TIN TỨC

“Khoảng trời xanh ký ức” – khúc lắng đọng, yêu thương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-16 16:01:05
mail facebook google pos stwis
2038 lượt xem

Sau buổi ra mắt ấm áp tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức (30/5/2025), bài viết của TS. Hoàng Thị Thu Thủy tiếp tục khắc họa nét đẹp dung dị và giàu cảm xúc trong thơ Nguyễn Thị Phương Nam – một “nhật ký tâm hồn” chạm đến trái tim người đọc. 

TS. HOÀNG THỊ THU THỦY

Tôi xem bài thơ “Yêu thơ” của nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Nam trong tập thơ “Dòng sông và nỗi nhớ” như là tuyên ngôn thơ: “Tiếng đài khuya vọng ngân nga/ Thơ ơi vang mãi thiết tha mặn nồng/ Từng câu từng ý vào lòng/ Yêu thơ ta nguyện thủy chung trọn đời”; “Thơ, làm nhịp cầu nối hai tâm hồn/ Thơ, giúp em vượt qua ngàn cay đắng” (Để em thức cùng thơ – Gửi vào khoảng lặng). Chị từng là nhà giáo (1969 - 1981), rồi chuyển sang công tác tại Tổng công ty 28, Tổng cục Hậu Cần Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng và mang quân hàm Trung tá QNCN, chị là Hội viên Hội nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Thơ là cứu cánh cho nữ thi sĩ – nhà giáo, nữ thi sĩ – quân nhân trong những năm tháng vừa làm tròn nhiệm vụ của một công dân vừa làm tròn bổn phận của một người vợ thủy chung, một người mẹ đảm đang và cả khi lên chức bà hiền hậu, thân thương. Thủy chung cùng thơ, yêu thơ và sáng tác, cho đến nay chị đã lần lượt xuất bản 7 tập thơ: “Dòng sông và nỗi nhớ” (2006); “Hương thiên lý” (2013), “Vọng mãi lời ru” (Sưu tầm, 2014), “Nơi đó có tình yêu” (2016), “Gửi vào khoảng lặng” (2018) “Thì thầm tiếng gió” (2021); và chị vừa ra mắt tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” vào năm 2025.

 “Dưới khoảng trời xanh ấy/ Có ngày xưa đôi ta/ Trĩu ân tình biết mấy/ Câu thơ níu quê nhà” (Khoảng trời xanh ký ức). Lấy tên bài thơ “Khoảng trời xanh ký ức” làm tựa đề cho tập thơ, nhà thơ đã gửi gắm vào trong đó những ký ức ngọt ngào về tình yêu, về mẹ, về quê hương, về nghề nghiệp, về những khoảng thời gian thăng trầm với mọi buồn vui cùng cảm xúc dâng trào: “Có vệt phấn vắt ngang/ Tuổi thơ thành trí tuệ/ Từ những lời cô giảng/ Ôi! Mênh mang quê nhà… Dưới khoảng trời xanh ấy/ Cánh chim chiều nghiêng chao/ Gom hoàng hôn vào tối/ Thương ngày xưa chiến hào”. Chọn thể thơ 5 chữ, cùng lối hồi tưởng chắt lọc cùng thi tứ, bài thơ như mở ra một vùng ký ức thật đẹp, dẫu có gian khó thì vùng ký ức đó vẫn mang màu hồng bởi cái nhìn của thi sĩ đầy trân trọng, thương yêu. Câu thơ “Cánh chim chiều nghiêng chao/ Gom hoàng hôn vào tối” quá hay. “Cánh chim chiều” là thi ảnh quen thuộc trong thi ca từ cổ điển đến hiện đại. Trong khoảng trời xanh biếc chị đã nhận ra cái bé nhỏ, cô đơn khi đối diện với hai hình ảnh đối lập giữa cánh chim và bầu trời. Cánh cò trắng trong câu thơ “Bạch lộ song song phi hạ điền”([1]) – (Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng – bản dịch của Ngô tất Tố) là điểm sáng trong tâm thức thi nhân Trần Nhân Tông khi trời đã nhá nhem, nhập nhoạng. Còn với nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Nam thì cánh chim càng tô đậm thêm bóng tối “Gom hoàng hôn vào tối” – một cảm nhận hết sức chân thực với cái nhìn từng trải và những trải nghiệm trong chính hành trình của chị với cuộc đời và thơ ca. Nên mỗi bài thơ trong tập thơ của chị là những tri âm gửi từ lòng mình đến độc giả.

Nhật ký thơ của chị hiển hiện trên mỗi vui buồn “nhớ về thời hoa lửa, nhớ mẹ, nhớ những người thân thương”; lòng biết ơn với những sự kiện “Nhận huy hiệu Đảng”, “Kỷ niệm ngày cưới”, “Mừng sinh nhật con”, “Mừng cháu nhận bằng tốt nghiệp”… cùng những biến cố về bệnh tật, về Covid… Thế giới thơ của chị thân thương, gần gũi, dường như cuộc sống cùng những suy tư chị đều gửi vào “Khoảng trời xanh ký ức”. Vì là nhật ký bằng thơ nên thể thơ 5 chữ đắc dụng trong việc chuyển tải cảm xúc cùng thi ảnh, thể thơ này mang vẻ đẹp dung dị mà lại có khả năng chuyển tải sâu sắc những cảm xúc và ý tưởng phong phú. Đa phần những bài thơ trong tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” được viết theo thể thơ 5 chữ.

Hình ảnh người mẹ trong thơ chị vừa mang dáng dấp của những người mẹ Việt Nam tảo tần, lo toan, chịu đựng, hi sinh vì chồng con; vừa mang nét riêng của miền đất khói lửa Vĩnh Linh - Quảng Trị: “Cha theo tiếng gọi non sông/ Đi theo cách mạng trong vùng chiến khu/ Hỡi ôi viên đạn quân thù/ Bắn cha ngã gục bên bờ suối xa/ Mênh mông trời đất bao la/ Một đàn con dại mẹ già gian nan/ Chị em phân tán đôi đàng/ Làm thuê ở mướn kiếm ăn qua ngày” (Bài thơ dâng mẹ). “Trải qua bao năm tháng/ Mẹ tần tảo nuôi con/ Đôi vai mẹ gầy mòn/ Đôi bàn tay rám nắng/ Gian nan và cay đắng/ vất vả cứ đong đầy”; bài thơ còn là lời nhắn nhủ thiết tha về tình mẫu tử thiêng liêng: “Nhắn ai còn có mẹ/ Đừng để tháng ngày trôi/ Sau này dù ân hận/ Khi đó đã muộn rồi” (Ký ức về mẹ)

 “Ngày tháng cứ trôi đi/ Thơ thì thầm muốn nói/ Thời gian ơi chậm lại/ Lòng xưa còn thiết tha” (Thời gian ơi chậm lại). Không hiểu sao khi đọc những câu thơ này lòng tôi trào dâng cảm xúc tiếc nuối. Một người thơ tha thiết, đi cùng thơ trọn đời; một cô giáo dạy văn bao năm truyền lửa cho trò; một người lính kiên trung một lòng theo lý tưởng… chợt buồn vì bi kịch thời gian, đó là bi kịch mà ai cũng trải qua giữa thời gian vũ trụ vần vũ đến rồi lại đi và thời gian đời người ngắn ngủi. Làm vợ, làm mẹ, làm bà chị có ít thời gian dành cho bản thân (kể từ khi anh vào viện với bệnh tim), vậy mà vẫn có những vần thơ tha thiết với cuộc sống, với những miền đất chị đặt chân đến thì quá trân trọng, những bài thơ “Về Tiền Giang”, “Thăm tượng đài Nguyễn Huệ bên sông Tiền”, “Biển chiều Phan Thiết”, “Đêm giao lưu với đoàn 146 hải quân”… là những xúc cảm dâng trào trong trái tim thi sĩ, bởi đó là khoảng thời gian hạnh phúc của chị, khi thảnh thơi ngắm nhìn, khi vui vẻ cùng đồng đội.

 “Mũi Né đây rồi em biết không/ Gió chiều lồng lộng đuổi mây hồng/ Dập dồn sóng trắng xô bờ cát/ Những ngọn dừa xanh ai vít cong?/ Em ở đâu dưới trời Phan Thiết? Nhìn tấm hình em giữa mênh mông/ Ước gì với nhau cùng một chuyến/ Cùng ngắm biển chiều đỡ nhớ mong” (Biển chiều Phan Thiết). Thi tứ bài thơ quá tình, giọng thơ nữ tính dịu dàng như chính cái dịu dàng của tính cách nhà thơ. Những câu thơ vừa lấp lánh thi ảnh, vừa quấn quýt tâm tình, vừa chứa chan cảm xúc và trên hết vẫn là tài thơ trong cấu tứ thi ảnh “Dập dồn sóng trắng xô bờ cát/ Những ngọn dừa xanh ai vít cong?”, cái nhìn thi nhân rất lạ, rất mới cùng câu hỏi tu từ “Những ngọn dừa xanh ai vít cong?”.

Thi tứ “Chiếc lá mùa thu” chứa chan ký ức về một thời hoa lửa, về những nhớ mong, chờ đợi; chọn “chiếc lá” như một nốt nhạc trầm bổng trong hành trình trở về với ký ức cũng là sáng tạo trong thi ca và chị đã làm mới cho chính mình với những vần thơ dặt dìu kỷ niệm: “Mùa thu đi qua từng chiếc lá/ Trong gió chiều thấp thoáng bay bay/ Lòng bỗng trở về một ngày thu năm ấy/ dưới gốc cây già, lá chạm khẽ bờ vai” (Chiếc lá mùa thu)

Người đọc cảm mến thơ chị bởi cái giọng thơ đằm thắm, dịu dàng, nữ tính, tình yêu và sự thủy chung là điểm tựa cho chị vượt lên tất cả: “Những đóa hoa hồng gửi tặng ông/ “Tình yêu” hòa quyện với “thủy chung”/ Bốn chữ thiêng liêng luôn gìn giữ/ Hạnh phúc trọn đời con cháu mong” (Mừng sinh nhật thời Covid). Đi qua năm tháng, từ sự chờ đợi “Ôi nỗi niềm vợ lính/ Cứ đợi chờ nhớ thương” (Hai năm sau ngày cưới), đến hòa bình đoàn tụ “Chuyển vào Nam theo chồng” (Cuộc thiên di vội vã), rồi cùng nhau trải qua bao thăng trầm, giờ đến độ tuổi mà “anh ốm, chị chăm”, cùng nhau vượt qua bạo bệnh, hi vọng và yêu thương.

Nhật kí thơ” trong “Khoảng trời xanh ký ức” với đầy đủ các cung bậc cảm xúc, nơi đó chị gửi gắm tình yêu, nỗi ước mong, hy vọng và những cảm xúc thương cảm trước tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình… Xem thơ là cứu cánh, nên cảm xúc trong thơ chị chân thật, bày tỏ đúng những gì nhà thơ cảm nhận từ tấm lòng, có chiều sâu nên gợi lên những duy tư và đồng cảm của người đọc, đó cũng là lý do để tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” chạm đến trái tim độc giả.

Thi pháp thể loại ở tập thơ này không có nhiều đột biến, đa phần là thơ 5 chữ, một vài bài theo thể thơ lục bát – thơ lục bát cũng là thế mạnh của nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam, vì với thể thơ này chị thường có những câu thơ xuất thần, và tứ thơ hay. Bài thơ “Ai ra xứ Huế đừng quên” là một ví dụ. Là “nhật ký thơ” bộc bạch cảm xúc với những vùng đất, những con người thân thương nên ở tập thơ này chị vẫn tiếp nối giọng thơ thủ thỉ, tâm tình như ở những tập thơ trước. Giọng thơ ít biến đổi, chứng tỏ nữ thi sĩ đã vượt qua những cảm xúc thông thường để gửi vào thơ những gì lắng đọng, yêu thương, đó là điều khiến cho thơ chị có thật nhiều thương mến.

Huế, ngày 16/9/2025


([1]) Thiên trường vãn vọng – Trần Nhân Tông

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm