TIN TỨC

Ẩn số đường đến thơ của Trần Hóa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-04 19:39:13
mail facebook google pos stwis
1883 lượt xem

Với bài viết dưới đây, nhà văn Trầm Hương đi tìm lời giải cho “ẩn số đường đến thơ” và thấy trong thơ Trần Hóa dạt dào lòng trắc ẩn, bắt nguồn từ tiếng ru của bà, của mẹ, trải qua chiến tranh, bệnh tật, thương trường… để rồi kết tinh thành những câu thơ giản dị mà chạm lòng người.
 

TRẦM HƯƠNG

Khép lại trang cuối tập thơ “Lời ru bão giông”, tôi tự hỏi điều gì đã khiến Trần Hóa tìm đến thơ. Người đàn ông này không còn trẻ nữa. Anh đã ở tuổi ngoài 70, đã nếm đủ hương vị hỉ nộ ái ố của cuộc đời, đã từng cầm súng chiến đấu, trở về với đời thường, nỗ lực lập thân, kiến tạo gia đình hạnh phúc.Nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con xinh; từng đi qua cửa tử của căn bệnh hiểm nghèo… Anh còn thiếu gì để khao khát, có gì để đáng kinh ngạc?! Vậy mà có một thứ đã khiến anh lao tâm khổ tứ kiếm tìm, dành cho nó một tình yêu mãnh liệt, chân thành mà không màng được đáp trả. Đó là thơ. Trong bài viết này, tôi không phân tích thơ anh hay, dỡ, huyền ảo hay vi diệu mà qua mỗi bài thơ, tôi được gợi lên nhiều điều, tự hỏi điều gì đã khiến anh tìm đến thơ. Tôi đoán định, suy diễn rồi không dừng được, hỏi thẳng anh. Nhà thơ trải lòng:

“Không thể gọi tên chính xác nhưng có lẽ chính là những lời ru à ơi, là những câu hát ví của bà của mẹ từ thưở Trần Hóa còn nằm nôi, ẵm ngửa ở một miền quê sông nước vùng đồng bắng Bắc bộ… Sau này lớn lên, tôi được học, được đọc những tác phẩm thơ của các tác giả trong và ngoài nước, dần dần khám phá ra sự diệu kỳ của thơ trong chuyển tải mọi mặt những giá trị của xã hội nhân sinh, vạn vật… Tất cả đã nuôi dưỡng hồn thơ và nuôi dưỡng tình yêu thi phú nơi Trần Hóa! Có thể gọi đó là cơ duyên đưa Trần Hóa đến với thơ ca chăng?”


Nhà văn Trầm Hương tặng hoa nhà thơ Trần Xuân Hóa.

Qua những gì anh bộc bạch, tôi hiểu anh có quá nhiều tố chất, điều kiện cần và đủ của tâm hồn, trí tuệ để trở thành nhà thơ. Nhưng tôi dừng lại rất lâu ở những bài thơ chưa thể gọi là thơ, còn rất thơ mộc, lục cục lòn hòn mà sao rất gợi. Nhiều bài thơ không nhiều mỹ từ mà sao níu lại cảm xúc người đọc. Một thứ cảm xúc chân thành, không trôi theo trang giấy. Để gọi đúng tên, nó là gì, phải chăng chính là lòng trắc ẩn. Xin bạn đọc dừng ít phút để đọc bài thơ “Hai đứa bé”:

“Những lúc làm về tôi qua đầu hẻm nhỏ

Có hai đứa bé ngồi đây

                        Không biết đã bao lần?

Chúng dỗ dành nhau

                         Mà tôi quá đỗi bâng khuâng

Ngồi đây anh chạy kiếm tiền

                         Mua em cây kẹo mút

Có cái bóng bay và hình bụt nữa nè

Ngồi yên đó nghe em - xem chừng lạc mất

Hai đứa bé như đôi chim non - hổn hển đói mồi…”

Đó là thơ hay là tự sự. Và anh quan sát:

“Thằng anh thấy như già trước tuổi

Đứa em còi như thiếu dinh dưỡng lâu ngày…”

Một người lính đã từng cầm súng chiến đấu cho hòa bình như anh sao có thể dửng dưng, sao không đau, không trắc ẩn trước những số phận trẻ thơ cơ nhỡ, lang thang. Anh không cố ý làm thơ nhưng tiếng lòng lên tiếng, chảy thành câu chữ, trở thành thơ, có sức lay động tim người. Buông súng, cởi áo lính, anh trở về đời thường, lao vào kinh doanh. Và rồi anh cảm nhận một cách sâu sắc, thương trường còn khốc liệt hơn cả chiến trường. Có thể anh kiếm được nhiều tiền nhưng vẫn thấy chông chênh, trống vắng (Cà phê xưa):

“… Khổ tôi nhiều em có thấy hay chưa?

Giọt cà phê rơi chiều vào xa vắng

Mơ hồ tôi lãng đãng phía không em

Giấc mơ nào rớt mộng xuống tàn đêm

Giật mình tôi - cà phê xưa - lại đến

Rong ruổi mình câu thơ cũng lênh đênh”

Anh kiến tạo một gia đình hạnh phúc, bên vợ đẹp con ngoan, vẫn không nguôi trắc ẩn số phận những người phụ nữ kém may mắn. Lời ru người mẹ đơn thân vị thành niên cứa vào lòng anh nỗi thương cảm, xót xa (Lời ru bão giông). Lòng trắc ẩn khiến nỗi đau nhân lên nhiều lần, trách nhiệm cũng nhân đôi, qua lời ru đôn hậu, giàu nghị lưc của người bà:

“… Ru con ru cháu ngậm ngùi

Ru mình bằng một nụ cười như nhiên

Tha phương mẹ lạc xứ phiền

Áo cơm lận đận bạc tiền đâu ra

Con đâu sánh kịp người ta

Nên chi phải hiến thật thà cho điêu

Chết trong lòng mẹ ít nhiều

Chỉ trách trời đất còn nhiều bất công

Thôi con nín lại trong lòng

Bật ra nội lực đi trong cuộc đời…”

Là một cựu binh, tôi không ngạc nhiên vì sao thơ Trần Hóa dành phần lớn dung lượng cho tình yêu quê hương, đất nước, nghĩa đồng bào và những người ngã xuống cho Tổ quốc. Anh thổn thức trước cơn bão tàn phá quê nhà, khao khát sự bình yên:

“Bao giờ trở lại những bi bô tiếng trẻ

Chiếu đất màn trời thôi khắc khổ đất Mẹ ơi!

Đã từng cầm súng giữ đất quê hương nên người cựu binh Trần Hóa thâm trầm đi qua vùng đất từng ghi khắc những chiến tích và dấu tích chiến tranh tàn phá. Có lẽ những câu thơ này chỉ có được ở một cựu binh làm thơ, với cái nhìn sâu vào từng thớ đất, nhìn sâu vào rừng đước xanh bạt ngàn, còn ẩn giấu bao ẩn số của hôm qua và hôm nay (Cần Giờ chiều nghe rừng hát):

“… Người ngã xuống đất trường tồn

Rừng thiên thu hóa lính hồn người đi

Chiều nay rừng hát câu gì

Mà nghe trong đất thầm thì tương lai”

Tổ quốc đồng nghĩa với người mẹ, hình bóng mẹ lồng trong đất nước… Những khái niệm thiêng liêng về Tổ quốc và mẹ gặp nhau trong suy tưởng nhiều nhà thơ. Nhưng Tổ quốc và những người phụ nữ trở nên thật giản dị, hồn hậu, thật cụ thể mà vô cùng thiêng liêng, lớn lao trong thơ Trần Hóa (Những người phụ nữ tôi yêu). Với anh, yêu vợ, yêu mẹ cũng là yêu Tổ quốc:

“… Tổ quốc tôi yêu vì bao điều kỳ vĩ

Kỳ vĩ vô song đó là chị, Mẹ tôi

Là vợ chắt chiu tần tảo cả đời

Dành củ, nhường cơm cho chồng con khi đói

Tôi yêu Tổ quốc của tôi”

Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh dẫu không phải là thủ đô nhưng là thành phố trong tim mọi người con nước Việt. Người cựu binh - nhà thơ Trần Hóa đồng nhất thành phố thiêng liêng này cũng là Tổ quốc, nên đau đớn lắm khi dịch dữ tràn vào thành phố, gây bao thàm cảnh mất mát, tang thương. Nỗi đau của một cựu binh không bi lụy mà thật bi tráng cho những câu thơ lên tiếng:

“… Hỏi có nơi nào như Tổ quốc của tôi

Hỏi có nơi nào như thành phố của tôi

Mọi chốn bệnh mọi chốn đau quặn thắt

Bởi chốn nào cũng đều là máu thit

Máu - máu Việt Nam - Thịt - thịt Việt Nam

Dịch - giặc hung tàn Tổ quốc dẫu nguy nan

Trăm lần như thế Tổ quốc này đều thắng

Để trẻ được đến trường hàng hàng thật thẳng

Cờ lại tung bay vang dội - Tiến quân ca

Thành phố của ta - Tổ quốc của ta

Đoàn kết lại đại dịch này quyết thắng

Tôi dừng lại rất lâu những trang thơ anh viết về đồng đội, về người mẹ ở nghĩa trang, với tất cả sự đồng cảm. Tình cảm đằm và sâu ấy, chân thành, da diết, nghĩa tình, trách nhiệm ấy vang lên từ tiếng lòng của một cựu binh (Chỗ bạn tôi nằm):

“… Bạn đã đi xa năm chục năm tròn

Đất nước đổi thay khác xưa nhiều lắm

Còn mãi trong tôi một nỗi niềm sâu thẳm

Chỗ khúc sông nào V nằm lại bạn ơi!

Xin những con thuyền qua đó nhẹ tay bơi.”

Trách nhiệm với đồng đội, với những người hy sinh đi suốt cùng đời anh, với những chuyến đi, tìm về cội nguồn, quá khứ. Anh đi tìm bạn bằng xuyên không, bằng những chuyến đi tìm về chiến trường xưa, băng qua những con đường thiên lý, miệt mài trên những dòng sông, băng rừng, lội suối, trèo non… Những câu thơ tìm đồng đội của Tràn Hóa cứ làm tôi rưng rưng:

“Hôn lên nắm đất ngày về

Chiến trường xưa vẫn hẹn thề nhớ nhau

Lòng mình còn đó nỗi đau

Chưa tìm được bạn - úa nhàu tâm tư.

 

Bước ngang lội dọc sật sừ

Dấu xưa lạc mất bây chừ tìm đâu

Hỏi cây cao hỏi suối sâu

Bà Đen núi đã bạc đầu sương giăng…”

Núi có thể bạc đầu nhưng tình anh dành cho đồng đội không đen bạc. Tình ấy được thể hiện bằng trách nhiệm của người đang được sống hôm nay. Anh đang sống thay cho đồng đội, không thể sống dửng dưng, vô cảm, thấp hèn.

Trần Hóa dùng thơ thay lời tâm sự; thể hiện những cảm xúc, tâm tư, tình cảm, ý chí và nghị lực. Phải chăng thơ là phương tiện để anh kết nối tiểu vũ trụ mà anh cho là nhỏ nhoi của bản thân mình đến với người, với đời; chỉ để đồng cảm, được động viên, chia sẻ, lan tỏa tình yêu thương từ những cảm xúc rất riêng, rất vi tế trong sâu thẳm trái tim. Hiểu được phần nào ẩn số đường đến với thơ của cựu binh Trần Hóa, ta cũng phần nào đoán định được tương lai thơ của anh.

Phường Cầu Kiệu, 20 tháng tám năm 2025

T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm