TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền

Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-28 17:27:18
mail facebook google pos stwis
15 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo. 

 

Tác giả bên bia di tích lịch sử quốc gia Pha Đin. Ảnh tác giả cung cấp

 

Tôi đã đi qua rất nhiều đèo, từng vài ba lần rẽ mây mở lối trên cung đường Pha Đin nhưng thú thực chưa bao giờ thấy chán. Chẳng những thế, mỗi lần qua đèo là một lần trong tôi xuất hiện những cảm hứng bất tận. Khi thì vừa thót tim, vừa thích thú bởi những khúc cua chữ A, chữ Z quanh co liên tục, với một bên là vách núi chênh vênh và một bên là vực sâu thăm thẳm. Khi thì đắm chìm trong cảnh sắc huyền ảo giữa mây ngàn gió núi của mùa hoa Tây Bắc. Và cũng có lúc không khỏi lặng người, trầm ngâm để ký ức ngược dòng thời gian trở về những “ngày máu trộn bùn non” trên toạ độ lửa “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” của hơn bảy mươi năm về trước. Cứ vậy, không biết từ khi nào, con đường Pha Đin ấy trong tâm trí tôi hiện lên không chỉ đơn giản là một cung đèo địa lý, tuyệt tác của thiên nhiên; mà hơn thế, nó còn là một trang sử hào hùng và sống động, chứng nhân lịch sử của trận đánh gây “chấn động địa cầu” trong thế kỷ hai mươi.

Nhớ lại, năm 2007, lần đầu tiên tôi được đặt chân lên đỉnh Pha Đin giữa cái lạnh tê tái của mùa dã quỳ Tây Bắc. Ngày ấy, tôi vượt đèo trên tuyến Quốc lộ 6 cũ - con đường huyền thoại gắn liền với một giai đoạn oanh liệt của dân tộc: “Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Đứng trước ngọn đèo lịch sử vốn được mệnh danh là một trong những vua đèo ở miền Bắc, nằm trong tốp “tứ đại đỉnh đèo” nên tâm trạng tôi không khỏi trào dâng bao niềm háo hức. Chính nhờ nguồn năng lượng ấy mà tôi đã quên đi những mệt mỏi của dặm trường xa xôi, từ Hà Nội qua Hoà Bình đến Sơn La và băng qua “đỉnh trời” để chạm ngõ Điện Biên. Có lẽ, chuyến viễn du đầu tiên về mảnh đất lịch sử Điện Biên, được đứng giữa đỉnh trời lộng gió nên những ký ức trong tôi rất khó phai mờ. Đoạn đường ba mươi hai cây số nối hai chân dốc, từ Sơn La sang Điện Biên quả là một cung đèo ngoạn mục. Tám tầng dốc lên lên xuống xuống, uốn lượn ngoằn ngoèo, với liên tiếp các khúc cua tử thần khiến cho kẻ yếu tim chỉ biết nhắm mắt phó thác số phận cho người cầm lái. Trái lại, với những người ưa mạo hiểm, thích xê dịch thì nơi này lại mở ra một cơ hội trải nghiệm cho muôn vàn cảm xúc trái ngược nhau, khi thì sợ hãi lúc lại phấn khích. Chúng đan xen và hoà trộn vào nhau trong cái nhìn đầy choáng ngợp trước cảnh tượng đất trời vừa thâm nghiêm, bí hiểm vừa hoang sơ, hùng vĩ.

Khi xe lên đến đỉnh đèo, mấy anh chị em chúng tôi đã tấp vào một quán nhỏ bên đường uống nước. Chúng tôi dừng lại không phải vì mệt mỏi sau chặng đường dài, mà chính là để được chiêm ngưỡng bức tranh mùa đông Tây Bắc trên đỉnh đèo huyền thoại. Dường như trời càng lạnh cây dã quỳ càng cứng đanh lại hơn. Cái lạnh tê tái như lặn sâu vào trong từng cánh hoa khiến cho sắc vàng tươi của loài hoa dại này càng thêm đậm đà, rực rỡ. Ngồi trong quán nước, mắt tôi hướng về phía xa xa, xuống dưới thung lũng trước mặt, thấy hiện ra những nếp nhà sàn của bản người Thái, nhà mái gỗ của người H’Mông mờ mờ, ảo ảo trong sương. Thế rồi, bên làn khói nghi ngút bốc lên từ chén trà vừa rót, bà lão bán hàng kể cho tôi nghe câu chuyện cổ tích về con đèo. Theo câu chuyện kể, tôi biết được rằng, người Thái ở Sơn La và ở Lai Châu cũ (nay là Điện Biên) từng tranh nhau con đèo. Thế rồi họ thống nhất giải quyết tranh chấp bằng cách chọn hai trai tráng khoẻ mạnh và hai con ngựa thật tốt và phi lên đỉnh đèo từ hai chân dốc ở hai bên. Chỗ hai con ngựa giao nhau sẽ là biên giới vĩnh viễn của hai bên. Theo đó ngựa của chàng trai bên Lai Châu phi nhanh hơn nên phần đèo ở phía Lai Châu dài hơn bên phía Sơn La. Quả là một sự giải thích rất hồn nhiên nhưng đầy thú vị. Sự hồn nhiên ấy cũng hé lộ cho ta thấy tư duy lập địa của người bản xứ từ thời xa xưa ở trên miền đèo cao này: người ta đo chiều dài, sự hùng vĩ và hiểm trở của núi đồi, đại ngàn bằng sức trai tráng và tốc độ của vó ngựa phi.

Rồi tám năm sau, năm 2015, tôi lại lên Điện Biên qua Quốc lộ 6. Lần vượt ngàn này tôi đi vào mùa hoa ban. Khi ấy, ăn tết xong khoảng chừng hơn một tháng, tôi lên chơi Mộc Châu nhưng lỡ phải lòng sắc ban của Điện Biên từ trước nên lại rủ nhau vượt đèo Pha Đin cho thoả thuê con mắt. Hành trình Điện Biên lần này tôi không theo đường 6 cũ trên đèo mà đi theo con đường hạ cốt mới mở vừa thông đường cách vài năm trước, khoảng năm 2009. Theo con đường này, hành trình vượt đèo rút ngắn được khoảng sáu cây số, theo đó những khúc cua chữ A, chữ Z cũng được giảm xuống khá nhiều, từ một trăm hai mươi lăm đoạn cua quanh co, nguy hiểm xuống còn khoảng sáu mươi khúc. Đường mới đi an toàn hơn, mặt đường trải nhựa êm ru và rộng hơn rất nhiều. Đặc biệt dốc không còn cao như dựng ngược ở trên đường cũ. Nhưng kỳ thực, đi để biết thôi, còn trong thâm tâm tôi vẫn thích vượt đèo trên con đường cũ bởi mỗi lần ôm cua là một lần thú vị. Hơn thế nữa, đứng trên đỉnh đèo nằm trên cao độ xấp xỉ một ngàn sáu trăm năm mươi mét so với mực nước biển người ta thích thú bởi cái cảm giác chinh phục. Mới biết thế nào là Phạ Đin nơi gặp gỡ đất trời, trong tiếng Thái, từ “Phạ” nghĩa là trời, “Đin” nghĩa là đất. Pha Đin là nơi tiếp giáp giữa trời và đất. Nhưng đổi lại, đi trên đường mới mở, ngắm nhìn bản làng suốt dọc đường đi lòng tôi dấy lên sự gần gũi và ấm áp hơn rất nhiều, sự sống của con đèo không còn heo hút như chuyến đi lần trước. Đặc biệt, lần đi này, chúng tôi không được đi trong làn sương mờ ảo, không được ngắm nhìn biển mây bồng bềnh, trắng xoá dưới thung lũng Ẳng Nưa nhưng được mãn nhãn với màu đỏ rực rỡ như đốt trời của hoa mộc miên hoà trong sắc trắng miên man của loài hoa đặc trưng trên núi rừng Tây Bắc. Tôi đi đúng mùa hoa, được ngắm nhìn sắc màu tinh khôi phủ trên khắp các sườn núi, dọc các cung đèo mà lòng không khỏi mê mẩn. Màu trắng của hoa ban hoà cùng sắc xanh của cây rừng, sắc đỏ của hoa gạo hoà vào những nếp nhà truyền thống của người bản địa đã khiến cho những khúc cua quanh co, hiểm trở như tử thần cũng trở nên uyển chuyển và thi vị hơn rất nhiều. Những sắc màu ấy như vẽ nên một bức tranh thơ mộng và quyến rũ rất đặc trưng của vùng cao Tây Bắc.

Sau hành trình thưởng ngoạn sắc hoa năm 2015, bẵng đi mười một năm, tháng bảy vừa rồi tôi mới trở lại Điện Biên. Đích đến của chuyến đi này là chinh phục cực Tây A Pa Chải, thăm cột cờ mới hoàn thành và ra mốc ba biên vãng cảnh miền biên ải, nơi được ví von là một tiếng gà gáy ba nước cùng nghe. Theo đó, trên lộ trình về miền đất địa đầu, chúng tôi lại vượt đèo Pha Đin. Dù còn nhiều vấn vương với những cảm giác mạnh trên đường Quốc lộ 6 cũ nhưng vì trong đoàn có nhiều chị em nên chúng tôi phải lựa chọn đi theo đường tránh. Quả thực, mỗi lần qua nơi này là một lần cảm xúc mới. Trở lại đèo Pha Đin lần này, tôi ngỡ ngàng trước sự thay đổi quá nhiều trên con đèo lịch sử. Và chính những đổi thay ấy đã níu chân cả đoàn, khiến chúng tôi cả chiều đi lẫn chiều về đều phải nán lại du ngoạn. Nếu hai lần trước, khi qua Pha Đin, cảm hứng về núi non hùng vĩ xen lẫn cảnh sắc của mùa hoa tháng ba ở Tây Bắc nổi trội thì lần vượt đèo này trong tôi cảm hứng về lịch sử đã chi phối toàn bộ nỗi niềm cảm xúc. Khi lên đèo, gần hết địa phận Sơn La, tôi nhìn thấy bên đường một bia khá to ghi Di tích lịch sử quốc gia Đèo Pha Đin. Tấm bia ấy giống như một chỉ dẫn văn hóa cho người qua đường vừa biết được những thông tin cơ bản về đặc điểm, địa danh của con đèo vừa nhớ đến một chiến thắng vĩ đại của dân tộc trong thế kỷ trước. Cũng từ sự chỉ dẫn ấy mà cảm hứng về lịch sử trên con đèo huyền thoại đã trỗi dậy và gọi về trong ký ức của tôi những năm tháng gian khổ mà hào hùng của dân tộc diễn ra bảy mươi hai năm trước. Đó là những trang sử oanh liệt mà tôi từng được trải nghiệm ở Mường Phăng, Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia A1, Cứ điểm Him Lam, Đồi A1, Hầm Chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Cầu Mường Thanh, Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ trong những chuyến đi lần trước.  

 

Trải nghiệm lịch sử trên đèo Pha Đin. Ảnh tác giả cung cấp

 

Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo. Theo cách hiểu ấy tôi nhận ra, Pha Đin không đơn thuần là một kỳ quan thiên nhiên như người ta thường từng suy tôn, nằm trong “Tứ đại đỉnh đèo”, mà còn là một chứng nhân của lịch sử. Bởi nơi này một thời được đối phương xác định là “tọa độ lửa”, nhằm ngăn chặn con đường huyết mạch của ta lên Điện Biên. Con đèo là nơi gặp gỡ đất trời, cao gần một nghìn sáu trăm năm mươi mét ấy cũng chính là tuyến đường giao thông số một để vận chuyển vũ khí, lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ của bộ đội Việt Nam. Cái nơi đỉnh cao mờ sương với một bên là vách núi một bên là vực sâu thăm thẳm này cũng là nơi đã ghi dấu công sức của hơn tám nghìn thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến với hàng ngàn lượt vận chuyển theo phương thức “chị gánh anh thồ” để đưa vũ khí, lương thực đi qua trong suốt năm mươi sáu ngày đêm mưa bom bão đạn. Ngày đó người ta ước tính, trung bình mỗi ngày đèo Pha Đin hứng trọn mười sáu tấn bom đạn, có ngày kẻ thù thả xuống hơn một trăm quả bom các loại. Song hành với những trận mưa bom bão đạn ấy, sức người không chỉ tải đạn chở lương mà còn phá đá mở đường, san lấp hố bom cho bộ đội ta kéo hàng trăm khẩu pháo các loại vào trong chiến trường góp phần làm nên chiến thắng “Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”. Có lẽ, được chứng kiến việc dùng tay kéo pháo trên cung đèo “máu trộn bùn non” này cùng với cảnh bộ đội ta kéo pháo vào rồi lại kéo pháo ra ở Nà Nham, bản Tấu, bản Nghịu; đặc biệt là khi được nghe kể lại câu chuyện anh hùng liệt sĩ Tô Vĩnh Diện chèn lưng cứu pháo mà nhạc sĩ Hoàng Vân đã xúc động viết nên ca khúc “Hò kéo pháo” nhằm ghi nhớ một thời “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” như lời kêu gọi của Bác.

Cứ thế, ký ức của một thời hoa lửa hiện về trong miền tâm tưởng nên tôi không chỉ nhìn thấy “hoa” mà còn thấy cả “máu” của những tuổi xuân phơi phới ở trên con đèo. Chắc chắn giữa trập trùng đại ngàn mênh mông kia hẳn đã có biết bao con người vĩnh viễn hoá thân thành màu xanh của núi sông bất tận. Không có con số thống kê cụ thể nhưng số lượng người đã ngã xuống ở nơi này có lẽ không nhỏ. Không một nấm mồ, họ đã hoá thân vào con đèo và trở thành những linh hồn bất tử. Bởi thế khi nhìn lên Đền thờ liệt sĩ trên ngọn đồi đối diện với Pha Đin Top, tôi không khỏi rưng rưng. Khu đền ấy cũng mới làm xong, khánh thành vào cuối xuân năm Giáp Thìn (tháng 4 năm 2024). Đứng trước khu tưởng niệm các liệt sĩ trang nghiêm trên đỉnh trời và hoà vào thiên nhiên mây trời Tây Bắc, tôi không khỏi xúc động. Sự hiện diện của khu di tích tâm linh sau bao nhiêu năm tháng đợi chờ chắc hẳn sẽ làm ấm lòng những chiến sĩ Điện Biên còn lại và cả những lớp người hậu sinh. Nhìn quần thể kiến trúc với các hạng mục đền chính, cổng đền, kỳ đài, sân hành lễ, khu tưởng niệm... hoà trong mây trời lồng lộng, tĩnh lặng giữa núi rừng Tây Bắc, chắc hẳn ai cũng mừng vui. “Vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc”, từ nay, những linh hồn bất tử trên con đèo này sẽ có một mái nhà chung. Từ ngôi đền linh thiêng hướng ra phía trước, tôi thấy đất trời mênh mông tựa như một “ban công” thiên tạo của khu đền. Ngự trên đỉnh đèo ngập tràn sương mây huyền ảo, ngôi đền được thiết kế vừa gần gũi với nếp nhà sàn truyền thống đặc trưng của miền Tây Bắc, vừa thân quen với mái đình, mái chùa bởi những góc mái uốn lượn mềm mại để cùng nhau hoà vào núi ngàn trập trùng mây trắng mỗi sớm chiều. Có lẽ, ngôi đền linh thiêng này không chỉ là nơi khắc ghi những cống hiến cao cả của thế hệ kháng chiến chống Pháp mà hơn thế, nó còn là một cột mốc tâm linh nơi cửa ngõ của chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa. Bởi thế, mỗi bậc đá uốn lượn quanh co, dẫn lối đi lên ngôi đền không chỉ nâng từng nhịp chân mà còn như kể cho tôi nghe những bản hùng ca bất tử của một thời hoa lửa giữa nơi đất trời gặp gỡ: Pha Đin.

 

Đi chợ Phiên Pha Đin. Ảnh tác giả cung cấp

 

Theo lối mòn dưới những tán thông, ngược lên đỉnh đèo chót vót, xé toang lớp sương mù của bảy mươi hai năm bom đạn, Pha Đin hôm nay đón tôi bằng vạt mây trắng yên bình trong tiếng reo đại ngàn thăm thẳm. Trên đỉnh Pha Đin Top, lắng nghe núi rừng giữa bồng bềnh mây trôi, không còn những tiếng bom gầm đạn rú, mặt đất không còn những vệt máu loang, tôi nghe tiếng thông reo rì rào trong gió, nhìn màu xanh phủ trên những hố bom rơi, ngắm hoa nở dọc bên lưng đèo. Hoá ra, cuộc sống bình yên nơi đây không những được hồi sinh mà còn đang trỗi dậy mạnh mẽ tại những điểm du lịch. Đỉnh trời mù sương không còn là nơi đèo heo hút gió mà đã trở thành nơi “hữu khách tầm”. Trên lưng đèo sương giăng ấy còn có những phiên chợ vùng cao Tây Bắc hiện ra ngay bên mặt đường như đang kể cho chúng tôi nghe về phong tục và cuộc sống của đồng bào trên những triền núi mờ xa. Những gian hàng giản đơn, không có những mặt hàng công nghệ như ở chốn phố phường. Chúng mộc mạc như chính hơi thở vùng cao với gạo Điện Biên, chè Shan tuyết, dược liệu quý, mật ong rừng, hàng thổ cẩm của người bản địa cùng rau, củ trên nương và thảo quả trên núi. Tất cả còn rất nguyên sơ, hoang dã nhưng nó lại mở ra trước mắt tôi cả một thiên nhiên hùng vĩ và tràn trề nhựa sống. Vẫn biết những gian hàng kia chỉ là những phiên chợ du lịch được mở ra để quảng bá cho hình ảnh Tây Bắc đang hồi sinh nhưng bấy nhiêu thôi, với tôi đó lại là trải nghiệm rất thú vị, một khoảng trời mang đậm sắc màu của vùng núi cao Sơn La - Điện Biên không thể lẫn vào đâu được. Hoà mình vào các chợ phiên giữa chốn đại ngàn hội tụ, tôi cảm nhận rõ sự đồng điệu của những tâm hồn du khách. Ai nấy đều say đắm hít thở bầu không khí trong lành, thoáng đãng, rồi thong thả nhâm nhi những thức ẩm thực bình dị mà đậm đà hương vị núi rừng Tây Bắc. Nhìn ra xung quanh, tôi thấy có rất nhiều gương mặt ngập tràn sự thích thú. Họ còn say sưa, hào hứng nhập vai với những trải nghiệm lịch sử trên cung đèo huyền thoại ngày xưa. Dường như, họ đang muốn hoà mình với khí thế bừng bừng của cả dân tộc hơn bảy mươi năm trước: “Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ/ Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát/ Dù bom đạn xương tan, thịt nát/ Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh”. Đắm chìm trong những cảm xúc ngây ngất ấy tôi chợt bừng tỉnh và thấu hiểu. Thì ra, quá khứ hào hùng trên Pha Đin không bị ngủ quên mà nó vẫn hiện diện trên suốt cung đường và chính là mạch ngầm vĩ đại nuôi dưỡng màu xanh của con đèo hôm nay. Cho nên, đứng giữa đỉnh trời lộng gió quyện mây ngàn, trong tôi bỗng trào dâng một niềm biết ơn vô hạn, bởi dường như, mỗi nhành hoa hay từng tiếng thông đang reo ở nơi này đều không phải ngẫu nhiên mà có. Tất cả những gì đang hiện diện trên Pha Đin hôm nay đều được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, xương máu của các lớp tiền nhân thuở trước.

Thực tình, tôi rất muốn trải nghiệm thêm một đêm Pha Đin nhưng chuyến đi này chưa đủ duyên hạnh ngộ nên đành hẹn với lòng mình lần sau trở lại. Chia tay với con đèo, chúng tôi để sau lưng một đỉnh trời lộng gió để tiếp tục hành trình lên miền cực Tây. Theo bánh xe lăn, Pha Đin cứ lùi dần lại phía sau, ẩn dần trong những hơi sương nhưng dư âm của con đèo huyền thoại thì vẫn còn vang vọng trong tâm trí của kẻ lữ hành. Thật kỳ lạ, chỉ một vài lần ngang qua Pha Đin như thế nhưng sao lòng lại cứ vấn vương. Hình như, đi qua con đèo lần này, tôi đã thấu rõ, Pha Đin không chỉ là một cung đèo trong mây với những khúc cua tử thần thách thức những người đam mê xê dịch; cũng không hẳn là một kỳ quan thiên nhiên chuyển sắc theo mùa mà mê hoặc kẻ duy mỹ mà hơn thế, đỉnh trời sương giăng ấy còn là nơi lưu giữ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc. Nơi ấy, dường như mỗi tấc đất, gốc cây đã thấm đẫm linh khí của ông cha để làm nên mùa xuân đất nước muôn đời. Con đèo ấy giờ đây như một cây cầu nối liền hai dòng chảy quá khứ và hiện tại với một tượng đài bất tử trong ký ức, ẩn hiện giữa ngàn mây trắng. Cứ thế, trong tâm tôi thành kính và cúi đầu trước lịch sử để thêm yêu miền Tây Bắc.

Pha Đin ơi, ta hẹn ngày gặp lại!

Đ.T.T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm