TIN TỨC

“Khoảng trời xanh ký ức” – khúc lắng đọng, yêu thương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-16 16:01:05
mail facebook google pos stwis
1922 lượt xem

Sau buổi ra mắt ấm áp tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức (30/5/2025), bài viết của TS. Hoàng Thị Thu Thủy tiếp tục khắc họa nét đẹp dung dị và giàu cảm xúc trong thơ Nguyễn Thị Phương Nam – một “nhật ký tâm hồn” chạm đến trái tim người đọc. 

TS. HOÀNG THỊ THU THỦY

Tôi xem bài thơ “Yêu thơ” của nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Nam trong tập thơ “Dòng sông và nỗi nhớ” như là tuyên ngôn thơ: “Tiếng đài khuya vọng ngân nga/ Thơ ơi vang mãi thiết tha mặn nồng/ Từng câu từng ý vào lòng/ Yêu thơ ta nguyện thủy chung trọn đời”; “Thơ, làm nhịp cầu nối hai tâm hồn/ Thơ, giúp em vượt qua ngàn cay đắng” (Để em thức cùng thơ – Gửi vào khoảng lặng). Chị từng là nhà giáo (1969 - 1981), rồi chuyển sang công tác tại Tổng công ty 28, Tổng cục Hậu Cần Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng và mang quân hàm Trung tá QNCN, chị là Hội viên Hội nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Thơ là cứu cánh cho nữ thi sĩ – nhà giáo, nữ thi sĩ – quân nhân trong những năm tháng vừa làm tròn nhiệm vụ của một công dân vừa làm tròn bổn phận của một người vợ thủy chung, một người mẹ đảm đang và cả khi lên chức bà hiền hậu, thân thương. Thủy chung cùng thơ, yêu thơ và sáng tác, cho đến nay chị đã lần lượt xuất bản 7 tập thơ: “Dòng sông và nỗi nhớ” (2006); “Hương thiên lý” (2013), “Vọng mãi lời ru” (Sưu tầm, 2014), “Nơi đó có tình yêu” (2016), “Gửi vào khoảng lặng” (2018) “Thì thầm tiếng gió” (2021); và chị vừa ra mắt tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” vào năm 2025.

 “Dưới khoảng trời xanh ấy/ Có ngày xưa đôi ta/ Trĩu ân tình biết mấy/ Câu thơ níu quê nhà” (Khoảng trời xanh ký ức). Lấy tên bài thơ “Khoảng trời xanh ký ức” làm tựa đề cho tập thơ, nhà thơ đã gửi gắm vào trong đó những ký ức ngọt ngào về tình yêu, về mẹ, về quê hương, về nghề nghiệp, về những khoảng thời gian thăng trầm với mọi buồn vui cùng cảm xúc dâng trào: “Có vệt phấn vắt ngang/ Tuổi thơ thành trí tuệ/ Từ những lời cô giảng/ Ôi! Mênh mang quê nhà… Dưới khoảng trời xanh ấy/ Cánh chim chiều nghiêng chao/ Gom hoàng hôn vào tối/ Thương ngày xưa chiến hào”. Chọn thể thơ 5 chữ, cùng lối hồi tưởng chắt lọc cùng thi tứ, bài thơ như mở ra một vùng ký ức thật đẹp, dẫu có gian khó thì vùng ký ức đó vẫn mang màu hồng bởi cái nhìn của thi sĩ đầy trân trọng, thương yêu. Câu thơ “Cánh chim chiều nghiêng chao/ Gom hoàng hôn vào tối” quá hay. “Cánh chim chiều” là thi ảnh quen thuộc trong thi ca từ cổ điển đến hiện đại. Trong khoảng trời xanh biếc chị đã nhận ra cái bé nhỏ, cô đơn khi đối diện với hai hình ảnh đối lập giữa cánh chim và bầu trời. Cánh cò trắng trong câu thơ “Bạch lộ song song phi hạ điền”([1]) – (Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng – bản dịch của Ngô tất Tố) là điểm sáng trong tâm thức thi nhân Trần Nhân Tông khi trời đã nhá nhem, nhập nhoạng. Còn với nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Nam thì cánh chim càng tô đậm thêm bóng tối “Gom hoàng hôn vào tối” – một cảm nhận hết sức chân thực với cái nhìn từng trải và những trải nghiệm trong chính hành trình của chị với cuộc đời và thơ ca. Nên mỗi bài thơ trong tập thơ của chị là những tri âm gửi từ lòng mình đến độc giả.

Nhật ký thơ của chị hiển hiện trên mỗi vui buồn “nhớ về thời hoa lửa, nhớ mẹ, nhớ những người thân thương”; lòng biết ơn với những sự kiện “Nhận huy hiệu Đảng”, “Kỷ niệm ngày cưới”, “Mừng sinh nhật con”, “Mừng cháu nhận bằng tốt nghiệp”… cùng những biến cố về bệnh tật, về Covid… Thế giới thơ của chị thân thương, gần gũi, dường như cuộc sống cùng những suy tư chị đều gửi vào “Khoảng trời xanh ký ức”. Vì là nhật ký bằng thơ nên thể thơ 5 chữ đắc dụng trong việc chuyển tải cảm xúc cùng thi ảnh, thể thơ này mang vẻ đẹp dung dị mà lại có khả năng chuyển tải sâu sắc những cảm xúc và ý tưởng phong phú. Đa phần những bài thơ trong tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” được viết theo thể thơ 5 chữ.

Hình ảnh người mẹ trong thơ chị vừa mang dáng dấp của những người mẹ Việt Nam tảo tần, lo toan, chịu đựng, hi sinh vì chồng con; vừa mang nét riêng của miền đất khói lửa Vĩnh Linh - Quảng Trị: “Cha theo tiếng gọi non sông/ Đi theo cách mạng trong vùng chiến khu/ Hỡi ôi viên đạn quân thù/ Bắn cha ngã gục bên bờ suối xa/ Mênh mông trời đất bao la/ Một đàn con dại mẹ già gian nan/ Chị em phân tán đôi đàng/ Làm thuê ở mướn kiếm ăn qua ngày” (Bài thơ dâng mẹ). “Trải qua bao năm tháng/ Mẹ tần tảo nuôi con/ Đôi vai mẹ gầy mòn/ Đôi bàn tay rám nắng/ Gian nan và cay đắng/ vất vả cứ đong đầy”; bài thơ còn là lời nhắn nhủ thiết tha về tình mẫu tử thiêng liêng: “Nhắn ai còn có mẹ/ Đừng để tháng ngày trôi/ Sau này dù ân hận/ Khi đó đã muộn rồi” (Ký ức về mẹ)

 “Ngày tháng cứ trôi đi/ Thơ thì thầm muốn nói/ Thời gian ơi chậm lại/ Lòng xưa còn thiết tha” (Thời gian ơi chậm lại). Không hiểu sao khi đọc những câu thơ này lòng tôi trào dâng cảm xúc tiếc nuối. Một người thơ tha thiết, đi cùng thơ trọn đời; một cô giáo dạy văn bao năm truyền lửa cho trò; một người lính kiên trung một lòng theo lý tưởng… chợt buồn vì bi kịch thời gian, đó là bi kịch mà ai cũng trải qua giữa thời gian vũ trụ vần vũ đến rồi lại đi và thời gian đời người ngắn ngủi. Làm vợ, làm mẹ, làm bà chị có ít thời gian dành cho bản thân (kể từ khi anh vào viện với bệnh tim), vậy mà vẫn có những vần thơ tha thiết với cuộc sống, với những miền đất chị đặt chân đến thì quá trân trọng, những bài thơ “Về Tiền Giang”, “Thăm tượng đài Nguyễn Huệ bên sông Tiền”, “Biển chiều Phan Thiết”, “Đêm giao lưu với đoàn 146 hải quân”… là những xúc cảm dâng trào trong trái tim thi sĩ, bởi đó là khoảng thời gian hạnh phúc của chị, khi thảnh thơi ngắm nhìn, khi vui vẻ cùng đồng đội.

 “Mũi Né đây rồi em biết không/ Gió chiều lồng lộng đuổi mây hồng/ Dập dồn sóng trắng xô bờ cát/ Những ngọn dừa xanh ai vít cong?/ Em ở đâu dưới trời Phan Thiết? Nhìn tấm hình em giữa mênh mông/ Ước gì với nhau cùng một chuyến/ Cùng ngắm biển chiều đỡ nhớ mong” (Biển chiều Phan Thiết). Thi tứ bài thơ quá tình, giọng thơ nữ tính dịu dàng như chính cái dịu dàng của tính cách nhà thơ. Những câu thơ vừa lấp lánh thi ảnh, vừa quấn quýt tâm tình, vừa chứa chan cảm xúc và trên hết vẫn là tài thơ trong cấu tứ thi ảnh “Dập dồn sóng trắng xô bờ cát/ Những ngọn dừa xanh ai vít cong?”, cái nhìn thi nhân rất lạ, rất mới cùng câu hỏi tu từ “Những ngọn dừa xanh ai vít cong?”.

Thi tứ “Chiếc lá mùa thu” chứa chan ký ức về một thời hoa lửa, về những nhớ mong, chờ đợi; chọn “chiếc lá” như một nốt nhạc trầm bổng trong hành trình trở về với ký ức cũng là sáng tạo trong thi ca và chị đã làm mới cho chính mình với những vần thơ dặt dìu kỷ niệm: “Mùa thu đi qua từng chiếc lá/ Trong gió chiều thấp thoáng bay bay/ Lòng bỗng trở về một ngày thu năm ấy/ dưới gốc cây già, lá chạm khẽ bờ vai” (Chiếc lá mùa thu)

Người đọc cảm mến thơ chị bởi cái giọng thơ đằm thắm, dịu dàng, nữ tính, tình yêu và sự thủy chung là điểm tựa cho chị vượt lên tất cả: “Những đóa hoa hồng gửi tặng ông/ “Tình yêu” hòa quyện với “thủy chung”/ Bốn chữ thiêng liêng luôn gìn giữ/ Hạnh phúc trọn đời con cháu mong” (Mừng sinh nhật thời Covid). Đi qua năm tháng, từ sự chờ đợi “Ôi nỗi niềm vợ lính/ Cứ đợi chờ nhớ thương” (Hai năm sau ngày cưới), đến hòa bình đoàn tụ “Chuyển vào Nam theo chồng” (Cuộc thiên di vội vã), rồi cùng nhau trải qua bao thăng trầm, giờ đến độ tuổi mà “anh ốm, chị chăm”, cùng nhau vượt qua bạo bệnh, hi vọng và yêu thương.

Nhật kí thơ” trong “Khoảng trời xanh ký ức” với đầy đủ các cung bậc cảm xúc, nơi đó chị gửi gắm tình yêu, nỗi ước mong, hy vọng và những cảm xúc thương cảm trước tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình… Xem thơ là cứu cánh, nên cảm xúc trong thơ chị chân thật, bày tỏ đúng những gì nhà thơ cảm nhận từ tấm lòng, có chiều sâu nên gợi lên những duy tư và đồng cảm của người đọc, đó cũng là lý do để tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” chạm đến trái tim độc giả.

Thi pháp thể loại ở tập thơ này không có nhiều đột biến, đa phần là thơ 5 chữ, một vài bài theo thể thơ lục bát – thơ lục bát cũng là thế mạnh của nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam, vì với thể thơ này chị thường có những câu thơ xuất thần, và tứ thơ hay. Bài thơ “Ai ra xứ Huế đừng quên” là một ví dụ. Là “nhật ký thơ” bộc bạch cảm xúc với những vùng đất, những con người thân thương nên ở tập thơ này chị vẫn tiếp nối giọng thơ thủ thỉ, tâm tình như ở những tập thơ trước. Giọng thơ ít biến đổi, chứng tỏ nữ thi sĩ đã vượt qua những cảm xúc thông thường để gửi vào thơ những gì lắng đọng, yêu thương, đó là điều khiến cho thơ chị có thật nhiều thương mến.

Huế, ngày 16/9/2025


([1]) Thiên trường vãn vọng – Trần Nhân Tông

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm