ đến được với nhau năm 1974, khi cả hai cùng làm việc vùng Sài Gòn – Gia Định, chính thức yêu nhau khi đất nước hoàn toàn giải phóng và đến năm 1976 mới tổ chức lễ cưới. Mỗi người một hoàn cảnh, không ai giống ai nhưng dễ thấy họ đều có chung một con đường chiến đấu, hy sinh vì dân, vì nước và hạnh phúc, tình yêu cá nhân luôn được để sau chót.

Biết bao cuộc chiến tranh lớn nhỏ trên thế giới đã đi qua, từng được các nhà văn khẳng định là “không mang gương mặt phụ nữ”. Nhưng trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta, những người phụ nữ Việt Nam yêu nước đã dám hy sinh cả tính mạng của mình vì độc lập, tự do. Giữa bức tranh chiến tranh khốc liệt vẫn hiện lên, vẫn tồn tại gương mặt phụ nữ dịu dàng, nhân ái như cách của chị Dương Thị Xuân Quý, chị Trần Thị Thắng, chị Hà Phương, chị Lê Minh Khuê, chị Đặng Nguyệt Anh và nhiều người khác đã sống, chiến đấu và hy sinh không tiếc tuổi xuân.

Bức ảnh chụp 4 nhà văn gặp lại nhau tại Đà Nẵng khi đất nước hòa bình. Hàng trên: Bùi Thị Chiến, Vũ Thị Hồng; hàng dưới: Hà Phương, Trần Thị Thắng

Nhà thơ Vương Trọng kể từng được xem 20 tác phẩm của nhà thơ Trần Thị Thắng xuất bản trong hơn 20 năm qua, gồm các thể loại thơ, trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử, chân dung văn học, truyên thiếu nhi, trong đó tiểu thuyết “Tháng không ngày” được trao Giải thưởng văn học sông Mekong 2012. Mới đây, vợ chồng nhà văn Lê Quang Trang – Trần Thị Thắng vừa công bố công trình nghiên cứu, tuyển chọn đồ sộ “Văn học giải phòng miền Nam Việt Nam 1954-1975 – một tiến trình độc đáo” do NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh ấn hành năm 2025 với 1000 trang in.

Thật mừng cho thành quả lao động của anh chị, của những người từng cầm súng và cầm bút trong chiến trường và nay vẫn dồi dào sức viết trong thời kỳ xây dựng hòa bình của đất nước. Một nhà văn nổi tiếng đã nói rất chí lý rằng, với những nhà văn nữ như chị Trần Thị Thắng, mỗi khi đọc sách của chị, người ta không chỉ đọc những gì hiện lên qua từng con chữ, mà còn “đọc” cả dấu ấn đặc biệt trong những năm tháng “thân gái chiến trường” mà chị cùng nhiều người đã đi qua suốt thời tuổi trẻ.

B.S.H

___
*Vương Trọng, “Khi tác giả trở thành nhân vật”, NXB Quân đội nhân dân, 2025.

**Trần Thị Thắng, “Ngày trở về”, NXB Thanh niên, 2020.

Nguồn: Tạp chí Sông Lam.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Quầng sáng tinh thần trong truyện ngắn Nguyễn Trường
Bài đăng Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 216, ngày 9/7/2026
Xem thêm
Theo năm tháng đi...
Bài viết “Theo năm tháng đi” của nhà thơ Hoàng Quý sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm vê miền thơ lấp lánh của Hà Đình Cẩn, mảng sáng tác phong phú nhưng chưa thật nhiều người biết.
Xem thêm
Cầm súng, cầm bút bằng niềm tin, lẽ sống
Nhân chuyến công tác tại Hà Nội, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng, nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 (hiện sống tại phường Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện thú vị. Suốt hơn hai giờ đồng hồ, những câu chuyện của một thời lửa đạn cứ thế ùa về không dứt trong giọng kể trầm ấm và trí nhớ mẫn tiệp của một người lính dày dạn trận mạc đã ở độ tuổi xưa nay hiếm.
Xem thêm
Cố Thượng tướng Phùng Thế Tài được đặt tên đường ở TP. Nha Trang và TP. Lào Cai
Năm 2022, tại TP. Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa), TP. Lào Cai (tỉnh Lào Cai) và một số khu đô thị ở các tỉnh thành khác, các đường phố giao nhau được đặt tên theo một số tướng lĩnh quân đội, trong đó có cố Thượng tướng Phùng Thế Tài.
Xem thêm
Nhạc sư Vĩnh Bảo và hành trình trao truyền gia tài văn hóa Việt
Việc am tường cả âm nhạc Tây phương cùng kinh nghiệm đóng đàn thực tế hơn 60 năm qua đã giúp ông tạo nên những nhạc cụ thương hiệu Vĩnh Bảo độc nhất vô nhị. Mỗi cây đàn do ông làm ra, từ khâu chọn thớ gỗ, xử lý hợp âm đến việc đục khe “thở” đều được tính toán tỉ mỉ như một công trình kiến trúc âm thanh. Chính cố Giáo sư Trần Văn Khê trong hồi ký từng thán phục rằng cây đàn tranh bằng gỗ Kiri mà Nhạc sư Vĩnh Bảo đóng cho ông có âm thanh tuyệt hảo đến mức quá “thượng thừa” mà các chuyên gia âm thanh học người Pháp cũng phải trầm trồ, thán phục.
Xem thêm
Lại Văn Long - Ngòi bút lửa!
Những tháng ngày lăn lộn trong nghề báo nhiều nguy hiểm, nhà văn Lại Văn Long đã trải qua đủ cung bậc cảm xúc. Nhưng anh vẫn yêu nghề mãnh liệt và ước mơ sau này anh sẽ có những cuốn sách, những thước phim phản ánh được cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm rất cam go, nguy hiểm nhưng đầy tính nhân văn của lực lượng Công an Nhân dân. Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng nghiệp vụ 6 tháng ở Đại học An ninh; anh càng tin rằng mình sẽ hoàn thành được ước mơ đó!
Xem thêm
Nhà giáo, nhà thơ Huệ Triệu
Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, có thể kể đến các chị: Đặng Nguyệt Anh, Tôn Nữ Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Thanh Long, Huệ Triệu… Nét nổi bật trong thơ của các nhà sư phạm phái đẹp là sự đằm sâu, với nhiều tìm tòi mới mẻ, song vẫn giữ được sự điềm đạm, và đầy trách nhiệm công dân.
Xem thêm
Nhà văn Xuân Phượng - Một bản lĩnh “chân cứng đá mềm” trong sáng tạo và trong cuộc đời
Có những cuộc đời mà khi soi vào, chúng ta không chỉ thấy chiều dài của thời gian, mà còn thấy cả chiều sâu của lịch sử, chiều rộng của một tâm hồn và tình yêu vô bờ bến của một trái tim.
Xem thêm
Người đi vắng của văn chương
LTS: Nguyễn Bình Phương là gương mặt đặc biệt của văn chương đương đại, lặng lẽ, kiệm lời, gần như luôn đứng ngoài những ồn ào của văn đàn. Trong cái nhìn của nhà văn Phạm Ngọc Tiến, ông là “người đi vắng” ở các đám đông, nhưng lại hiện diện bền bỉ và khác biệt trong từng trang viết.
Xem thêm
Phạm Thiên Thư: Người đi tìm bụi đỏ đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Chiều tối, lúc 18h24 phút, Báo Giác Ngộ Online - Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7/5/2026”.
Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm