TIN TỨC

Nhà văn nữ và những điều phía sau trang viết

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-08 16:14:40
mail facebook google pos stwis
91 lượt xem

BÙI SỸ HOA

Nhiều người lâu nay hiểu cụm từ “thân gái” thường được dùng để nói về thân phận người phụ nữ, nhấn mạnh sự mỏng manh, yếu mềm hoặc hoàn cảnh khó khăn, vất vả. Nhiều người cũng hiểu rõ cụm từ “thân gái dặm trường” để chỉ hoàn cảnh éo le, đường dài khốn khó của người phụ nữ trong cuộc sống gian truân, trên bước đường đằng đẵng kiếm tìm hạnh phúc với tứ bề bất trắc, hiểm nguy. Mới đây, nhà thơ Vương Trọng, trong bài viết về một nữ nhà văn trong chiến tranh, đã “sáng tạo” một cụm từ mới, khá đắt, đó là “thân gái chiến trường”*. Đọc kỹ bài viết mới thấy, có lẽ đây thực sự là thời kỳ đỉnh điểm khó khăn, ác liệt; khi thể hiện rõ nhất khí phách ngoan cường, quả cảm, vượt lên mọi hoàn cảnh để giành chiến thắng của các nhà văn nữ chiến trường như nhà văn Trần Thị Thắng.

Nhà văn Trần Thị Thắng tại Củ Chi – Ảnh tư liệu của nhà văn

Chuyện kể rằng, năm 1971, trong số 70 sinh viên vừa tốt nghiệp K11, 12 Khoa Văn Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tình nguyện xếp bút nghiên lên đường ra trận, có bốn người là nữ: Vũ Thị Hồng và Bùi Thị Chiến vào chiến trường ác liệt Khu 5, Đỗ Thị Thanh tức Hà Phương và Trần Thị Thắng đi vào Trung ương Cục ở B2. Đoàn của chị Trần Thị Thắng đi từ ngày 15 tháng 4, vài ngày đi xe từ Hà Nội vào đến Làng Ho, đi ca nô trên sông Gianh, còn lại tất tần tật là mang nặng và cuốc bộ. Đến Trung ương Cục là ngày 15 tháng 9 năm 1971, nghĩa là “dặm trường” mà chị Trần Thị Thắng và đồng đội đi qua kéo dài vừa vặn 5 tháng trời. Được biết, ngày đầu, khi hăm hở lên đường, chị Thắng cân nặng 50 kg, sau quá trình hành quân trên đường Trường Sơn, khi đến nơi, chị chỉ còn… 35 kg!

Người phụ nữ ấy đã vượt qua mọi sự can ngăn, lo lắng của người thân, bè bạn, và, dù tâm hồn đầy ắp lý tưởng thì chị cũng nhanh chóng nhận ra thực tại “khó khăn thật sự lớn hơn nhiều so với suy nghĩ, tưởng tượng ban đầu”. Ba lô trên lưng gồm quần áo, chăn màn, tăng võng, thuốc men, rồi súng đạn, ăng gô, bi đông, mấy mét vải màn làm băng vệ sinh, chưa kể bao gạo từ 7 đến 10 kg. Đặc biệt, trong chiếc ba lô ấy còn ôm chứa bao kỷ niệm vui buồn của chị. Đó là mấy chục đồng tiền bố gom góp cho chị dọc đường phòng nếu ốm đau còn có mà mua thuốc. Và quả đúng sốt rét đã hành hạ chị, không đi được phải bò, không ăn nổi cơm binh trạm, phải lùng trong dân mua trứng, mua thịt để tự mình hồi phục sức khỏe mà bước tiếp. Đó còn là cuốn sách kinh điển Chiến tranh và Hòa bình chị cố mang theo nhưng đến lúc nặng quá phải bỏ đi và tự an ủi mình “cái cần nhớ thì nhớ trong đầu”. Và “nặng” hơn cả là cuốn nhật ký chị cố ghi chép hàng ngày, để sau này trở thành “tài sản vô giá”. Để hôm nay và ngày mai, bạn đọc có thể được đọc, được ngẫm nghĩ những dòng như: “Ngày 22 tháng 4 năm 1971, bắt đầu leo Trường Sơn bộ. Máy bay địch bay vè vè suốt trên đầu, thỉnh thoảng bắn một quả “xin thùng” dọa dẫm. Đi đến gần trưa thì mệt, ba lô trên vai trở nên nặng nề, đè lên lưng. Bỗng có tiếng khóc tu… tu… rất to”; “Ngày 25 tháng 4… ngày đi mệt, đây là đêm đầu tiên ngủ rừng. Đang sợ thì mưa to ập đến. Chúng tôi ngồi co chân lên võng, chịu trận mưa rừng chảy vào võng, vào mùng, cốt che lấy chiếc ba lô vì đó là đồ ăn, thức uống của ba bốn tháng trời hành quân”; “…Ngày 1 tháng 5, phải chạy ròng rã từng người, từng người một qua đoạn đường 3 km trống lốc. Máy bay soi trên đầu, thỉnh thoảng chúng lại bắn phía trước mặt…”**

Tấm ảnh chụp chung tại Đình Bảng (Bắc Ninh) trước khi đi B. Từ trái sang: Trần Thị Thắng, Bùi Thị Chiến, Đỗ Thị Thanh (Hà Phương), Vũ Thị Hồng.

Người phụ nữ mảnh mai, vai nhỏ, chân yếu tay mềm đã cùng đồng đội vượt qua tất cả khó khăn, hiểm nguy với một niềm tin sắt đá. Chị Trần Thị Thắng và chị Đỗ Thị Thanh – Hà Phương gắn bó với nhau còn hơn ruột thịt. Lúc Thắng sốt rét, mê sảng, nói vứt đồ đạc lung tung, Thanh phải lội xuống suối mò dép cho Thắng. Đến Lượt Thanh sốt rét nằm li bì, Thắng bón từng thìa cháo và dìu bạn đi… Chị cùng đồng đội nhận ra “con người có những tiềm năng mà trong một hoàn cảnh nào đó mới biến thành khả năng, giúp mình vượt qua khó khăn, khắc nghiệt, hiểm nguy để tồn tại”.

Thực ra, không có sách vở, ghi chép nào kể hết, nói hết những chặng đường gian nan, hiểm nguy mà những người lính, những người cầm súng và cầm bút, nhất là các nhà văn nữ đã trải qua. Cho đến giờ đọc lại vẫn rơi nước mắt nghẹn ngào về chuyện Dương Thị Xuân Quý gửi con cho bố mẹ để ra chiến trường “khi con vừa biết gọi mẹ”! Nhà văn Lê Minh Khuê từng phải khai tăng tuổi khi chưa học hết phổ thông để tham gia thanh niên xung phong và sau này để lại rất nhiều truyện ngắn có giá trị. Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh từ miền Bắc đằng đẵng ba tháng ròng đi tìm chồng bị sốt rét ở Lộc Ninh…

Được biết, Hội Nhà văn Việt Nam có khoảng hai chục cặp vợ chồng nhà văn, phần lớn là những người lính cầm súng và cầm bút, tình yêu và hạnh phúc nảy nở từ thực tiễn chiến đấu và sáng tác trên chiến trường cũng như trong cuộc sống hòa bình sau này. Trong số các cặp vợ chồng nhà văn, nhà báo nổi tiếng như Chu Cẩm Phong – Dương Thị Xuân Quý, Chu Lai – Nguyễn Thị Hồng,… nhiều người biết cặp Lê Quang Trang – Trần Thị Thắng. Họ học cách nhau một khóa, có cảm tình với nhau nhưng đành gác lại, rồi vào chiến trường. Anh chị chỉ đến được với nhau năm 1974, khi cả hai cùng làm việc vùng Sài Gòn – Gia Định, chính thức yêu nhau khi đất nước hoàn toàn giải phóng và đến năm 1976 mới tổ chức lễ cưới. Mỗi người một hoàn cảnh, không ai giống ai nhưng dễ thấy họ đều có chung một con đường chiến đấu, hy sinh vì dân, vì nước và hạnh phúc, tình yêu cá nhân luôn được để sau chót.

Biết bao cuộc chiến tranh lớn nhỏ trên thế giới đã đi qua, từng được các nhà văn khẳng định là “không mang gương mặt phụ nữ”. Nhưng trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta, những người phụ nữ Việt Nam yêu nước đã dám hy sinh cả tính mạng của mình vì độc lập, tự do. Giữa bức tranh chiến tranh khốc liệt vẫn hiện lên, vẫn tồn tại gương mặt phụ nữ dịu dàng, nhân ái như cách của chị Dương Thị Xuân Quý, chị Trần Thị Thắng, chị Hà Phương, chị Lê Minh Khuê, chị Đặng Nguyệt Anh và nhiều người khác đã sống, chiến đấu và hy sinh không tiếc tuổi xuân.

Bức ảnh chụp 4 nhà văn gặp lại nhau tại Đà Nẵng khi đất nước hòa bình. Hàng trên: Bùi Thị Chiến, Vũ Thị Hồng; hàng dưới: Hà Phương, Trần Thị Thắng

Nhà thơ Vương Trọng kể từng được xem 20 tác phẩm của nhà thơ Trần Thị Thắng xuất bản trong hơn 20 năm qua, gồm các thể loại thơ, trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử, chân dung văn học, truyên thiếu nhi, trong đó tiểu thuyết “Tháng không ngày” được trao Giải thưởng văn học sông Mekong 2012. Mới đây, vợ chồng nhà văn Lê Quang Trang – Trần Thị Thắng vừa công bố công trình nghiên cứu, tuyển chọn đồ sộ “Văn học giải phòng miền Nam Việt Nam 1954-1975 – một tiến trình độc đáo” do NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh ấn hành năm 2025 với 1000 trang in.

Thật mừng cho thành quả lao động của anh chị, của những người từng cầm súng và cầm bút trong chiến trường và nay vẫn dồi dào sức viết trong thời kỳ xây dựng hòa bình của đất nước. Một nhà văn nổi tiếng đã nói rất chí lý rằng, với những nhà văn nữ như chị Trần Thị Thắng, mỗi khi đọc sách của chị, người ta không chỉ đọc những gì hiện lên qua từng con chữ, mà còn “đọc” cả dấu ấn đặc biệt trong những năm tháng “thân gái chiến trường” mà chị cùng nhiều người đã đi qua suốt thời tuổi trẻ.

B.S.H

___
*Vương Trọng, “Khi tác giả trở thành nhân vật”, NXB Quân đội nhân dân, 2025.

**Trần Thị Thắng, “Ngày trở về”, NXB Thanh niên, 2020.

Nguồn: Tạp chí Sông Lam.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm
Đại tướng Lê Văn Dũng – Một “ông già Nam bộ”
Bài viết của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh: Ngày nào tôi cũng bì bõm trong những trang văn
Thấy nhà văn Nguyễn Nhật Ánh vẫn ra sách đều đặn sau nhiều năm, có người hỏi ông rằng bao giờ thì ngừng viết. Đối với ông, đó là câu hỏi kỳ lạ, giống như khi bạn hỏi một người đang yêu: “Bao giờ thì anh mới ngừng yêu?”.
Xem thêm
86 gương mặt văn nghệ sĩ của Phùng Văn Khai: Những “gương mặt” biết kể chuyện
Dưới những chuyển động gấp gáp của đời sống đương đại, khi văn chương không ít lúc bị cuốn vào vòng quay của sự kiện, truyền thông và thị hiếu, thì những cuốn sách chọn cách đi chậm lại, lặng lẽ quan sát con người, lắng nghe chiều sâu của từng phận đời nghệ sĩ, càng trở nên hiếm và đáng quý, như một sự trở về thể loại chân dung văn học truyền thống. 86 gương mặt văn nghệ sĩ (Nxb Hội Nhà văn, 2025) của Phùng Văn Khai thuộc về mạch sách như vậy. Đây không chỉ là một tập chân dung văn học theo nghĩa thông thường, mà còn là một bản phác thảo rộng mở về đời sống tinh thần của nhiều thế hệ sáng tạo Việt Nam, từ những cây đại thụ đã thành tên tuổi trong lịch sử văn học, đến những gương mặt đương thời và lớp trẻ đang từng bước không ngừng khẳng định mình. Và, ẩn tàng phía sau những chân dung văn nghệ sĩ, chính là một chân dung tinh tế của người cầm bút.
Xem thêm
Nhà văn Trương Anh Quốc – Văn chương như người đi tìm kho báu
Nhà văn Trương Anh Quốc, ủy viên Ban văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam, sinh năm 1976 tại vùng miền núi tỉnh Quảng Nam. Anh đạt giải Nhì cuộc thi Văn học tuổi 20 năm 2005 với tập truyện ngắn “Sóng biển rì rào”, giải Nhất cuộc thi văn học tuổi 20 năm 2010 với tiểu thuyết “Biển”, cùng nhiều giải thưởng truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Sài Gòn Giải phóng… Nhân dịp anh vừa ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ tư “Trùng khơi nghe sóng”, Trương Anh Quốc đã có cuộc trò chuyện nhỏ về văn chương với Văn nghệ Thành phố.
Xem thêm
Chuyện bút danh Đynh Trầm Ca và bài hát Ru con tình cũ
Đynh Trầm Ca tên thật Mạc Phụ, sinh năm 1941 tại Vĩnh Điện, Quảng Nam (cũ). Hơn 60 năm tuổi nghề, Đynh Trầm Ca đã sáng tác hơn 300 bài thơ và gần 100 bài ca khúc. Vì tuổi cao sức yếu, nhạc sĩ đã qua đời vào ngày 1/12/2025, hưởng thọ 85 tuổi.
Xem thêm
Vi Thùy Linh và hành trình vượt lên chính mình
Tính từ bài thơ đầu tiên viết năm 15 tuổi (tháng 9/1995), sau này được đưa vào tập thơ đầu tay (Khát, NXB Hội Nhà văn, 1999), Vi Thùy Linh đã có một hành trình sáng tác 30 năm với 7 tập thơ. 30 năm trôi đi gắn với bao đổi thay, biến động trong đời sống, thiếu nữ Vi Thùy Linh đã là bà mẹ hai con.
Xem thêm
Nhạc sĩ Thế Hiển - Người lính không mang quân hàm
Bài viết của NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy
Xem thêm
Tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của nghệ sĩ thị giác, thủ khoa Vũ Tú
Sự tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp của nghệ sĩ thị giác, thủ khoa Vũ Tú mang một ý nghĩa không chỉ đối với giới nghiên cứu nghệ thuật mà còn đối với công chúng yêu cái đẹp. Bởi lẽ, thân thế chính là cội nguồn hình thành nhân cách và tài năng của một con người. Khi đi sâu vào quê hương, gia tộc, môi trường văn hóa nơi Vũ Tú sinh ra và lớn lên, ta sẽ thấy rõ sự kết hợp giữa truyền thống Kinh Bắc giàu bản sắc với nền học vấn hiện đại đã nuôi dưỡng nên một tâm hồn nghệ sĩ. Chính bối cảnh ấy đã tạo nên một con người vừa gắn bó với cội nguồn dân tộc, vừa có khát vọng mở ra những chân trời sáng tạo mới.
Xem thêm