TIN TỨC

‘Mười năm một quãng đường người xót xa’

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-19 07:56:48
mail facebook google pos stwis
2418 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc tập Thơ mười năm của Hoàng Đình Quang, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2023)

Tôi đã đọc thơ Hoàng Đình Quang từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường và ấn tượng với thơ anh bởi có điều gì đó luôn đọng lại và giăng mắc vào lòng người, hồn người. Thơ Hoàng Đình Quang không mới nhưng độc đáo ở chỗ là anh biết cách tạo dựng hình ảnh, câu chữ, tứ thơ để tạo nên bài thơ hay. Muộn mằn là một trong số những bài thơ mà tôi thích, đến độ thuộc lòng và đó cũng là lý do vì sao tôi luôn dõi theo hành trình thơ của Hoàng Đình Quang.

Có một ngã ba nào đó trong đời/ Anh để lạc mất người con gái ấy/ Lòng rợi rã anh ngoảnh đầu trở lại/ Thời gian ơi, bụi bạc phủ trắng đầu.// Em cười nơi nào, em khóc nơi đâu?/ Tấm áo xanh ơi, mái tóc choàng vai hỡi/ Bát cơm tấm mười lăm năm vẫn đợi/ Tiếng nước râm ran trong buồng tắm buổi chiều// Và mỗi ngày trên ghế đá tình yêu/ Đôi bạn trẻ có thấy gì trong đó?/ Chúng tôi giấu một mối tình dưới cỏ/ Tiếng dế miên man trong kí ức dại khờ!// Cả một đời người những nắng cùng mưa/ Dẫu băng bó vết buồn khôn se miệng/ Vòm hoa giấy trước căn nhà số chín/ Xạc xào bay trong chiều gió im lìm.// Còn bây giờ tất cả đã lặng im/ Ve mùa hạ mặc áo hồng số phận/ Anh đem nỗi dại khờ ra ngồi đếm/ Vết muộn mằn chi chít tuổi hoa niên!

Thời gian sau đó, dường như Hoàng Đình Quang ngày càng ít làm thơ. Sau tập Hát chẳng theo mùa (2009), không thấy anh in tập thơ nào nữa và cũng ít thấy công bố thơ. Mãi đến năm 2023, Hoàng Đình Quang in tập thơ mới, Thơ mười năm. Sau chừng ấy năm “vắng bóng”, nhà thơ có thời gian để chiêm nghiệm về cuộc đời, về thế sự nhân sinh. Vì thế, khi xuất hiện trở lại chắc chắn anh sẽ đem đến cho bạn đọc những bài thơ chắt lắng hơn, giàu chất suy nghiệm hơn. Mở đầu thi tập, nhà thơ Hoàng Đình Quang đã tự giãi bày:

Mười năm rồi ta sống những đâu đâu

Để trước mặt mười năm day dứt

Ta sống giữa hai khoảng đời ép chặt

Ngẩn ngơ nhìn bốn phía vẫn vô tâm.

56 bài thơ trong Thơ mười năm chính là những nỗi niềm suy tư của Hoàng Đình Quang về đời, về người, về những gì anh đã trải nghiệm, gom nhặt trong suốt hành trình sống của đời mình. Ở đó có những niềm vui nhỏ, có một khoảng thời gian sống hạnh phúc bên “em”, sự hân hoan khi được gặp lại “mình”, khi trở về quê xưa, gặp lại bạn cũ... nhưng cái chủ đạo xuyên suốt trong tập thơ này của Hoàng Đình Quang vẫn là giọng trầm buồn, ngẫm ngợi với nhiều nỗi niềm thao thức, trăn trở thường trực và dường như tất cả vẫn ở lưng chừng, dang dở, có gì đó hụt hẫng, tiếc nuối, xót xa...

Đọc bài Nhân dân (I), người đọc sẽ nhận ra rất nhiều điều mà nhà thơ Hoàng Đình Quang ký gửi vào đó. Đọc lên, ngẫm lại, cảm giác có gì đó nhói đau. Nhưng biết làm sao được trước bao bất cập vẫn hiển nhiên tồn tại và vẫn đang từng ngày từng giờ diễn ra như thế! Hoàng Đình Quang đặt ra giả thiết và nghĩ về kết quả của nó. Nhưng ẩn sau những kết quả “đẹp” là biết bao câu hỏi đặt ra về vấn đề sống còn, về vận mệnh của đất nước cần phải đặc biệt lưu tâm. Nói cách khác, đó chính là lời cảnh tỉnh. Bởi muôn đời nhân dân là gốc rễ, mọi việc phải từ nhân dân mà ra, có nhân dân mới làm nên việc lớn. Ông bà ta từng có câu: “Quan nhất thời, dân vạn đại” là vậy.

Thơ Hoàng Đình Quang là thơ của sự biểu lộ tâm trạng, kết cấu hình thức mang tính tự sự. Kiểu kết cấu tự sự ở thơ anh thường biểu hiện ngay ở câu mở đầu bài thơ: Mỗi ngày ba bữa cơm chay/ Em ơi!/ Còn chén rượu này!/ Uống đi (Ngày thứ 35); Chiều tháng Chạp, em về muộn thế/ Người lấn chen, anh biết chợ đông (Chiều tháng Chạp); Trăm năm đã lỡ làng rồi/ Mười năm một quãng đường người xót xa (Trăm năm và mười năm); Dưới bầu trời này, tôi đứng chống cán cuốc/ Mà nghe buồn bã chạy dọc sống lưng (Bài ca lưu ly)...; Những con thiêu thân cứ quấy rầy bóng tối/ Sao không thương những ngọn đèn cháy vội (Tự luận); Tôi đã thành cổ tích của riêng tôi/ Sao có thể nói cùng ai được nữa (Cổ tích của riêng tôi); Những ngôi mộ đã không còn mới nữa/ 40 năm mưa nắng đã cũ rồi (Mẹ Trường Sơn)...

Thơ Hoàng Đình Quang thường đề cập đến những vấn đề của cuộc sống thường ngày, những nghiệm suy, trăn trở về cái đã qua và cả những thứ đang hiện hữu. Thơ anh không nói nhiều đến những gì cao siêu, hư ảo, to tát mà hướng về đời sống, tình cảm, tổ ấm... bằng một cái tôi trữ tình da diết, đậm chất suy tư của một người từng trải.

Ta biết/ Ăn nhiều cũng không hề lớn/ Làm nhiều cũng chẳng thể giàu/ Uống mãi mà chưa hết rượu/ Ai bảo nhân gian bể dâu? (Bài ca lưu ly).

Thơ Hoàng Đình Quang bị bủa vây bởi những nỗi buồn, nỗi buồn đến từ nhiều phía, nỗi buồn đã ăn sâu vào tiềm thức, ăn sâu vào trong huyết mạch. Vì thế, xuyên suốt tập thơ chủ đạo vẫn là giọng trầm buồn, vừa tâm tình thủ thỉ, vừa trữ tình sâu lắng và cũng không kém phần cay đắng xót xa. Tôi giác ngộ: chỉ mình tôi có lỗi/ Chức vụ, quyền năng chẳng sai sót bao giờ/ Tôi im lặng bởi vì tôi biết rõ/ Với dân lành tiếng nói chỉ vu vơ//... //Rồi cứ thế, từng ngày, từng ngày một/ Vòng quanh ta nhốn nháo cõi không người/ Quay trở lại với ngôi nhà bé nhỏ/ Ta vận hành cõi tạm, kiến ong ơi! (Tôi đang cố chắt chiu từng chút một).

Có nhiều điều được nhà thơ đề cập đến trong tập sách nhưng có lẽ nhân vật trữ tình em được nói đến, nhắc đến bằng một tình cảm đặc biệt nhất. Vết thương lòng, nỗi mất mát, chông chênh ập đến là anh đã vĩnh viễn mất em. Những kỷ niệm thuở nào, những việc em làm vẫn luôn hiện diện và làm cho anh càng thêm day dứt, nghẹn ngào. Em vẫn lam làm, xăng xái dường kia/ Vui vẻ cằn nhằn cha con anh bề bộn/ Gần nửa năm rồi, anh cầm lên đặt xuống/ Không nỡ cất đi từ cái lược chải đầu!// Năm ngoái nhà mình, tết mới có con dâu/ Luẩn quẩn mẹ con, thì thầm to nhỏ/ Mẹ dạy con bày bàn thờ tiên tổ/ Bài học năm nay trước di ảnh mẹ chồng!// Em có buồn, em có nhớ anh không?/ Đêm nghe tiếng chân em,/ mà không nhìn thấy mặt/ Anh ngồi lặng giữa buổi chiều tháng Chạp/ Phố đã lên đèn, anh đợi cửa, chờ em! (Chiều tháng Chạp).

Tình nghĩa thủy chung, sự bao dung sâu sắc cộng với cốt cách và bản lĩnh của người đàn ông đã giúp anh nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo. Dẫu biết rằng: “Không có em, anh ở đâu cũng xa nhà” .

Thời gian theo em về cõi Ngân Hà/ Để lại cho anh tàn hương cong cháy đỏ/ Hoa cúc trên bàn càng vàng càng nhớ/ Thay hoa vào, bình hoa trắng bình hoa.// Không có em, anh ở đâu cũng xa nhà/ Sau lưng anh khoảng trống lần trải thảm/ Anh thề sẽ Biển Đông kia tát cạn/ Sợi dây gầu buông thõng phía không em.// Lại sáng/ Lại ngày/ Lại tối/ Lại đêm/ Có cái mới không làm sao cũ được/ Có cái cũ tưởng rằng đang phía trước/ Cứ chập chờn lơ lửng ở chân mây./ Không thể cả tin cuộc đời mỏng manh này/ Vững chãi nhất cũng đã từng sụp đổ/ Anh không dám một mình đi bước nữa/ Thay hoa rồi bình hoa trắng bình hoa (Đi bước nữa).

Những câu thơ man mác như tiếng thở dài của lòng mình, Hoàng Đình Quang thấm thía sự mất mát của đời người. Sự sống - cái chết, có - không, được - mất... dưới cái nhìn của anh đầy nhân văn, sâu sắc.

Nhà thơ không thể nào nguôi quên, nỗi nhớ cứ chất chồng lên nhau trở thành nỗi khắc khoải, lo âu; muốn níu kéo, gìn giữ những cái mà anh vẫn luôn hy vọng, tin tưởng, tôn thờ. Nhưng thực tại phũ phàng và anh đã gọi em trong sự thảng thốt tái tê. Bây giờ em ở nơi đâu?/ Âm dương giàn giụa nhịp cầu khói hương/ Giấy tiền rải trắng vệ đường/ Những ngôi mộ lặng im nhường lối đi!//... //Bóng hình nặng nỗi đăm chiêu/ Chân hương đỏ những buổi chiều cô đơn/ Đêm khuya động tiếng chập chờn/ Trong chiêm bao thắp nỗi buồn vào anh! (Thanh minh).

Với nhà thơ Hoàng Đình Quang, anh luôn mong muốn có được hạnh phúc nhỏ bé, dung dị thường nhật như bao người. Nhưng thực tại điều mong muốn ấy lại không thể nào có được.

Tôi thèm nghe tiếng bát đũa xô nghiêng/ Thèm gắp đũa dưa cà, mắm muối/ Bùi ngùi nhớ bát canh chiều đã nguội/ Sao xát lòng nghe tiếng gọi “Ai ơi”.// Ai ơi, về ăn cơm!/ Ngày đã cạn lắm rồi/ Sào đã gác bên kia dòng tan tác/ Đôi đũa ấy một chiếc kia đã lạc/ - Ai ơi về.../ Im lặng quá./ Ai ơi! (Ai ơi, về ăn cơm).

Nếu cái tôi đời tư, thế sự đem đến cho người đọc sự cảm thông, chia sẻ nỗi niềm của nhà thơ và sự ngẫm ngợi xót xa trước những điều không hay xảy ra thì cái tôi chiêm nghiệm, triết lý giúp người đọc thẩm thấu một cách trọn vẹn về thơ Hoàng Đình Quang.

Bao nhiêu triều đại xoay vần/ Đời người ai biết trước lần được thua!/ Chiêm mùa đất thụt đồng chua/ Vua đi cày thật, ai đùa làm vui?// Con trâu bước bước ngậm ngùi/ Sống nhờ cỏ rả, chết vùi rạ rơm/ Kéo cày lật đất thành cơm/ Trước Vua Chúa kéo tiếng thơm ngàn đời//  Tịch Điền lễ hội mà chơi/ Quanh năm lam lũ cho trời xót xa.../ Muôn năm Vua của nước nhà/ Xắn quần xuống ruộng cày ba luống cày// Sử xanh còn đến hôm nay/ Vua đi cày để dân cày làm dân!... (Vua đi cày).

Thơ Hoàng Đình Quang thể hiện rõ nét tính chất trữ tình ở cách cấu tứ bài thơ dựa trên những cảm xúc, tâm trạng. Từ cảm xúc của tâm hồn là nỗi nhớ đến em, sự cách biệt nghìn trùng đang giằng xé tâm can, Hoàng Đình Quang tạo tứ thơ thể hiện tình cảm vợ chồng sâu nặng, nghĩa tình trong bài Trăm năm và mười năm: Trăm năm đã lỡ làng rồi/ Mười năm một quãng đường người xót xa/ Âm thầm mình nói cùng ta/ Những đêm trắng, những chiều tà đẫm sương!// Mười năm mưa nắng đoạn trường./ Mình đi mình ở - mình vương vấn mình!/ Khóc cười - một cõi phù sinh/ Ta về cất giữ bóng hình ngày xưa// ... // Mình về với cõi bình yên/ Trăm năm còn giữ lời nguyền trăm năm/ Ta theo bóng bước âm thầm/ Nén hương để khói mười năm dặn dò!

Giọng thơ xuyên suốt trong tập Thơ mười năm là giọng đồng cảm, yêu thương với cái tôi buồn, cô đơn, khắc khoải. Nhà thơ đã dành sự ưu ái, quan tâm, đồng cảm sâu sắc với số phận người phụ nữ. Em, Mẹ, Người đàn bà là những nhân vật trữ tình đặc biệt. Em ơi đừng đi!, Người đàn bà bên kia sông, Em ở nơi nào, Mẹ Trường Sơn, Người đàn bà với chiếc ô hoa, Những người mất tích, Bài ca lưu ly... là những bài thơ có sức rung cảm sâu xa trong tâm hồn người đọc.

Đọc hết Thơ mười năm, có lẽ người đọc sẽ hiểu vì sao mà thơ Hoàng Đình Quang trầm buồn đến thế. Hình ảnh em/ người vợ tào khang đã về miền cỏ hoa để lại cho anh nỗi sầu thăm thẳm, không gì có thể lấp đầy được. Để rồi chừng ấy năm, nhà thơ “sống giữa hai khoảng đời ép chặt”. Mười năm với bao biến cố, đổi thay, mười năm là cả một khoảng trống đến tái tê lòng. Nhân vật trữ tình anh cố nén vết thương lòng, sống trọn vẹn thủy chung với em; cho dù em đã là người thiên cổ. Lá mùa thu không rụng hết bao giờ/ Em vẫn thế, chỉ khác là em khác/ Và còn lại một vòng hoa ký ức/ Đã quay về trước cửa đứng ngẩn ngơ!// Mười năm rồi ta sống với như xưa/ Mười năm nữa, mười năm sau cứ thế/ Không ngừng hỏi những con thuyền đơn lẻ/ Vẫn trở mình tìm mảnh ván ngày xưa! (Mười năm).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm