TIN TỨC

Chân dung Nguyễn Bính qua giai thoại văn học

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-18 11:32:38
mail facebook google pos stwis
1195 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Để đánh giá chân tài nhà thơ phải dựa vào trước tác của họ. Tuy vậy, nhiều khi căn cứ vào các cảnh huống sinh hoạt thường ngày, dựa vào những câu chuyện hoạt động văn nghệ đời thường của văn nghệ sĩ, mà người ta hay gọi là giai thoại, cũng giúp ta hiểu thêm cuộc đời và sáng tác của họ hơn. Hầu hết tác giả văn học Việt Nam đều có những giai thoại đáng nhớ, trong đó không thể không kể đến “thi sĩ chân quê” Nguyễn Bính.

Nhà thơ Nguyễn Bính

Dưới đây là một số giai thoại “vẽ” nên chân dung Nguyễn Bính.

Những “nhân vật” nữ trong thơ Nguyễn Bính

Ai đã đọc thơ Nguyễn Bính thì không thể quên bài thơ Lỡ bước sang ngang được. Và lại càng không thể quên hình tượng nhân vật người chị (lần này chị bước sang ngang) trong bài thơ này. Lý do đơn giản là, thường thì người ta đưa người yêu (em) đi lấy chồng. Còn ở đây Nguyễn Bính xưng là “chị”, lại có tên tuổi hẳn hoi trong nhiều bài thơ Nguyễn Bính đề “Tặng chị Trúc”. Vậy chị Trúc là ai? Liên quan gì đến “thiên tình sử” sang ngang lỡ bước này? Theo tìm hiểu thì chị Trúc có tên thật là Lê N. Th. (tên viết tắt theo tác giả Bùi Hạnh Cẩn, người anh bà con cô cậu và bạn thân của Nguyễn Bính). Chị Lê N. Th. là một phụ nữ đẹp, có tâm hồn thơ mộng. Chị có chồng là ông chủ một hiệu ảnh ở Hà Đông – Hà Nội. Nhưng hôn nhân này đổ vỡ. Chị đi bước nữa với nghệ sĩ Trúc Đường, là anh ruột Nguyễn Bính. Có lẽ Nguyễn Bính gọi chị Trúc là từ tên anh Trúc Đường mà ra. Hai người thuê nhà ở riêng và quyết tâm lấy nhau. Nhưng rồi duyên lại không thành, Nguyễn Bính đã viết: Rồi đêm kia lệ ròng ròng/ Tiễn đưa người ấy sang sông chị về. Tâm hồn Nguyễn Bính như thế đấy, thương chị dâu không thành duyên với anh, mà viết ra bài thơ Lỡ bước sang ngang nức nở. Bài thơ dài đúng 110 câu, bằng với số ngày (110 ngày) mà anh chị mình đã sống gắn bó trong hạnh phúc.

Bài thơ Cô lái đò (được nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc) cũng là giai thoại có thật về một “bóng hồng” trong thơ Nguyễn Bính. Bài thơ này được Nguyễn Bính viết từ những năm bốn mươi của thế kỷ 20. Tác giả Chu Văn kể lại câu chuyện xúc động này như sau: Cô ta tên là Thoa, đưa đò ngang qua sông Châu thơ mộng. Cô Thoa thường chở nhà thơ qua sông mà không lấy tiền, lại còn đọc thơ của Nguyễn Bính cho khách nghe, có cả những câu thơ mang bóng dáng mình: Xuân đã đem mong nhớ trở về/ Lòng cô gái ở bến sông kia… Sau này, trong một lần qua sông, lúc này Nguyễn Bính đã mất, nhà văn Chu Văn ngậm ngùi báo tin với cô Thoa lái đò: “Bác Bính làm thơ, vẫn hằng ngày đi chợ nhờ cô đưa sang ngang, bác ấy mất rồi cô ạ”. Một tiếng nấc nghẹn, cô Thoa gục mặt trên mái chèo, tiếng lạc đi: “Cháu biết! Giá chết thay được thì cháu tự nguyện chết thay để bác ấy sống, bác ấy làm thơ”. Nói đến đây, nhà văn Chu Văn bàng hoàng “rót” một lời bình: “Chao ôi, ngay cả bạn bè anh Bính, đã mấy ai nghĩ về anh chí tình đến như vậy”.

Và rồi còn nữa, bài thơ Viếng hồn trinh nữ, với những câu thơ đau xé lòng“Có một chiếc xe màu trắng đục/ Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi/ Đem đi một chiếc quan tài trắng/ Và những vòng hoa trắng lạnh người…” là xúc cảm mãnh liệt của “thi sĩ chân quê” với cô gái chết trẻ, đẹp nhất phố Hàng Đào, Hà Nội ngày xưa.

Thiên tuyệt bút “một lời là một vận vào khó nghe”

Nguyễn Bính không chỉ giỏi làm thơ lục bát về “hương đồng gió nội”, mà ông còn có tài dịch thơ Đường rất chuyên nghiệp. Tài dịch thơ Đường của Nguyễn Bính thể hiện ở chỗ ông chuyển những bài thơ Đường theo thể ngũ ngôn, thất ngôn sang thể thơ lục bát – vốn rất mộc mạc, khó dung tải được cái âm hưởng của Đường thi. Không những thế, Nguyễn Bính còn có tài dịch thơ Đường rất nhanh. Giai thoại kể, hôm ấy ở tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ năm, mọi người (gồm nhà thơ, dịch giả, nhà lý luận…) bàn tán về việc dịch thơ chữ Hán. Chủ bút Lê Tràng Kiều bèn thử tài dịch thơ Đường của mọi người với bài thơ Đường: Hoàng mai thời tiết gia gia vũ/Phương thảo trì đường cứ cứ oa/Hữu ước bất lai hoa dạ bán/Nhàn soa kỳ tử lạc đăng hoa. Ai nấy đều cầm bút xóa xóa gạch gạch bài dịch của mình. Nguyễn Bính chẳng giấy bút gì cả, đọc liền một mạch bài thơ dịch của mình: Ao hồ tiếng ếch gần xa/Cỏ thơm ngào ngạt, ngoài nhà mưa rơi/Nửa đêm cái hẹn sai rồi/Quân cờ gõ nhảm làm rơi hoa đèn. Dịch thơ mà lại sáng tạo được như hai câu sau thì thật là tuyệt bút!

Trong quá trình hiện đại hóa thi ca Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện cuộc tranh luận gay gắt giữa hai quan điểm: Một bên chủ trương cách tân triệt để để làm cho thơ mới lạ. Trường phái này có các cây bút chủ chốt như Phan Khôi, Xuân Diệu, Nguyễn Vỹ… với các bài thơ như Tình già, Cây đàn muôn điệu. Và một bên chủ trương giữ lấy cốt cách, cái hồn dân tộc cho thơ, trường phái này tập hợp các nhà thơ dân dã như Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ. Nguyễn Bính cũng âm thầm góp tiếng nói tranh luận của mình, không phải đao to búa lớn, mà bằng một bài thơ lục bát nhẹ nhàng Chân quê. Lúc ấy Nguyễn Bính mới 19, 20 tuổi. Một quan điểm rõ ràng, dứt khoát: Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê… Quan điểm sáng tác này theo suốt cuộc đời thơ tác giả và giúp Nguyễn Bính định hình một phong cách sáng tác độc đáo trong phong trào Thơ mới 1932-1945.

Nguyễn Bính (tên thật là Nguyễn Trọng Bính) sinh năm 1918 và mất năm 1966. Ông giã từ nghiệp thơ ở cõi trần sau một sự kiện mà nhiều người cho là có một sự “linh ứng” giữa ông và đại thi hào Nguyễn Du – Truyện Kiều. Nhà văn Chu Văn kể lại giai thoại này: Cuối năm 1965, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du, mọi người đều chuẩn bị bài viết cho số báo Tết năm ấy. Nguyễn Bính vốn coi cụ Nguyễn Tiên Điền như là vị tổ sư nên không thể không viết về cụ. Chỉ trong một đêm, Nguyễn Bính âm thầm, lặng lẽ viết một bài thơ theo hình thức “tập Kiều” (lấy một câu Kiều và sáng tạo một câu của mình). Khi đưa bài đến tòa soạn, mọi người khen hay nhưng đùa với Nguyễn Bính về thân phận, vì ông đã “tập Kiều” câu thơ “Một lời là một vận vào khó nghe”. Nguyễn Bính chỉ cười và cho là các bạn văn của mình mê tín. Đúng ba mươi Tết năm ấy, Nguyễn Bính ra đi vĩnh viễn.

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

Cảm kích trước chân tài, người viết bài này xin viếng tặng ông “nhà thơ chân quê” Nguyễn Bính mấy dòng thơ lục bát để tỏ lòng mến mộ:

Thôn Đoài còn nhớ thôn Đông

Cây đa bến nước còn mong người về

Cánh cò trắng mượt bờ đê

Van em nỡ phụ lời thề cỏ may

Sang ngang một chuyến đò đầy

Xót xa bát đũa tháng ngày mồ côi

Trò chơi tiền lá mồng tơi

Sánh so sao được tiền đời hỡi em

Khóc cười đất Huế mưa đêm

Trời Nam hành khúc một miền xanh mơ

Nếp nhà còn một vườn thơ

Hoa chanh vẫn nở giữa bờ chân quê!

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm