- Chân dung & Phỏng vấn
- Nhà văn nữ và những điều phía sau trang viết
Nhà văn nữ và những điều phía sau trang viết
BÙI SỸ HOA
Nhiều người lâu nay hiểu cụm từ “thân gái” thường được dùng để nói về thân phận người phụ nữ, nhấn mạnh sự mỏng manh, yếu mềm hoặc hoàn cảnh khó khăn, vất vả. Nhiều người cũng hiểu rõ cụm từ “thân gái dặm trường” để chỉ hoàn cảnh éo le, đường dài khốn khó của người phụ nữ trong cuộc sống gian truân, trên bước đường đằng đẵng kiếm tìm hạnh phúc với tứ bề bất trắc, hiểm nguy. Mới đây, nhà thơ Vương Trọng, trong bài viết về một nữ nhà văn trong chiến tranh, đã “sáng tạo” một cụm từ mới, khá đắt, đó là “thân gái chiến trường”*. Đọc kỹ bài viết mới thấy, có lẽ đây thực sự là thời kỳ đỉnh điểm khó khăn, ác liệt; khi thể hiện rõ nhất khí phách ngoan cường, quả cảm, vượt lên mọi hoàn cảnh để giành chiến thắng của các nhà văn nữ chiến trường như nhà văn Trần Thị Thắng.

Nhà văn Trần Thị Thắng tại Củ Chi – Ảnh tư liệu của nhà văn
Chuyện kể rằng, năm 1971, trong số 70 sinh viên vừa tốt nghiệp K11, 12 Khoa Văn Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tình nguyện xếp bút nghiên lên đường ra trận, có bốn người là nữ: Vũ Thị Hồng và Bùi Thị Chiến vào chiến trường ác liệt Khu 5, Đỗ Thị Thanh tức Hà Phương và Trần Thị Thắng đi vào Trung ương Cục ở B2. Đoàn của chị Trần Thị Thắng đi từ ngày 15 tháng 4, vài ngày đi xe từ Hà Nội vào đến Làng Ho, đi ca nô trên sông Gianh, còn lại tất tần tật là mang nặng và cuốc bộ. Đến Trung ương Cục là ngày 15 tháng 9 năm 1971, nghĩa là “dặm trường” mà chị Trần Thị Thắng và đồng đội đi qua kéo dài vừa vặn 5 tháng trời. Được biết, ngày đầu, khi hăm hở lên đường, chị Thắng cân nặng 50 kg, sau quá trình hành quân trên đường Trường Sơn, khi đến nơi, chị chỉ còn… 35 kg!
Người phụ nữ ấy đã vượt qua mọi sự can ngăn, lo lắng của người thân, bè bạn, và, dù tâm hồn đầy ắp lý tưởng thì chị cũng nhanh chóng nhận ra thực tại “khó khăn thật sự lớn hơn nhiều so với suy nghĩ, tưởng tượng ban đầu”. Ba lô trên lưng gồm quần áo, chăn màn, tăng võng, thuốc men, rồi súng đạn, ăng gô, bi đông, mấy mét vải màn làm băng vệ sinh, chưa kể bao gạo từ 7 đến 10 kg. Đặc biệt, trong chiếc ba lô ấy còn ôm chứa bao kỷ niệm vui buồn của chị. Đó là mấy chục đồng tiền bố gom góp cho chị dọc đường phòng nếu ốm đau còn có mà mua thuốc. Và quả đúng sốt rét đã hành hạ chị, không đi được phải bò, không ăn nổi cơm binh trạm, phải lùng trong dân mua trứng, mua thịt để tự mình hồi phục sức khỏe mà bước tiếp. Đó còn là cuốn sách kinh điển Chiến tranh và Hòa bình chị cố mang theo nhưng đến lúc nặng quá phải bỏ đi và tự an ủi mình “cái cần nhớ thì nhớ trong đầu”. Và “nặng” hơn cả là cuốn nhật ký chị cố ghi chép hàng ngày, để sau này trở thành “tài sản vô giá”. Để hôm nay và ngày mai, bạn đọc có thể được đọc, được ngẫm nghĩ những dòng như: “Ngày 22 tháng 4 năm 1971, bắt đầu leo Trường Sơn bộ. Máy bay địch bay vè vè suốt trên đầu, thỉnh thoảng bắn một quả “xin thùng” dọa dẫm. Đi đến gần trưa thì mệt, ba lô trên vai trở nên nặng nề, đè lên lưng. Bỗng có tiếng khóc tu… tu… rất to”; “Ngày 25 tháng 4… ngày đi mệt, đây là đêm đầu tiên ngủ rừng. Đang sợ thì mưa to ập đến. Chúng tôi ngồi co chân lên võng, chịu trận mưa rừng chảy vào võng, vào mùng, cốt che lấy chiếc ba lô vì đó là đồ ăn, thức uống của ba bốn tháng trời hành quân”; “…Ngày 1 tháng 5, phải chạy ròng rã từng người, từng người một qua đoạn đường 3 km trống lốc. Máy bay soi trên đầu, thỉnh thoảng chúng lại bắn phía trước mặt…”**

Tấm ảnh chụp chung tại Đình Bảng (Bắc Ninh) trước khi đi B. Từ trái sang: Trần Thị Thắng, Bùi Thị Chiến, Đỗ Thị Thanh (Hà Phương), Vũ Thị Hồng.
Người phụ nữ mảnh mai, vai nhỏ, chân yếu tay mềm đã cùng đồng đội vượt qua tất cả khó khăn, hiểm nguy với một niềm tin sắt đá. Chị Trần Thị Thắng và chị Đỗ Thị Thanh – Hà Phương gắn bó với nhau còn hơn ruột thịt. Lúc Thắng sốt rét, mê sảng, nói vứt đồ đạc lung tung, Thanh phải lội xuống suối mò dép cho Thắng. Đến Lượt Thanh sốt rét nằm li bì, Thắng bón từng thìa cháo và dìu bạn đi… Chị cùng đồng đội nhận ra “con người có những tiềm năng mà trong một hoàn cảnh nào đó mới biến thành khả năng, giúp mình vượt qua khó khăn, khắc nghiệt, hiểm nguy để tồn tại”.
Thực ra, không có sách vở, ghi chép nào kể hết, nói hết những chặng đường gian nan, hiểm nguy mà những người lính, những người cầm súng và cầm bút, nhất là các nhà văn nữ đã trải qua. Cho đến giờ đọc lại vẫn rơi nước mắt nghẹn ngào về chuyện Dương Thị Xuân Quý gửi con cho bố mẹ để ra chiến trường “khi con vừa biết gọi mẹ”! Nhà văn Lê Minh Khuê từng phải khai tăng tuổi khi chưa học hết phổ thông để tham gia thanh niên xung phong và sau này để lại rất nhiều truyện ngắn có giá trị. Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh từ miền Bắc đằng đẵng ba tháng ròng đi tìm chồng bị sốt rét ở Lộc Ninh…
Được biết, Hội Nhà văn Việt Nam có khoảng hai chục cặp vợ chồng nhà văn, phần lớn là những người lính cầm súng và cầm bút, tình yêu và hạnh phúc nảy nở từ thực tiễn chiến đấu và sáng tác trên chiến trường cũng như trong cuộc sống hòa bình sau này. Trong số các cặp vợ chồng nhà văn, nhà báo nổi tiếng như Chu Cẩm Phong – Dương Thị Xuân Quý, Chu Lai – Nguyễn Thị Hồng,… nhiều người biết cặp Lê Quang Trang – Trần Thị Thắng. Họ học cách nhau một khóa, có cảm tình với nhau nhưng đành gác lại, rồi vào chiến trường. Anh chị chỉ đến được với nhau năm 1974, khi cả hai cùng làm việc vùng Sài Gòn – Gia Định, chính thức yêu nhau khi đất nước hoàn toàn giải phóng và đến năm 1976 mới tổ chức lễ cưới. Mỗi người một hoàn cảnh, không ai giống ai nhưng dễ thấy họ đều có chung một con đường chiến đấu, hy sinh vì dân, vì nước và hạnh phúc, tình yêu cá nhân luôn được để sau chót.
Biết bao cuộc chiến tranh lớn nhỏ trên thế giới đã đi qua, từng được các nhà văn khẳng định là “không mang gương mặt phụ nữ”. Nhưng trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta, những người phụ nữ Việt Nam yêu nước đã dám hy sinh cả tính mạng của mình vì độc lập, tự do. Giữa bức tranh chiến tranh khốc liệt vẫn hiện lên, vẫn tồn tại gương mặt phụ nữ dịu dàng, nhân ái như cách của chị Dương Thị Xuân Quý, chị Trần Thị Thắng, chị Hà Phương, chị Lê Minh Khuê, chị Đặng Nguyệt Anh và nhiều người khác đã sống, chiến đấu và hy sinh không tiếc tuổi xuân.

Bức ảnh chụp 4 nhà văn gặp lại nhau tại Đà Nẵng khi đất nước hòa bình. Hàng trên: Bùi Thị Chiến, Vũ Thị Hồng; hàng dưới: Hà Phương, Trần Thị Thắng
Nhà thơ Vương Trọng kể từng được xem 20 tác phẩm của nhà thơ Trần Thị Thắng xuất bản trong hơn 20 năm qua, gồm các thể loại thơ, trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử, chân dung văn học, truyên thiếu nhi, trong đó tiểu thuyết “Tháng không ngày” được trao Giải thưởng văn học sông Mekong 2012. Mới đây, vợ chồng nhà văn Lê Quang Trang – Trần Thị Thắng vừa công bố công trình nghiên cứu, tuyển chọn đồ sộ “Văn học giải phòng miền Nam Việt Nam 1954-1975 – một tiến trình độc đáo” do NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh ấn hành năm 2025 với 1000 trang in.
Thật mừng cho thành quả lao động của anh chị, của những người từng cầm súng và cầm bút trong chiến trường và nay vẫn dồi dào sức viết trong thời kỳ xây dựng hòa bình của đất nước. Một nhà văn nổi tiếng đã nói rất chí lý rằng, với những nhà văn nữ như chị Trần Thị Thắng, mỗi khi đọc sách của chị, người ta không chỉ đọc những gì hiện lên qua từng con chữ, mà còn “đọc” cả dấu ấn đặc biệt trong những năm tháng “thân gái chiến trường” mà chị cùng nhiều người đã đi qua suốt thời tuổi trẻ.
B.S.H
___
*Vương Trọng, “Khi tác giả trở thành nhân vật”, NXB Quân đội nhân dân, 2025.
**Trần Thị Thắng, “Ngày trở về”, NXB Thanh niên, 2020.
Nguồn: Tạp chí Sông Lam.