TIN TỨC

Nguyễn Kim Thanh với hương đồng gió nội miền Tây

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-21 21:03:25
mail facebook google pos stwis
2215 lượt xem

LÊ XUÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong mỗi chúng ta ai chẳng có một quê hương để thương để nhớ. Với nhà văn Nguyễn Kim Thanh thì đó là cả một vùng ký ức với bao kỷ niệm vui buồn nhung nhớ. Đó là cảnh sắc quê nhà với hai mùa mưa nắng, là tiếng bà ru cháu, mẹ ru con, là lời ca điệu lý vang vọng bên những dòng kinh. Đó là bến nước, dòng sông, là những giề lục bình trôi với bông tim tím, hay bông điển điển vàng, bông súng mùa nước nổi, là con cá lòng tong, con cá linh, cá rô, con tôm càng quẫy đạp. Đó là những phận người lưu lạc, bất hạnh trong chiến tranh hay trong cuộc mưu sinh nhưng không bao giờ lùi bước bi kịch cuộc đời. Họ vẫn luôn lạc quan yêu đời, vựợt lên mọi gian nan thử thách khi cuộc sống trở nên “không thể chịu được nữa”. Tập truyện ngắn và tản văn “Mùa cá lòng tong” của chị là bức tranh sống động của miệt quê Nam Bộ mang vẻ đẹp hương đồng gió nội như một hành trang theo mỗi bước chân chị đã qua.

Nhà văn Nguyễn Kim Thanh

 

Nhà văn Nguyễn Kim Thanh với các bút danh: Duy Anh, Kim Thanh, Huỳnh Duy, Hưng Phú đã trình làng nhiều tác phẩm in chung và bốn tác phẩm in riêng. Nhiều sáng tác của chị đã được đăng trên các Báo, Tạp chí Văn nghệ Trung ương và địa phương. Hiện nay chị là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Cần Thơ, phụ trách Tạp chí Văn nghệ Cần Thơ. Công việc nhiều và hoàn cảnh còn khó khăn nhưng đêm đêm chị vẫn miệt mài trên mỗi trang viết. Tình yêu văn chương đã nhen nhóm trong lòng chị từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm. Đôi khi những bài thơ, những trang viết chỉ “một mình mình biết, một mình mình hay”. Nhưng từ khi là hội viên Phân hội Văn học thuộc Hội văn học nghệ thuật tỉnh Kiên Giang rồi chuyển về Cần Thơ và qua các lớp bồi dưỡng ở các trại sáng tác, lý luận văn học, rồi đi thực tế nhiều chuyến thì những truyện ngắn, tản văn của chị càng “nổi gió” hơn, ghim được vào trái tim người đọc.

Đề tài những truyện ngắn, tản văn của Nguyễn Kim Thanh phần lớn đều xoay quanh số phận người miền Tây trong cuộc sống đời thường. Nhân vật thường là những người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh ở miền quê hay phố thị khác nhau. Con người, cảnh vật trong truyện hiện lên rất sống động qua cách kể, cách tả, cách dẫn truyện khá hấp dẫn nhiều lớp lang, nhiều tình tiết.

Với tập truyện ngắn và tản văn này, chị đem đến cho người đọc cái nhìn đa chiều về con người và cuộc sống của cư dân miền Tây Nam bộ bằng một giọng văn kể chuyện tâm tình với nhiều chi tiết sống động. Mỗi truyện ngắn, mỗi tản văn là một lát cắt, là một clip quay cận cảnh về đời sống, cảnh sắc vùng đất đầy nắng gió khi con nước lớn, ròng. Người đọc sẽ bắt gặp đâu đó hình bóng quê nhà với những con người dễ thương dễ mến như: ông Mười Sẹo, chú Hân, chú Thi, cô Út, cô Nguyệt, cô Sinh, cô Ngần, bà Hai Qườn trong “Chuyện nhà ông Mười Sẹo” mà ông Mười Sẹo là người đáng thương hơn đáng trách. Người đọc khó quên tiếng chửi của Mười Sẹo, nó khác với tiếng chửi cả làng Vũ Đại của Chí Phèo, “Ổng chửi bầy trâu là chủ yếu nhưng lũ trâu có nghe lời ông chửi tụi nó hay không mà cứ ốm o dần đi”… Hay “Chuyện ở xóm Miễu” ta bắt gặp một lão Tam với biết bao người đàn bà qua tay lão mà “mụ Hinh vẫn khoái lão Tam ra mặt”. Lão từng hại ba má lão, hại các đồng chí của ba má. Lão chính là thằng Ức “đã chết trong lòng dân xóm Miễu”. Lão chỉ uống rượu và bạn với con chó thôi, và lão đã tự biết mình có tội với dân. Nhưng tình thương con vẫn bùng cháy trong huyết quản của lão. Ở đây ta còn bắt gặp một ông Ba Giỏi gốc miền Trung chạy vào Rạch Sỏi (Kiên Giang) sinh sống, có cảm tình với cách mạng, được bà con yêu mến nhưng có thằng con nghịch tử bán đứng cả ba má và đồng đội, và ông đã “hộc máu lên vì uất ức, ông không dám nhìn vào mắt các đồng chí của mình”. Các nhân vật xóm Miễu hiện lên qua lời kể của chị rất có duyên, đan xen giữa các nhân vật làm người đọc như “vừa quen vừa lạ” như sờ thấy được. Nào Bà Bảy, thằng Xứng, Sa Sang, nào bác Tấn, chị Mười, lão Tam và bà con xóm Miễu luôn chan hòa tình làng nghĩa xóm…  Những trang viết như thế cứ ám ảnh người đọc, nhẹ nhàng mà sâu lắng đậm chất đời và tính nhân văn.

Ở các truyện “Hương cỏ mật”, “Lá bùa hộ mệnh”, “Lục bình trôi”, “Lưng chừng triền dốc”, “Luôn có một vì sao theo dõi anh” … Nguyễn Kim Thanh vẫn giữ giọng kể chuyện tâm tình để khắc họa tính cách nhân vật, tạo điểm nhấn cho mỗi truyện. Và tác giả kết thúc truyện theo hướng “mở” để  “người đọc cùng sáng tạo”. Không gian và thời gian truyện luôn mở rộng biên độ. Từ chiến tranh chống Mỹ đến hòa bình lập lại, từ miền Tây tỏa đi Sài Gòn, Tây Nguyên, miền Trung, miền Bắc… nhưng nhân vật và ngôn ngữ truyện rất đậm chất Nam Bộ. Từ thành phố Cần Thơ, được xem là Tây đô của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bàn chân chị đã qua hầu hết các nẻo đường. Tới đâu chị cũng ghi lại những cảnh, những người, những nét đặc trưng của vùng đất đó. Từ bông hoa ngọn cỏ, trái cây, bông súng, lục bình, bông điên điển tới cánh cò, con đò, dòng sông, cầu tre lắt lẻo, cầu khỉ gập ghình khó đi hay bến nước, ao hồ, câu ca điệu lý… đều ùa vào mỗi trang văn. Mỗi truyện của chị đều ánh lên vẻ đẹp nhân văn như hơi thở cuộc sống thường nhật vậy. Tất cả đều thấm đẫm tình người với những nỗi đau, niềm vui của thân phận con người, đôi khi yếu đuối nhưng cũng rất kiên cường, cho dù cuộc sống xô đẩy họ đối mặt với những nghịch cảnh của gia đình, xã hội nhưng ở họ không hề tắt niềm tin và hy vọng. Những góc khuất tận cùng của con tim nhân vật được chị diễn đạt như những lời tâm tình thỏ thẻ, khiến người đọc dâng lên một niềm cảm thương sâu sắc. Tôi có cảm giác Nguyễn Kim Thanh như hóa thân vào nhân vật, vào dòng chảy của ký ức với bao kỷ niệm vui buồn mà con tim thôi thúc. Quá khứ, hiện tại và tương lai cứ thôi thúc chị phải viết ra như trả món nợ cho đời.

Tập truyện ngắn, tản văn “Mùa cá lòng tong” của nhà văn Nguyễn Kim Thanh

 

Ở những tản văn, chị lại đưa người đọc trở về tuổi thơ với quê hương thân thương trìu mến qua những trang miêu tả đậm chất thơ. Đó là cảnh “Má trồng rau ngày Tết” và “Tiếng rao bánh tráng ngày xuân”. Và đây là cả một “Vùng ký ức” với bao âm thanh, sắc màu của “Ninh Kiều ngày mới”, “Nỗi nhớ mùa trăng”, “Nỗi nhớ dòng sông”, “Mùa cá lòng tong”. Và những lời thầy dạy vẫn văng vẳng bên tai. Tất cả là một tình yêu quê hương nồng thắm. Những trang viết về mẹ, gia đình, bè bạn, tình thầy trò, tình yêu cứ ùa vào ký ức làm sáng lên niềm tin và lòng thủy chung bền chặt. Trong mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương để thương để nhớ, và nếu ai đó “Quê hương nếu ai không nhớ/Sẽ không lớn nỗi thành người” (Đỗ Trung Quân). Nhà thơ người Nga Ilia Erenbua đã viết: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào đại trường giang Vonga. Con sông Voga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Nhưng không phải ai cũng có được tình yêu quê nồng nàn, tha thiết như thế. Tình yêu quê hương làng xóm, yêu con người miền Tây dân dã, mộc mạc trọng nghĩa khinh tài, nhân ái cứ lớn dần trong chị. Đó chẳng phải là lòng yêu dân tộc và Tổ quốc sao? Ta hãy thưởng thức món cá lòng tong kho tiêu, cá lòng trong ăn lẩu có bông súng lục bình, khô cá lòng tong chiên giòn của má trong những ngày mưa dầm nắng lửa càng cảm thấy vị mặn mòi đậm tình quê hương. Chị tả cảnh má Mải bỏ lưới xuống xuồng bắt cá lòng tong khá điệu nghệ: “Năm nào cũng vậy, từ tháng mười một âm lịch cho tới tháng tư năm sau mùa cá lòng tong về. Cá lăn tăn khắp sông rạch… Những ngày vào mùa cá khi bắt đầu con nước lớn, má Mải bỏ lưới xuống xuồng, Bà bơi xuồng tới đầu dòng sông hay đầu các con kênh và bắt đầu thả lưới… Bà sử dụng hai đoạn tre nhỏ cắm xuống nước nép bên đầu kênh hoặc đầu vàm và bắt đầu giăng lưới”. Và đây là tiếng rao bán các loại bánh gần Tết ở vùng quê vui làm sao: “Bánh tráng nhúng, bánh tráng mè đen, bánh tráng ngọt nước cốt dừa, bánh tráng khoai mì… có luôn bánh phồng nếp ngọt, lạt đây bà con cô bác ơi”. Rồi hình ảnh chợ nổi miền Tây - nét đặc trưng vùng sông nước Nam Bộ không thể thiếu trong tản văn của chị. Chỉ cần nhìn cây “bẹo” du khách đã biết gì? Treo gì bán nấy chăng? Và chị đã cho biết: “Làm ăn khấm khá treo tàu lá dừa nước, bán ghe nhỏ, mua ghe lớn hơn. Làm ăn không được hoặc gia cảnh không đi ghe được nữa thì cũng phải treo tàu lá dừa nước… có cái treo mà không bán đó là quần áo, đồ sinh hoạt của người thương hồ…”

Mỗi mùa trăng, mỗi khi con nước lớn ròng, ghe xuồng tấp nập trên sông, nhất là những ngày giáp tết. Tình yêu cũng nảy nở trên sông, trên ghe xuồng những đêm trăng sáng. Tiếng đờn hòa tấu, lời vọng cổ xuống “xề” cùng với tiếng cụng ly cười nói cứ văng vẳng trên sông từ khuya tới sáng… Miền Tây miệt vườn Nam Bộ là thế đó. Nó hiện lên trên mỗi trang văn của chị thật đáng yêu biết dường nào.

Chỉ với mười sáu truyện và tản văn, Nguyễn Kim Thanh đã cho người đọc thưởng thức bao vẻ đẹp về con người và cuộc sống nơi thôn dã bình lặng hay phố thị đông vui của miền Tây Nam Bộ. Đó là một bức tranh vừa mang tính tổng thể vừa đặc tả những nét đặc trưng nhất của vùng đất này với bao hương đồng gió nội đáng yêu.

Ngày nay giữa những ồn ào của của lối sống công nghiệp thời hội nhập, đọc những truyện ngắn và tản văn của chị ta như đang lắng nghe lời tâm sự của những con người, những mảnh đời khát khao, hy vọng vươn tới một hạnh phúc trọn vẹn. Xã hội ngày càng phát triển, nhưng cuộc sống cũng còn nhiều khó khăn, trăn trở, thì vẫn còn đó những mâu thuẫn, những đối lập nảy sinh. Nhưng ta tin rằng cái cao cả, thiện lương mà tác phẩm đem lại luôn là bài ca chiến thắng cái xấu, cái ác.

Bằng một giọng kể hồn nhiên, đôn hậu, từ ngữ mộc mạc, những phương ngữ Nam Bộ dùng đúng lúc đúng chỗ, chị đã chinh phục được trái tim người đọc bằng những câu chuyện đẹp, những tản văn hay đậm chất tình, chất thơ. Hy vọng đường văn của Nguyễn Kim Thanh còn tiến xa hơn nữa. Xin trân trọng giới thiệu “Mùa cá lòng tong” cùng bạn đọc.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm