TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nhà văn Mai Văn Tạo – Viết từ tấm lòng sâu nặng để tri ân nguồn cội

Nhà văn Mai Văn Tạo – Viết từ tấm lòng sâu nặng để tri ân nguồn cội

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-15 04:36:29
mail facebook google pos stwis
1288 lượt xem

TRẦN QUANG KHANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn)  -Vùng đất miền Tây Nam Bộ đã luôn ghi khắc văn nghiệp của các nhà văn kỳ cựu, đưa tên tuổi họ trở thành những nguồn sáng rạng rỡ với những trang viết đậm hồn đất và tình người của xứ sở nơi đây. Có thể kể đến nhà văn, nhà nghiên cứu, học giả Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Hầu…; các nhà văn Sơn Nam, Anh Đức, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Lập Em, Phạm Trung Khâu, Lê Đình Trường, Ngô Khắc Tài…; các nhà thơ Thanh Hải, Phạm Hữu Quang, Đinh Thị Thu Vân, Trịnh Bửu Hoài, Thu Nguyệt, Phạm Nguyên Thạch, Ngọc Phượng, Song Hảo…

Nhà văn Mai Văn Tạo

Và càng khó có thể lãng quên một tên tuổi lớn, với nhiều đóng góp ấn tượng và quan trọng cho vùng đất này - đó là nhà văn Mai Văn Tạo. Ông tên thật là Nguyễn Thanh Tân, sinh 15.3.1924 tại xã Vĩnh Tế, tỉnh Châu Đốc cũ (nay thuộc tỉnh An Giang). Nhà văn đã từ giã cõi đời vào ngày 03.7.2002. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, để lại di sản thơ văn gần 30 tác phẩm, in từ Nam chí Bắc. Ông có những tác phẩm đã để lại dư âm, đương thời gây được tiếng vang như các truyện ngắn: “Hoa Lê” (1962), “Đường rừng” (1973), “Bông điệp đỏ” (1975)… Các bút kí, truyện kí: “Núi Sam quê mình”, “Lời ru của Mẹ”, “Lại về quê lụa Tân Châu”, “Làng quê ngày ấy”, “Củ Chi đất thép”, “Em bé sông Hương”... Ông đồng thời còn là soạn giả các vở kịch nói và cải lương, tuồng cổ với bút hiệu Chí Linh. Năm 1999, ông đã cho ra mắt tập tản văn Mai Văn Tạo, với độ dày 300 trang. Nhà văn một thời tham gia chiến đấu trong quân đội, sau làm công tác biên tập tại Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam.

Mai Văn Tạo ghi dấu ấn bởi những trang viết mang đậm hơi thở lịch sử thời đại, nặng tình, gắn với các sắc thái của đời sống quê hương và những vùng đất mà ông đã đi qua, gắn bó. Ông viết văn như là một cách hồi tưởng dòng ký ức, kể lại những câu chuyện giản dị mà lấp lánh những giá trị nhân văn bền chặt, sâu sắc. Ông từng trải lòng: “Lịch sử An Giang đã viết bằng những cuộc đời lận đận, những số phận bi thương, những tâm hồn vĩ đại, bằng máu và nước mắt, bằng những lưỡi gươm và cây súng thô sơ. Tới bây giờ tôi được vinh hạnh viết cuộc đời của mẹ - Người mẹ An Giang - bằng cây bút. Hạnh phúc cho người cầm bút biết bao (SGK Ngữ văn lớp 7, NXB Giáo Dục 2007). Đọc những dòng viết chân thật gợi thương cảm ấy, nhà báo Lê Phú Khải đã phải bật lời thảng thốt ngợi ca: “Riêng tôi, chưa thấy có người cầm bút nào lại nặng tình quê hương như ông Tạo”. Tấm hình Núi Sam được phóng to, lồng khung kính trang trọng trong nhà ông ở giữa chợ Tân Định (Sài Gòn cũ) là minh chứng rõ nét nhất.

“Tôi muốn thấy lại ánh lửa đồng những đêm Đức Cố quản Trần Văn Thành luyện tập nghĩa quân Láng Cháy - Bãi Thưa. Tôi đã về Hồ Đá, An Định, Thới Sơntìm những lùm bụi nào các chí sĩ Cần Vương hội tụ, chỗ nào Cử Tri ngồi vắt óc làm thơ, Nguyễn Thông dạy học, Bùi Hữu Nghĩa trấn đồn… Về Mỹ Luông ngắm cột dây thép ông Đỏ treo cờ năm 1940… Qua Kiến An nhìn tận mắt lò rèn của bác thợ Gộc rèn gươm khởi nghĩa… Trờ lại cầu sắt Vĩnh Thông nhìn lại chiến trường xưa…” (Đất quê hương, 1979)

Niềm ao ước của nhà văn thật đẹp, cao cả biết bao. Một cách sống ân nghĩa đáng cho người đời sau trân quý. Nhà văn như sống giàu tình nặng nghĩa với những trang sử vàng hào hùng của các ông cha thuở trước. Với tấm lòng yêu nước thương dân, yêu làng quê xứ sở, các bậc nghĩa sĩ xưa đã dấn thân vào bao cuộc chiến đầy nỗi can qua, nhọc nhằn, hòa lẫn máu và nước mắt để bảo vệ bờ cõi quê hương, giữ gìn lòng nhân và chính nghĩa. Những danh sĩ, những địa danh bi hùng xưa cũ, ông đã cất công truy tìm đến “gốc rể lẫn ngọn ngành”.

“Tôi tha thiết muốn biết triền đá nào chí sĩ can trường Trương Gia Mô đã từ ngọn tháp rơi xuống tuẫn tiết, không thể sa vào tay giặc Pháp… Tôi hiểu được thêm rằng Phật Thầy chùa Tây An là nhà chí sĩ bản lĩnh mượn chiếc áo nhà tu che mắt kẻ thù…”

Hơn thế nữa, nhà văn còn bộc bạch tâm sự khi đất nước chưa được hòa bình. - “Tôi lững thững đi vào đường phố Châu Đốc, Long Xuyên như một con người nhàm chán mảnh đất đang đi - bóng núi làng xưa phía trước…”. Dòng tùy bút là nỗi suy tư miên man của một mảnh hồn nặng nợ với quê hương xứ sở, bản quán cội nguồn. Có lẽ nơi nhân vật “tôi” sinh ra - đất mẹ đã hóa thân thành một linh hồn cất tiếng nói, đang dõi theo từng rung cảm trái tim nơi ông.

Nhà văn Mai Văn Tạo sinh ra và lớn lên trong ngôi làng vùng biên viễn Vĩnh Tế. Bà con, chòm xóm miền sơn cước xứ Học Lĩnh Sơn - Vĩnh Tế Sơn thân thiết với ông từ tên gọi “ở nhà” rất mộc: “Chín Giỏi”. Cả làng ông Chín ấy đã cuộn chảy lớn lên từ dòng sữa Vĩnh Tế ngọt lịm, ấm nồng. Từ nhịp đập háo hức, rực lứa của trái tim ông mới sản sinh được những lời văn chân mộc, thiết tha, đằm thắm làm về tình quê, tình người của làng mình, của vùng biên giới cực Nam Tổ quốc đầy sâu nặng, thân thương. Điều đó còn lắng sâu trong bài ca vọng cổ nổi tiếng của soạn giả Chí Linh -“Quê Mẹ An Giang”, đã để lại dấu ấn đậm đà hương vị đồng quê, cho những đứa con đã ra đi biệt xứ, những mảnh đời trôi sông, lạc bến nơi chợ lạ xứ xa đêm ngày khắc khoải. Thêm một vùng đất được định danh trong cõi chữ miên man của hoài niệm ký ức. Một vẻ đẹp lấp lánh rất riêng giữa trăm miền quê hương của Tổ quốc…

Các lớp học trò ngày trước, đã học qua chương trình bộ môn Quốc văn lớp 7 đều biết đến tác phẩm Mai Văn Tạo, qua thể tài tản văn và các đoạn trích dẫn từ bút kí của ông. Đó là những trang viết về “An Giang quê tôi”, “Ký ức một miền quê”, “An Giang - tình sâu nghĩa nặng”….Trong ông luôn phảng phất niềm tự hào về “cái đẹp, cái lớn của quê mình”, qua bút pháp tả cảnh gợi sự tâm tình, giàu biểu cảm. Như sự hiện diện của dòng sông Vĩnh Tế, khung cảnh quê hương đối với người dân bản xứ, đã được ông ghi lại: “Tuổi thơ tôi hằn sâu trong ký ức những ngọn núi trông xa lấp lánh như kim cương, lúc xanh mờ, khi xanh thẫm, lúc tím lơ, khi rực rỡ như núi ngọc màu xanh. Những năm tháng xa quê, dông tố cuộc đời tưởng chừng như cuốn bay tất cả, nhưng trong tâm tư tôi những dòng sông quê mênh mông vẫn cuồn cuộn chảy, những dòng kinh biêng biếc vẫn lặng lờ trôi. Tôi yêu những cánh đồng bao la vàng rực ngày mùa. Tôi yêu cả tiếng chuông chùa ngân thăm thẳm canh khuya. Tôi yêu cây gáo mồ côi, cây gáo đôi im lìm xa xăm ngoài đồng bãi. Với điệp khúc “Tôi yêu…Tôi yêu …” như một lối văn vừa kể, vừa tỏ bày. Tất cả tạo điểm nhấn tư tưởng, làm điểm tựa cho cảm xúc tuôn trào một niềm yêu quý quê hương xứ sở đầy chất chứa. Văn ông đậm đà sắc thái tự sự trữ tình, nhẹ nhàng mà cứ da diết trĩu nặng tâm hồn. Kỷ niệm vui buồn tuổi ấu thơ, khung cảnh quê nhà tĩnh lặng đơn sơ, mộc mạc, mỹ quan của sắc màu đá núi được đặt trong tâm cảnh, nhà văn đã dẫn dắt bạn đọc đi từ biểu đạt trực tiếp đến truyền tải những tâm tình gián tiếp, giàu sức gợi những cung bậc cảm xúc, tình cảm. Từ kỷ niệm của hồi ức đi đến tâm tình và mong ước những chuyến đi điền dã “tự nguyện” về những nơi vùng đất lịch sử, con người kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm:

“An Giang từ bao đời đến bây giờ là đất nóng, là bãi chiến trường. Bờ cõi An Giang đời này sang đời khác luôn bị xâm lăng và đẫm máu… Tôi thèm được leo lên Pháo Đài tìm lại phiến đá nào đã in dấu chân Hoàng Đạo Cật, cùng các đồng đội, đồng chí của anh…” Tôi muốn tìm lại vang bóng con người đến phút cuối đời còn làm cho giặc khiếp sợ mà nhà cách mạng Phan Bội Châu nghe tin đã khóc…”

Từ truyền thống đấu tranh can trường của đồng bào mình - khoảnh khắc sống và trở về giữa vùng đất quê hương chịu nhiều bom đạn, giờ đã ngời rạng nét hòa bình an lạc, tác giả bày tỏ niềm xúc cảm nhớ nhung, tự hào khi quay về quê cũ, cảm thấy quê hương mình đẹp hơn lúc ra đi. Những nỗi niềm cảm, tưởng sâu thẳm trước thời gian, trước đất mẹ…

Đọc Mai Văn Tạo ta cảm nhận được tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng của nhà văn đối với từng tất đất quê hương… Một giọng văn đằm thắm, gợi cảm sâu sắc. Sức hấp dẫn của văn Mai Văn Tạo đến giọng điệu trữ tình, những quan sát tinh tế, chọn lọc và chân thực. Mỗi lời văn thủ thỉ, thiết tha với cả tâm tình, hồn quê len lỏi qua mỗi nhịp đập con tim, khối óc và nơi con chữ tượng hình. Nơi ấy, đã được ông định danh như “lẽ sống” đời mình. Ông muốn mang theo quê hương trên mỗi bước hành trình. Để vừa đi, vừa sống mà không xa nguồn cội, luôn thủy chung nhất quán với tình đất, tình người quê hương.

Trần Quang Khanh - Hội viên: Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật An Giang, Hội Khoa học Lịch sử An Giang

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm