- Bút ký - Tạp văn
- Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.

Người gác tàu trong đêm. Ảnh nguồn internet
Hôm nào họ cũng về nhà muộn. Người ta bảo rằng họ vẫn thức trắng đêm ở ngã tư ấy.
Cùng với tiếng chuông báo hiệu đầu tiên của những chuyến tàu hiện về trong tôi một hình ảnh từ thời thơ ấu: tiếng còi tàu. Nhưng cái làm tôi quan tâm hơn là những hành động dứt khoát của họ, khi họ trong trang phục màu xanh lam giản dị, tay cầm cờ hiệu và chiếc cần chắn gỗ.
Hai giờ sáng tôi đến chỗ gác chắn để gặp họ. Người ta nói, "Họ vẫn đứng đó". Tôi bước vào trong và chờ đợi. Vài giờ sau, khi tôi quay trở lại con phố sầm uất và náo nhiệt trên đường Lê Duẩn, ngày trước giờ tàu chạy, những con đường của Thủ đô vắng hoe, mưa lướt sướt, và cửa sổ của các biển hiệu lờ mờ sáng với những dòng người đi qua trước mắt mà tôi đã nhìn thấy họ từ nhiều năm nay trông giường như lúc nào cũng trở tất bật hối hả.
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Buổi tối, chúng tôi trên đường từ Giải Phóng để chuẩn bị về nhà. Khi mọi người và dòng xe cộ trong phố nhỏ của Thủ đô, tôi mới nhận ra mình đang ngồi lọt lỏm trong trạm gác chắn với người đàn ông trước đồng hồ và mấy chiếc ghế ngồi. Lúc đó người gác chắn bảo tôi rằng anh chờ chuyến tàu đi qua nên hẹn gặp tôi vào hôm khác.
"Làm sao để biết giờ tàu chạy", tôi hỏi anh ấy. Không suy nghĩ gì, và trong tâm trạng lo lắng với chính mình, anh bắt đầu kể cho tôi nghe về công việc. Họ kể với tôi rằng nghề gác chắn này là một niềm vui nhỏ, và quan trọng hơn tất cả, họ yêu nó. Đường phố bắt đầu đông hơn. Dòng người hối hả, náo động. Những ngã tư nửa xanh nửa vàng đổ bóng xuống con đường Thủ đô đã mất vẻ bình yên, im ắng của ngày thường; ngọn đèn dầu trên tay họ phát ra một thứ ánh sáng lạ kỳ. Trong khi tôi ngắm nhìn họ, một làn gió mạnh lùa vào sống lưng làm chúng tôi choàng tỉnh giấc, dường như đã không còn có thể nghe thấy tiếng kêu xìch xịch của đoàn tàu đang chầm chậm lao tới với tốc độ ánh sáng làm rung chuyển các thanh ray và lớp đá dằn lan ra mọi vật xung quanh, và hình ảnh này làm tôi xúc động, như đôi vai gầy tong teo của chính họ.
Khi biết rõ còn mấy giờ nữa tàu mới đến, người gác chắn, lúc này đã nói với tôi rằng công việc không cho phép họ nghỉ ngơi, dù ngày nắng hay ngày mưa, mùa đông hay mùa mưa bão buồn và đầy lo lắng, không tài nào ngủ được. Những gì họ kể với tôi, họ không kể với ai khác. Nhưng một lần gặp họ, nhìn gương mặt mệt mỏi, ánh mắt thâm quầng vì những đêm mất ngủ, làn da sạm đi vì rám nắng, điều này cùng tôi trở về trong cùng một ký ức và nỗi niềm kính trọng thầm kín. Nếu tôi không tôn vinh hình ảnh đẹp đẽ này, nó sẽ mất đi và chẳng ai còn biết nữa.
Họ nói với tôi rằng, "Họ chưa bao giờ có ý định từ bỏ nghề này, chưa bao giờ chán nản, chưa bao giờ muốn rời xa," tôi nghĩ rằng họ đã đúng. Tôi không bao giờ nói hết những hành động vi tế mà họ gặp phải trong cái nghề cao cả thầm lặng của họ. Khi còn nhỏ, cô giáo tôi đã đọc cho tôi nghe bài thơ "Ngọn đèn đứng gác" của Chính Hữu với lối miêu tả đầy ngưỡng mộ nhiệt thành; khi lên đại học, một thầy giáo dậy môn phóng sự cũng kể về xuất xứ và hoàn cảnh ra đời bài thơ bất hủ đó như một kiệt tác văn chương; thầy sẽ cười trìu mến không ngớt nói về những ý thơ đầy lãng mạn và ánh sáng niềm tin truyền cho nhau một tinh thần cảnh giác tột đột. Nhưng hôm nay nếu không được một lần chứng kiến công việc đầy gian khó và thầm lặng của nhân viên cán bộ ngành đường sắt, có thể sẽ có rất nhiều người gặp phải những tình huống nguy hiểm khi băng qua điểm giao thông ấy, để trở về nhà một cách an toàn. Sự hy sinh không có vẻ gì to lớn của họ đối với nghề, cách họ vượt qua nỗi ám ảnh thường trực mỗi đêm khiến bất cứ ai cũng động lòng và tôi nghĩ rằng họ là những người canh giữ bình yên và là bức tường kiên cố, nó xuất phát sự tin tưởng vào tình yêu chân chính với nghề nghiệp của chính họ. Theo cách nhìn nhận khách quan của tôi và mọi người, thành thực mà nói rằng họ chắc chắn đẹp đẽ, cao cả, rắn rỏi như bông hoa thép, đơn giản vì họ là những người chịu đựng được sự cô đơn.
Họ là người tử tế tốt bụng: Họ có thể ngay lập tức thuộc nằm lòng số giờ chạy của những chuyến tàu, gặp phải những tình huống dở khóc dở cười, thức trắng hàng nghìn đêm, hoặc đoán đúng chính xác thông số lịch trình các chuyến tàu cố định mà họ không được lơ là và xao nhãng. Họ lúc nào cũng cần mẫn, họ làm việc hai mươi tư tiếng mỗi ngày cho thấy họ hy sinh như thế nào. Ví dụ, họ thích kể cho tôi nghe chuyện khi họ vượt qua áp lực cuộc sống riêng tư gia đình, với những ngày trở về nhà muộn, làm thế nào mà mỗi một người trong số họ không cảm thấy chán nản vào lúc chẳng có ai bên cạnh, và cách mà - sau khi một chuyến tàu đi qua êm ái mà không một ai trong số những người đó đi qua bị làm sao thì giao thông được đảm bảo "thông suốt"-họ sẽ quay sang nói với nhau, "Vậy là tốt rồi!". Trước việc làm thầm lặng ấy, tôi thấy có phần chạnh lòng giữa một đời sống hối hả và niềm mong ước được quan tâm hơn đối với họ.
Tôi cũng có thể nói như vậy về công việc của họ như một người giữ nhịp an toàn tuyệt đối. Ai cũng nói họ cô đơn, trừ mỗi việc họ về nhà muộn. Như cái lá chắn thép sừng sững giữa đêm ngày (người ta gọi họ thế) giữ bình yên cho mọi người mà họ chưa bao giờ cảm thấy chán nản bất chấp mọi nghịch cảnh trong cái nghề đặc thù, vẻ bình thường giúp họ sống một đời sống cống hiến và vui vẻ, tình nguyện, nên ngay cả trong những đêm đông giá buốt hay ngày hè nóng nực nhất họ vẫn lạc quan một cách phi thường, can đảm với những hành động tốt đẹp và một tinh thần tự nguyện không hề lay chuyển, không hề đòi hỏi. Với họ, công việc gác chắn đường tàu không chỉ để sống mà là để được an toàn. Tính mạng của mỗi người không chỉ đơn thuần là trách nhiệm, mà là nghĩa vụ, là cam kết, và ngay cả khi không ai hiểu mình hơn mình, họ vẫn không cảm thấy nản lòng trước những nghịch cảnh của thời tiết, nắng mưa và với tính cách kiên trì mà họ làm trọn mọi bổn phận mỗi ngày càng khiến tình yêu và trách nhiệm của họ được nâng lên tới mức họ có lẽ đã quên cả tính mạng mình. Nhưng, cũng như trong mọi tình huống nguy cấp khi tàu đến, họ không lãng phí bất cứ thời gian rảnh rỗi nào trong ngày mà họ lo lắng về vấn đề đi lại và giúp mọi người trở nên an toàn hơn. Họ có thể gác lại công việc bề bộn của gia đình mà thoải mái làm việc lúc họ thức suốt đêm trắng không so bì với bất kỳ ai, hay vấn đề có lúc mang lại cho họ rắc rối. Nên ngay cả khi họ tận dụng hai mươi tiếng trong ngày từ cuộc đời mình, khó khăn kế tiếp khó khăn, tôi chưa bao giờ thấy họ vắng mặt trên vọng gác. Khi chưa kết thúc ca trực, có lần họ vẫn ăn bữa cơm đạm bạc hay mì tôm với nhau một cách ngon lành ấm áp, sau này khi tôi trò chuyện với họ, họ vẫn lạc quan một cách yêu đời, "Chúng tôi không biết mệt mỏi là gì!"
Tính cách lạc quan có phần hơi đặc thù của một nhân viên ngành đường sắt khiến họ có lúc rơi vào tình huống nguy cấp và ám ảnh. Dù cho họ không có những phút giây an nhiên bên gia đình, không có mức thu nhập cao, và từng mang tai mang tiếng vì cứu người trong lúc gặp nạn, họ vẫn nói với tôi là họ cảm thấy niềm vui như nhân lên trong cái nghề phụng sự của mình và lúc nào cũng tin tưởng sẽ làm tốt mỗi ngày, nên sự nhàm chán lặp đi lặp lại mười hai tiếng không rảnh rỗi chưa bao giờ làm khó được họ. Đôi khi dụng cụ làm nghề của họ chỉ đơn giản là cờ hiệu, còi tay, đèn tín hiệu và sổ nhật ký trực ban, nhưng đằng sau nỗi vất vả đó, họ vẫn vui vẻ làm hết mình. Tuy nhiên họ không xem công việc đó là vô ích, chẳng mang lại lợi ích tốt đẹp gì cho đời sống và mong muốn nhiều hơn vì lương bổng, họ làm việc như một niềm vui, hay để phụng sự hết mình, và nhiều khi có lúc họ cũng muốn chuyển nghề hay bỏ dở giữa chừng. Trong khi tất cả mọi người đều được đi lại tư do, được vui vẻ bên gia đình hay đi du lịch, vui chơi thoả thích, thì họ lại nói với tôi rằng họ không có được phút giây riêng tư đó, (luôn luôn xem việc cảnh báo trước mỗi chuyến tàu là nhiệm vụ tối thượng), những hành động đẹp đẽ đó gây ấn tượng mạnh với tôi. Nhiều lần gặp gỡ họ, chẳng hạn như chị Dung, anh Hưng (Một người mà tôi gặp ở Đường Giải Phóng - Nguyễn Hữu Thọ hôm ấy và là một điểm nút giao thông đông đúc của thành phố, trong trung tâm) với những ca trực đêm dài thăm thẳm ở trạm gác, họ vẫn tươi cười kể cho tôi nghe về những kỷ niệm vui buồn với những chuyến tàu xuôi ngược mà đôi khi họ được giao cho trách nhiệm ấy, khi chị Dung chuyển sang câu chuyện về gia đình, tôi đã đặt câu hỏi "Tại sao chị lại không từ bỏ cái nghề nhàm chán và tẻ nhạt này", Mười hai tiếng đều đặn tiễn biệt hàng trăm hàng nghìn chuyến tàu mỗi năm, họ vẫn không hề đòi hỏi bất cứ thứ phần thưởng nào cho dù chỉ có mỗi trong tay một cuốn sổ nhật ký trực ban và chiếc đèn báo bão nhỏ. Tôi biết rất rõ tại sao, chỉ khi gắn bó với những chuyến tàu, những đêm muộn, lời cảnh báo và những giấc ngủ chưa kịp ấm lên thì lại có tiếng thúc giục từ trung tâm của họ, tôi cảm thấy họ thật tuyệt vời: Đó là hành động cao đẹp - là phụng sự - của những con người lao động miệt mài. Họ không muốn bất cứ ai phải là những người bị nạn, họ muốn mỗi người đi qua và trở về nhà được an toàn vào lúc ban ngày hay lúc ban đêm mà ai cũng ước nguyện.
Tôi thích những nụ cười khi họ dẫn tôi đi xem mỗi chuyến tàu, và tôi thích thú lắng nghe họ bàn luận về những vui buồn trong công việc thường ngày với trách nhiệm lo lắng cho an toàn của cuộc đời khác; tôi yêu thích hành động và những tiếng nói đùa trong ca trực của họ về tình huống bất ngờ xảy đến, chẳng hạn khi người dân gặp nạn, không có ai cũng nói được lòng mình bằng như thích nghe họ nói về sự bình yên của mỗi chuyến tàu, nút giao điểm không bao giờ vắng họ, hay tin tức giờ tàu chạy, hay một phút cứu người trong tích tắc; nhưng trên tất cả tôi thích được ngắm nhìn họ nắm tay người qua đường với lời nhắc nhẹ nhàng êm tai. Tôi thích được nhìn thấy họ với chiếc chuông đèn cảnh báo trên những ngã tư đông đúc, bởi vì, trong tư thế này, ít nhất cứ mỗi chuyến tàu băng qua một lát tôi có cảm tưởng họ cẩn trọng và bền bỉ đến mức không hề đánh mất con mắt quan sát tỉnh tảo của mình. Khi phố phường đông hơn, chúng tôi không thể nhìn thấy họ lẫn trong dòng người bất tận đó, như thể họ không thể nói chuyện với tôi, ngay cả cái khoảng lặng yên bình cũng còn không có. Sau một cử chỉ, họ dừng lại cẩn trọng trở vào trong với cuốn sổ trực ban, điện thoại, thiết bị phòng vệ, bật chế độ cảnh báo, rồi báo cáo với cấp trên về lịch trình để có kế hoạch đón những chuyến tàu trong những lần kế tiếp.
Nhưng tôi thích nhất được nghe tiếng tàu chạy về đêm, chiếc đèn pha rực sáng như con mắt giữa ban ngày, ở ngay cạnh chỗ đi qua. Khi còn là một sinh viên lên thành thị học tập, và ngay cả những năm đầu đại học, trong những ngày buồn bã và chán ngắt, bất chấp trời mưa, tôi thường ngồi trên phố ngắm tàu chạy, ngồi nói chuyện với người gác tàu và trở về, và cảm nhận một thứ năng lượng gì đó nơi họ đã vực dậy tinh thần trong tôi. Khi ngồi cạnh họ, tôi thích cái phong cách nói chuyện vồn vã của họ hay bàn tay chai sần trên cánh tay họ, dường như nắng gió đã thấm vào đời họ, cuộc đời họ. Tôi nhớ trong cuộc gặp gỡ gần nhất họ đã dạy tôi cách làm sao để nhận biết một chuyến tàu sắp đến. Khi tôi ngồi trong căn phòng nhỏ ở trạm gác, đủ thứ bút, sách, điện thoại, nhật ký, họ sẽ thết đãi tôi bát mì tôm mà họ luôn ăn vội trong giờ trực đầy kỷ luật, không chỉ vì tôi có thể đồng cảm với công việc của họ mà còn vì tôi có thể bỏ thời gian mà cùng ngồi trò chuyện và giật bắn mình khi từ xa một tiếng còi hú đang vọng lại, "Tàu, có tàu qua đường ngang!".
Nhưng họ không trễ nải công việc bao giờ. Họ vẫn đứng đó, đón những chuyến tàu khác, những đêm ở vọng gác cô đơn, những ngã năm ngã tư đầy chướng ngại nguy hiểm với dòng người đông như ong vỡ tổ. Khi họ cầm chiếc cờ hiệu phất lên, có lúc ánh mắt họ sẽ giữ được sự tỉnh táo cần thiết và công việc của họ sẽ lại được trôi chảy bình thường. Đôi khi tôi biết, bên trong cái vẻ phong trần của những con người không có gì nổi bật mà tôi biết là hy sinh, có một cuộc đời khác đang không có niềm vui riêng tư mà tôi không thể diễn tả bằng lời, và nghĩ rằng họ đang mơ ước về vấn đề an toàn của mọi người, tôi trở nên nhỏ bé trước họ. "Họ như những người canh giấc ngủ không cần nguyên cớ", đôi khi họ tự nhận mình như thế. Tự nhiên trong tôi cảm thấy một niềm kính trọng vô bờ bến. Có khá nhiều người đã thoát khỏi hiểm nguy trong đó có tôi. Tôi không biết ai trong số những họ đã được cứu sống. Có lẽ đến lúc đó chúng tôi khi rơi vào tình huống ngặt nghèo đó cũng mong muốn thoát hiểm. Nhưng tôi vẫn thích ngắm nhìn cái cách mà họ đứng giữa bình minh, say sưa điều hành lịch trình của mỗi chuyến tàu bằng lòng trắc ẩn nhiệt huyết. Họ chỉ rảnh rỗi khi, một giờ làm việc trong niềm vui và không lảng tránh trách nhiệm, họ không bao giờ than thở rằng đứng gác như thế thì sẽ đem lại được lợi ích và bắt đầu làm việc hăng hái hơn. Những hai mươi tư giờ của một ngày trôi qua, có khi họ sẽ vẫn tự nhủ "An toàn cho tính mạng mỗi người là điều trên hết." Có những tình huống nguy hiểm khác tôi lại thấy họ tự an ủi để vượt qua vì trách nhiệm, niềm tin, hạnh phúc và xử sự như một điều tử tế
Mãi về sau này, khi gác tất cả những bộn bề ấy lại, khi chỉ có một mình và cô đơn trong đêm tối hay giữa bình minh của ngày mới, mọi thứ không còn làm khó được họ cho đến khi tôi nhìn những con người tận tuỵ ấy chưa bao giờ chán nản, chưa bao giờ khước từ trách nhiệm, tôi từ từ cảm thấy - và kính trọng - cho dù nhiều lúc họ phải đánh đổi sinh mệnh và lời chỉ trích. Nên bây giờ, mỗi khi tôi băng qua một đoạn đường khó nào đó, hay chứng kiến một cuộc cãi vã và ẩu đả trên đường phố, một ca tai nạn giao thông bất ngờ, hay tiếng khô khốc của những tiếng còi tàu chát chúa, những đêm về nhà muộn, bị lạc đường, hay chào đón giao thừa bên gia đình yêu thương, tôi nhận thấy mình đã may mắn hơn họ. Điều này bởi vì có giọt nước mắt, mồ hôi của họ những người đứng gác trong đêm cứ cố giấu giếm vào trong đến nghẹt lại. Mà hơn thế đó là điều gì đó thật đẹp đẽ, cao thượng - thậm chí đáng tôn vinh - và nhắc nhở mỗi người về những hành động đi đường văn minh khi được trở về nhà an toàn thực sự trong niềm hạnh phúc may mắn. Sự bình yên của mỗi chuyến tàu đều bắt đầu từ những ngọn đèn không tắt, những con người đứng giữa bình minh.
V.M.P