TIN TỨC

Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-28 21:21:21
mail facebook google pos stwis
524 lượt xem

Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.

 

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - Ảnh: Nhật LinhNhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - Ảnh: Nhật Linh

 

Hành trình “cầm súng” và “cầm bút”

Sinh ra tại mảnh đất Thừa Thiên Huế - nơi hội tụ hồn thiêng sông núi và những biến cố lịch sử - Nguyễn Khoa Điềm sớm mang trong mình dòng máu của một gia đình trí thức yêu nước. Cha ông là nhà báo, nhà cách mạng Hải Triều, dòng dõi từ quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng. Tuổi thơ chứng kiến cảnh nghèo khó, ly tán, rồi năm 12 tuổi phải xa mẹ ra Bắc học tập, đã gieo vào lòng cậu học trò nhạy cảm những suy tư sớm cứng cáp về thân phận con người và vận mệnh dân tộc.

Tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng lứa với Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm không chọn con đường an nhàn. Ông xung phong trở về chiến trường miền Nam, hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế, từng bị giam cầm tại nhà lao Thừa Phủ và được giải thoát trong Mậu Thân 1968. Chính trong những tháng năm khói lửa ấy, người thanh niên ấy bắt đầu “đánh vật” với những vần thơ đầu tiên. Ông tự nhận mình “hoàn toàn không có năng khiếu về thơ”, mà thơ đến từ sự học hỏi, khổ luyện và nhất là từ “không khí cách mạng sôi sục” của nhân dân.

Nguyễn Khoa Điềm - thi sĩ của “Đất Nước” - đã hòa quyện truyền thống dân gian với tư duy hiện đại, khắc họa hình tượng đất nước từ những điều bình dị của nhân dân. Từ thơ thời chiến đến Cõi lặng, ông luôn lao động nghệ thuật bền bỉ, giữ giọng thơ trầm tĩnh, nhân văn và trách nhiệm công dân sâu sắc.

 

 

Làm mới tư tưởng bằng chất liệu truyền thống

Nếu phải tìm một đặc điểm lớn nhất làm nên phong cách Nguyễn Khoa Điềm, đó có lẽ là khả năng kết tinh văn hóa dân gian, truyền thống vào mạch thơ hiện đại một cách tự nhiên và sáng tạo. Ông không xa rời cội nguồn, mà biết cách “hiện đại hóa truyền thống”, đem lại một tư duy mới, một diện mạo mới cho thơ ca dân tộc.

Điều này được thể hiện rõ nét nhất trong chương Đất nước thuộc trường ca Mặt đường khát vọng (1971). Ở đây, “Đất Nước” không còn là một khái niệm trừu tượng, xa vời, mà hiện lên thật cụ thể, sống động từ những điều giản dị nhất:

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc...
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm...”

Ông dẫn dắt người đọc đi từ huyền thoại “chim về, rồng ở”, từ phong tục ăn trầu, búi tóc, đến tình nghĩa vợ chồng “gừng cay muối mặn”, từ những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái đến cả “con cóc, con gà” góp phần làm nên thắng cảnh. Đất Nước trong thơ ông là của nhân dân, do nhân dân làm ra, gìn giữ và truyền trao qua từng thế hệ - “Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Cách viết hoa hai chữ “Đất Nước” của ông là một sự chủ ý, một sự tôn vinh đầy thành kính dành cho danh từ thiêng liêng ấy.

Giọng thơ Nguyễn Khoa Điềm không hô hào, khoa trương, mà thủ thỉ, tâm tình, đầy chất tự sự và chiêm nghiệm. Ông nói về những điều lớn lao bằng một thứ ngôn ngữ “dễ hiểu” nhất, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày, nhưng lại chứa đựng những tầng vỉa văn hóa và tư tưởng sâu sắc. “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” là một ví dụ xuất sắc khác. Hình ảnh “Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng” đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ về tình mẫu tử, về ước mơ tự do và sự gắn kết giữa số phận cá nhân với vận mệnh đất nước.

 

 

Khát vọng đổi mới và sự trầm tĩnh của Cõi lặng

Sau năm 1975, với những trọng trách lớn trong bộ máy lãnh đạo đất nước, thời gian dành cho thơ của Nguyễn Khoa Điềm trở nên ít ỏi. Nhưng ngọn lửa thi ca trong ông chưa bao giờ tắt. Năm 1986, ông cho ra mắt tập Ngôi nhà có ngọn lửa ấm và đặc biệt, sau khi nghỉ hưu, ông đã trở lại đầy mạnh mẽ với tập Cõi lặng (2007).

Nếu thơ thời chiến của ông sục sôi khát vọng và hướng ngoại, thì thơ thời bình, nhất là trong Cõi lặng, lại quay về với chiều sâu nội tâm, với những suy tư, trăn trở về thời cuộc, nhân tình thế thái. Ông chiêm nghiệm về sự đổi thay của xã hội, về những mặt trái của cuộc sống hiện đại, về sự cô đơn và khát khao hòa hợp với thiên nhiên. Giọng thơ trầm tĩnh hơn, triết luận hơn, nhưng vẫn giữ được vẻ điềm đạm, sâu lắng đặc trưng.

Bài thơ Nói với các nhà văn quá cố là một minh chứng cho tầm suy tưởng mới: “Giấy phải làm ra chữ/ Kẻ đến sau lại phải vun trồng/ Cho đến chết với từng hạt, từng hạt”. Ông ví công việc của người cầm bút như người cày ruộng, phải lao tâm khổ tứ, vun trồng từng “hạt chữ” trên thửa ruộng ngôn ngữ nhiều khi “mất mùa”. Đó là một sự tự ý thức nghề nghiệp sâu sắc và đầy trách nhiệm.

 

Nhân cách người cầm bút: Sự khiêm nhường và bản lĩnh

Điều khiến người ta yêu mến và kính trọng Nguyễn Khoa Điềm không chỉ ở thơ ca, mà còn ở nhân cách. Dù từng ở cương vị rất cao, ông vẫn giữ một phong thái nhu mì, khiêm nhường, cởi mở.

Khi bài thơ Đất Nước được đưa vào đề thi tốt nghiệp THPT, ông không bình luận nhiều, mà chỉ nói: “Hãy để người trẻ tự cảm nhận, tự suy nghĩ về Đất Nước. Tôi nghĩ cần tôn trọng những cảm nhận đó”. Ông tin vào sự độc lập trong tư duy và tình yêu tự nhiên của thế hệ trẻ dành cho quê hương.

Với các nhà văn trẻ, ông khuyến khích sự dấn thân, sáng tạo, nhưng cũng nhắc nhở về trách nhiệm xã hội. Ông cho rằng bản chất của nghệ thuật nằm ở nội lực của chính người nghệ sĩ: “Nếu anh không đủ nội lực để sáng tạo... thì có một trăm sự giúp đỡ bên ngoài cũng vô ích thôi”. Đồng thời, ông mong muốn có một “khát vọng mới” trong giới trẻ, một khát vọng xây dựng đất nước trong bối cảnh mới đầy thách thức và cạnh tranh.

 

Bài học lao động nghệ thuật: “Thơ là lẽ phải thầm lặng”

Hành trình sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm để lại nhiều bài học quý giá. Thứ nhất, đó là sự lao động nghệ thuật nghiêm túc, kiên trì. Ông viết bài thơ Đất ngoại ô trong suốt một năm trời, và bản thảo đầu tiên của Mặt đường khát vọng từng bị bom đánh bay tung. Ông đã ngồi viết lại từ đầu với một sự kiên nhẫn đáng nể.

Thứ hai, ông chứng minh rằng một nhà thơ có thể vừa phụng sự cách mạng, vừa tôn vinh những giá trị nhân văn phổ quát. Thơ ông nói về tự do không chỉ như mục tiêu chính trị, mà còn như khát vọng bản thể của con người: “Mai sau con lớn làm người tự do”.

Cuối cùng, và có lẽ quan trọng nhất, Nguyễn Khoa Điềm tin rằng thơ ca phải chạm đến phần hồn con người, thức tỉnh những điều tốt đẹp và cả những u uẩn. Thơ, với ông, là công cụ để “chăm sóc phần hồn”, để gìn giữ lẽ phải một cách thầm lặng mà bền bỉ. Như một nhà phê bình đã viết: “100 năm sau, những ai còn đến với Nguyễn Khoa Điềm... sẽ đến với ông trên muôn nẻo đường trường của dòng thơ không bao giờ tắt lửa.”

Trong làng văn, hình ảnh Nguyễn Khoa Điềm hiện lên như một cây đại thụ có gốc rễ bám sâu vào văn hóa dân tộc, tán lá vươn ra đón nhận những luồng gió mới của thời đại. Ông đã biến tình yêu Đất Nước từ một tình cảm thiêng liêng thành một hình tượng nghệ thuật gần gũi, ấm áp, đi thẳng vào trái tim triệu người. Hành trình từ Đất ngoại ô đến Cõi lặng của ông không chỉ là hành trình của một đời thơ, mà còn là hành trình của một tâm hồn luôn trăn trở, vun trồng và gìn giữ những “hạt chữ” tinh túy nhất cho đời. Ở đó, Nguyễn Khoa Điềm mãi mãi là người thi sĩ điềm đạm, mang trong mình “tiếng vang của phong nhã”, và một niềm tin vững chắc rằng: “Chỉ có thơ/ Làm lẽ phải thầm lặng.”

Lê Ngọc Tú

Nguồn: Tạp chí VHNT số 635, tháng 2-2026

Bài viết liên quan

Xem thêm
Quầng sáng tinh thần trong truyện ngắn Nguyễn Trường
Bài đăng Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 216, ngày 9/7/2026
Xem thêm
Theo năm tháng đi...
Bài viết “Theo năm tháng đi” của nhà thơ Hoàng Quý sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm vê miền thơ lấp lánh của Hà Đình Cẩn, mảng sáng tác phong phú nhưng chưa thật nhiều người biết.
Xem thêm
Cầm súng, cầm bút bằng niềm tin, lẽ sống
Nhân chuyến công tác tại Hà Nội, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng, nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 (hiện sống tại phường Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện thú vị. Suốt hơn hai giờ đồng hồ, những câu chuyện của một thời lửa đạn cứ thế ùa về không dứt trong giọng kể trầm ấm và trí nhớ mẫn tiệp của một người lính dày dạn trận mạc đã ở độ tuổi xưa nay hiếm.
Xem thêm
Cố Thượng tướng Phùng Thế Tài được đặt tên đường ở TP. Nha Trang và TP. Lào Cai
Năm 2022, tại TP. Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa), TP. Lào Cai (tỉnh Lào Cai) và một số khu đô thị ở các tỉnh thành khác, các đường phố giao nhau được đặt tên theo một số tướng lĩnh quân đội, trong đó có cố Thượng tướng Phùng Thế Tài.
Xem thêm
Nhạc sư Vĩnh Bảo và hành trình trao truyền gia tài văn hóa Việt
Việc am tường cả âm nhạc Tây phương cùng kinh nghiệm đóng đàn thực tế hơn 60 năm qua đã giúp ông tạo nên những nhạc cụ thương hiệu Vĩnh Bảo độc nhất vô nhị. Mỗi cây đàn do ông làm ra, từ khâu chọn thớ gỗ, xử lý hợp âm đến việc đục khe “thở” đều được tính toán tỉ mỉ như một công trình kiến trúc âm thanh. Chính cố Giáo sư Trần Văn Khê trong hồi ký từng thán phục rằng cây đàn tranh bằng gỗ Kiri mà Nhạc sư Vĩnh Bảo đóng cho ông có âm thanh tuyệt hảo đến mức quá “thượng thừa” mà các chuyên gia âm thanh học người Pháp cũng phải trầm trồ, thán phục.
Xem thêm
Lại Văn Long - Ngòi bút lửa!
Những tháng ngày lăn lộn trong nghề báo nhiều nguy hiểm, nhà văn Lại Văn Long đã trải qua đủ cung bậc cảm xúc. Nhưng anh vẫn yêu nghề mãnh liệt và ước mơ sau này anh sẽ có những cuốn sách, những thước phim phản ánh được cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm rất cam go, nguy hiểm nhưng đầy tính nhân văn của lực lượng Công an Nhân dân. Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng nghiệp vụ 6 tháng ở Đại học An ninh; anh càng tin rằng mình sẽ hoàn thành được ước mơ đó!
Xem thêm
Nhà giáo, nhà thơ Huệ Triệu
Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, có thể kể đến các chị: Đặng Nguyệt Anh, Tôn Nữ Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Thanh Long, Huệ Triệu… Nét nổi bật trong thơ của các nhà sư phạm phái đẹp là sự đằm sâu, với nhiều tìm tòi mới mẻ, song vẫn giữ được sự điềm đạm, và đầy trách nhiệm công dân.
Xem thêm
Nhà văn Xuân Phượng - Một bản lĩnh “chân cứng đá mềm” trong sáng tạo và trong cuộc đời
Có những cuộc đời mà khi soi vào, chúng ta không chỉ thấy chiều dài của thời gian, mà còn thấy cả chiều sâu của lịch sử, chiều rộng của một tâm hồn và tình yêu vô bờ bến của một trái tim.
Xem thêm
Người đi vắng của văn chương
LTS: Nguyễn Bình Phương là gương mặt đặc biệt của văn chương đương đại, lặng lẽ, kiệm lời, gần như luôn đứng ngoài những ồn ào của văn đàn. Trong cái nhìn của nhà văn Phạm Ngọc Tiến, ông là “người đi vắng” ở các đám đông, nhưng lại hiện diện bền bỉ và khác biệt trong từng trang viết.
Xem thêm
Phạm Thiên Thư: Người đi tìm bụi đỏ đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Chiều tối, lúc 18h24 phút, Báo Giác Ngộ Online - Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7/5/2026”.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm