TIN TỨC

Khát vọng hòa bình – Ký của Nguyễn Minh Ngọc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-03 16:12:04
mail facebook google pos stwis
1584 lượt xem

Bằng giọng ký sự thuyết phục, Đại tá, nhà văn Nguyễn Minh Ngọc đã khắc họa chân dung bà Nguyễn Thị Bình – người phụ nữ Quảng Nam kiên trung, nhà ngoại giao tài ba đã từng “khiêu vũ giữa bầy sói” tại Hội nghị Paris. Từ một nữ sinh Châu Sa giàu nghị lực đến vị Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời, rồi Phó Chủ tịch nước, cuộc đời bà là bản hùng ca về trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam.
 

NGUYỄN MINH NGỌC

Từ lâu, qua sách báo, tôi đã hằng kính ngưỡng bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hào kiệt xứ Quảng

Từ xưa, quê hương bà Bình đã gắn với câu ca “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu Hồng đào chưa nhắm đã say”. Điện Bàn, quê nội trù phú với những đồng lúa phì nhiêu và bãi dâu xanh ngát bên sông Thu Bồn, có nghề ươm tơ, dệt lụa lâu đời. Ông nội, một nghĩa binh của phong trào Cần Vương, chống Pháp.

Trái lại, Tuy Phước, quê ngoại rất nghèo khó. Bà Bình là cháu ngoại cụ Phan Châu Trinh (1872-1926). Cụ là “Tứ kiệt” của đất Quảng Nam, bạn đồng khoa với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cụ Phan là người đầu tiên ở Việt Nam đề xướng tư tưởng dân chủ, dân quyền. Nhiều năm ở Pháp, cụ có mối liên hệ mật thiết với Nguyễn Ái Quốc. Hiểu nguyên do mất nước, cụ Phan chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Đó là một chủ thuyết lớn, đến nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Cụ có hai người con gái, đầu lòng là bà Phan Thị Châu Liên, mẹ của nhà ngoại giao Phan Thị Minh (tức Lê Thị Kinh) và nhà văn Phan Tứ (Lê Khâm). Người thứ hai Phan Thị Châu Lan là thân mẫu của bà Nguyễn Thị Bình.

Bác Hồ với các cán bộ ngoại giao Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, trước lúc đoàn đi dự Hội nghị Paris, 1969

Vốn là một viên chức ngành trắc địa, ông thân sinh làm việc ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, thường lênh đênh sông nước. Là con đầu, bà Bình chào đời ngày 26-5-1927 tại xã Tân Hiệp, thuộc tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp), ba má khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa. Khi ông cụ được điều động sang Campuchia làm việc, đem theo cả gia đình. Châu Sa học trường Lycée Sisowath ở Phnôm Pênh, trường trung học lớn nhất của Campuchia thời bấy giờ, dạy bằng tiếng Pháp. Cô nữ sinh yêu nhạc Schubert, Schumann…, thích thể thao, nhất là môn bóng rổ, đã không nhịn lũ con Tây lếu láo miệt thị người bản xứ… Bấy giờ, một số anh em tốt nghiệp Trường Đại học Bách khoa, khoa Cầu cống được cử sang Campuchia thực tập. Ông cụ là người lâu năm trong nghề được phân công hướng dẫn thực tập. Trong số này có kỹ sư Đinh Khang, người yêu thể thao, chơi bóng bàn giỏi, bóng chuyền… Anh Khang và Châu Sa thường gặp nhau trên sân bóng rổ.

Má ốm và mất sớm, có lúc Châu Sa ước sau này làm bác sĩ, chữa bệnh cứu người. Nhớ lời ba, cô ráng học tốt, để có nghề nghiệp vững, sau còn lo cho em út. Nhưng rồi, những biến động của thời cuộc đã làm đảo lộn tất cả. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), người cha đưa gia đình về Sài Gòn. Không khí tổng khởi nghĩa hừng hực lan rộng, cả mấy cha con đều hoạt động cách mạng. Ông cụ tham gia Chi đội I miền Đông, cùng các anh em chí cốt lo công việc kháng chiến. Hễ các chú gọi giao việc gì thì Châu Sa làm việc ấy, nhờ biết tiếng Anh, cô được phân công đón tiếp đại diện Đồng minh tới Sài Gòn để giải giáp quân Nhật, nhưng không lâu. Người em thứ tư được cử sang Campuchia chuyển thuốc nổ về cho công binh xưởng chế mìn và lựu đạn, còn Châu Sa cùng người em kề mình đi Hồng Ngự (Đồng Tháp) lấy thực phẩm cho lực lượng vũ trang ta ở mặt trận miền Đông chiến đấu.

Bạn bè của ông cụ ở Campuchia khi chuyển về Sài Gòn, nhiều người không có nhà cửa, đã đến tá túc nhờ. Để nuôi sống mấy chục con người, Châu Sa đã phải làm đủ nghề, kể cả việc đi súc vỏ chai. Không chút nề hà, cô mở tiệm bán gạo, nước mắm, trứng vịt, cà chua, hành tỏi… để có chút thu nhập. Có lần gánh cà chua ra chợ Tân Định, cô thấy lính và cảnh sát Tây đi kiểm tra giá cả, ép một chị bán trứng vịt phải bán theo giá “nhà nước”, khiến chị này òa khóc tức tưởi. Cầm lòng không đặng, Châu Sa liền dùng tiếng Pháp đối chất với viên cảnh sát, khiến tên này cứng họng. Chị em tiểu thương ở chợ tròn mắt thán phục, họ rối rít cám ơn.

Hoạt động bí mật dưới vỏ bọc là một giáo viên dạy tư, Châu Sa dạy Toán cho nhiều nhóm học sinh luyện thi và có một thời gian dạy học ở Trường Colette, một trường Tây, dạy bằng tiếng Pháp. Từ cuối năm 1946, bà được giao tổ chức Hội phụ nữ Cứu quốc ở hộ[1] 5, quận 3. Được kết nạp Đảng (1947), bà làm Thư ký, rồi Đoàn trưởng Đoàn phụ nữ Cứu quốc thành phố, Bí thư Đảng đoàn Phụ nữ Sài Gòn - Chợ Lớn. Bà sinh hoạt chi bộ cùng Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức lớn của đất nước. Bắt đầu từ đây, bà lấy bí danh Yến Sa.

Ra chiến khu, bà được tiếp xúc với nhiều đồng chí lãnh đạo Trung ương vào công tác tại Văn phòng Xứ ủy Nam bộ. Bà tranh thủ về Đồng Tháp Mười thăm người cha đang đảm trách Trưởng ban Công binh Nam bộ. Trở lại Sài Gòn, bà được phân công phụ trách một tổ tình báo, đồng thời làm thư ký cho Ban Cán sự Đảng nội thành. Tháng 4-1951, bà bị Hiến binh Pháp (PSE) bắt về tội “xâm phạm an ninh quốc gia”, giam ở bót Catinat khét tiếng và bị tra tấn dã man. Đêm đêm, tiếng chuông Nhà thờ Đức Bà vọng vào tận phòng giam. Tại đây, bà chứng kiến nhiều tội ác man rợ của kẻ thù. Theo sự bẩm báo của mật thám Nam Việt Nam trình lên mật thám Đông Dương thì người mang tội làm “điệp báo” có thể bị xử tử hình hoặc chung thân.

May sao, sau thời gian an trí, luật sư Nguyễn Hữu Thọ trở về Sài Gòn, kịp đứng ra biện hộ cho vụ án này, ông tích cực bảo vệ “thân chủ” đang ở khám Chí Hòa. Mãi sau này, bà mới biết còn có thêm sự can thiệp của những người từng quen biết cụ Phan Châu Trinh, ở trong Hội Liên minh Nhân quyền tại Pháp, đứng đầu là ngài Marius Moutet, cựu Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, người đã ký với Chủ tịch Hồ Chí Minh bản Tạm ước 14-9-1946. Nhờ sự nỗ lực của cả trong và ngoài nước, cuối cùng Yến Sa bị án tù treo. Được tự do, bà tiếp tục lao vào hoạt động.

Hòa bình, gia đình và sự nghiệp

Nụ cười của Madame Bình

Ngày 23-11-1954, bà tập kết ra Bắc. Thay vì tham gia phái đoàn liên hiệp đình chiến của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bà được điều về Hội Liên hiệp Phụ nữ Trung ương1. Gặp được thân phụ ở Hà Nội, và nhất là gặp lại “mối tình đầu” Đinh Khang, chàng trai mà bà quen biết trên đất Campuchia, người đã dành cả tuổi trẻ chờ đợi. Suốt 9 năm trời đằng đẵng, bà chỉ nhận được mấy dòng chữ của ông: “Chúc em và cả gia đình an toàn, khỏe mạnh”, chứ không có gì hơn. Đến khi gặp nhau, ông nén lòng, trầm ngâm nhìn bà gầy ốm và hỏi “Em có khỏe không”. Bà kể, suốt đời mình, không bao giờ quên khoảnh khắc ấy. Bấy giờ, ông Khang công tác trong quân đội, đóng ở Quân khu Hữu Ngạn. Và một lễ cưới đơn sơ được tổ chức, do chính ông Nguyễn Văn Tạo - Bộ trưởng Bộ Lao động làm chủ hôn.

Ngày ấy, vừa nghe bác sĩ Phạm Ngọc Thạch báo có cháu ngoại cụ Phan Châu Trinh mới ra Hà Nội, Bác Hồ liền cho gọi tới gặp. Tại Chủ tịch phủ, Yến Sa được Bác ân cần trò chuyện. Trong đời, bà vinh dự được nhiều lần gặp Bác, lần nào Người cũng dặn dò, chỉ bảo. Tháng 4-1969, từ Paris về nước nhận chỉ thị mới, bà Bình được Bác Hồ gọi tới ăn cơm và hỏi về công việc đàm phán ở hội nghị, về kiều bào ta ở Pháp, ở Anh… Lời căn dặn quý báu của Người: “Dĩ bất biến ứng vạn biến” luôn soi sáng cho công tác ngoại giao và mọi hoạt động vì nước, vì dân của bà.

Vừa nuôi con thơ, bà vừa theo học tại trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Đầu năm 1961, lãnh đạo Ban Thống nhất sang Hội Liên hiệp Phụ nữ đặt vấn đề “mượn” Yến Sa 6 tháng hoạt động đối ngoại cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Có thể nói ngành ngoại giao đã chọn bà từ rất sớm và rất chuẩn. Sau khi dự Đại hội Sinh viên thế giới (UIE) ở Budapest (Hungary) rồi Đại hội Thanh niên dân chủ thế giới ở Leningrat (Liên Xô), chẳng những không được “trả” về cơ quan cũ, mà bà được giữ lại và làm một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Trách nhiệm rất nặng nề, nhưng vì miền Nam ruột thịt, không ai nỡ từ chối.

Ngày ấy, ở Ban Thống nhất, các cán bộ đều phải đổi tên để giữ bí mật. Một đồng chí lãnh đạo Ban gợi ý bà lấy tên là Bình, với nghĩa hòa bình, đi ra nước ngoài dễ tranh thủ cảm tình, đồng thời cũng dễ gọi. Bí danh Yến Sa của bà từ thời kháng Pháp, được đổi thành Nguyễn Thị Bình. Và cái tên này nhanh chóng trở nên quen thuộc với bạn bè quốc tế, nhận được sự ủng hộ và ngưỡng mộ của những người tiến bộ và yêu chuộng hòa bình ở nhiều nơi trên thế giới.

Phụ trách công tác đối ngoại nhân dân của Mặt trận, bà Bình có dịp tiếp xúc với lãnh đạo nhiều quốc gia, dân tộc. Từ 2 đại hội đầu tiên ở Liên Xô và Ba Lan, bà tham dự các hội nghị quốc tế từ châu Á, châu Âu, châu Phi, cả Mỹ la tinh. Ở đâu, hình bóng người phụ nữ nhỏ nhắn, duyên dáng và bặt thiệp, có vốn ngoại ngữ tuyệt vời, mềm dẻo và khôn khéo, cũng đều gây được thiện cảm lớn.

Gần 6 năm hoạt động đối ngoại, bà Nguyễn Thị Bình đã tích lũy được nhiều thứ, nhất là kiến thức ngoại giao và kinh nghiệm đấu tranh chính trị. Từ sau sự kiện xuân Mậu Thân, giới cầm quyền Mỹ buộc phải “xuống thang” chiến tranh và chấp nhận đàm phán tại Paris. Thực hiện chủ trương “đánh và đàm”, bà Bình tiếp tục được lựa chọn cho nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp và hết sức nặng nề này.

Trước khi rời Hà Nội vào cuối tháng 10-1968, bà điện báo cho phu quân từ trường Công binh về gặp. Nghĩ thương hai con còn nhỏ mà cứ phải xa mẹ biền biệt. Thương chồng bận công tác và thêm cha tuổi già đau yếu, việc chung và nỗi riêng, khiến cho bà Bình rối bời. May thay, ông Đinh Khang đã kịp động viên vợ: Em có việc quan trọng phải làm, cứ yên tâm. Ở nhà, các con đã có anh và ba lo.

Cao hơn cả tình nghĩa phu thê, ấy là tình đồng chí cùng chung lý tưởng sống và phụng sự cho Tổ quốc. Nhờ có “hậu phương” vững như bàn thạch, bà Bình bay sang Paris, đường hoàng bước vào cuộc chiến mới đầy cam go và thử thách. Từ phái đoàn của Mặt trận, đến Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, bà tham gia Hội nghị bốn bên về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Thủ đô Cộng hòa Pháp. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài nhất, nhưng cũng vẻ vang nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam. Với 202 phiên họp chung, công khai, 45 cuộc họp cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn… trong 4 năm 9 tháng (từ tháng 5-1968 đến tháng 1-1973), một kỷ lục hiếm có.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam

 Trong 4 đoàn dự hội nghị, chỉ duy nhất đoàn của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam có phụ nữ. Đầu tháng 6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập, bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng thời làm Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị bốn bên ở Paris. Bà thực sự không coi đó là niềm vui, mà cảm thấy trách nhiệm đè nặng lên đôi vai mình.

Người dân Paris, đặc biệt là kiều bào ta ở Pháp cùng đông đảo bạn bè quốc tế, đã quá quen thuộc với hình ảnh Madame Bình luôn xuất hiện với tà áo dài và nụ cười đôn hậu trên môi, ánh mắt đầy tự tin. Cả thế giới kinh ngạc, không thể cắt nghĩa nổi vì sao ở một đất nước đang từng ngày, từng giờ bị bom đạn tàn phá, hủy diệt, lại xuất hiện những chính khách truyền cảm hứng tầm cỡ đến vậy. Bạn bè tự hào, xen lẫn cảm phục và tin yêu “Việt cộng” quá đỗi. Bằng con đường ngoại giao, bà Nguyễn Thị Bình đã có nhiều và rất nhiều những người bạn quý, bạn lớn ở các quốc gia trên thế giới và họ cũng chính là bạn tốt của nhân dân Việt Nam.

Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber nằm gần Khải Hoàn Môn, một biểu tượng văn hóa, lịch sử đặc biệt của Kinh đô Ánh sáng, là nơi diễn ra những cuộc đấu lý căng thẳng và dai dẳng, song chân lý luôn thuộc về những người nắm tất yếu và có chính nghĩa. Nhiều tờ báo đã ví von một cách hình tượng, rằng: Madamme Bình là người phụ nữ can đảm “khiêu vũ giữa bầy sói”. Để trở thành một nhà ngoại giao thượng thặng, thì bên cạnh phẩm chất trí tuệ, sự lịch lãm, đòi hỏi khả năng ngoại ngữ siêu phàm. Ở bà Nguyễn Thị Bình, hội đủ tất cả những thứ đó. Thần thái tự nhiên mà rạng rỡ, mềm mỏng nhưng kiên nghị, có thể nói vẻ đẹp của bà là hình ảnh thu nhỏ của một “Nước Việt Nam từ máu lửa. Rũ bùn đứng dậy, sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi).

Trải qua đấu tranh bền bỉ và khôn khéo, đối diện với nhiều sự lật lọng xảo trá của đối phương, cuộc hòa đàm đã tới đích thắng lợi cuối cùng. Sáng 27-1-1973, Paris hừng nắng. Phòng họp ở Kléber rực sáng ánh đèn, bên ngoài một rừng cờ hoa vẫy chào. Đúng 10 giờ, 4 Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Nguyễn Duy Trinh), Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Nguyễn Thị Bình), Mỹ (William P. Rogers), Việt Nam Cộng hòa (Trần Văn Lắm) ngồi vào bàn. Mỗi người đặt bút ký vào 32 văn bản của Hiệp định. Trong giây phút thiêng liêng ấy, bà xúc động thấy mình không đủ ngôn từ để bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước đã chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, chiến đấu, để có được thắng lợi to lớn; tri ân Bác Hồ kính yêu và Đảng quang vinh đã tin cậy giao phó sứ mệnh cao cả.

Trọng trách mới, tầm vóc mới

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

Đất nước hòa bình, non sông liền một dải, từ một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, bà Nguyễn Thị Bình được cử tri tín nhiệm bầu vào Quốc hội và được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Trước sự phân công của Đảng, có lúc bà cảm thấy mình như “đơn thương độc mã” đến một chiến trường mới lạ. Nhưng thái độ cầu thị đúng mực và sự khiêm nhường của bà đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các cán bộ lãnh đạo ngành. Vẫn biết mọi thứ đều rất mới mẻ, khối lượng công việc quá sức lớn, nhưng bà xác định, khó mấy cũng quyết tâm làm cho kỳ được. Năm 1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, bà Nguyễn Thị Bình được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Làm Tư lệnh ngành giáo dục, trong bối cảnh đất nước vừa hòa bình lại phải đương đầu với 2 cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, kinh tế kiệt quệ, khó khăn chồng chất khó khăn. Sâu sát cơ sở, bà đề xướng cuộc “Nam tiến” đưa giáo viên miền Bắc vào chi viện cho các tỉnh phía Nam. Lãnh đạo Bộ kiên trì đấu tranh thuyết phục, để năm 1983, Nhà nước quyết định điều chỉnh thang lương cho ngành giáo dục và chế độ thâm niên, được coi như một “bước ngoặt” lớn. Với nhận thức phải đào tạo con em công nhân, để giai cấp công nhân vững mạnh, bà chỉ đạo và đôn đốc các chủ trương giáo dục của Bộ tại các khu công nghiệp. Hệ thống trường dân tộc nội trú được xây dựng trong thời kỳ này… Việc thực hiện cải cách giáo dục bắt đầu từ năm 1985 - 1991, xem như xong một vòng.

Sau 2 nhiệm kỳ làm công tác quản lý, tháng 7-1987, bà Nguyễn Thị Bình nhận chức Phó Trưởng ban Đối ngoại của Đảng, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị; đồng thời, làm Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội. Trở lại hoạt động ngoại giao nhà nước, với bà vô cùng thuận lợi. Cả một núi công việc, song Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội có nhiệm vụ quan trọng là vận động các nước và các tổ chức Mỹ có cảm tình với Việt Nam yêu cầu Chính phủ Hoa Kỳ bỏ cấm vận…

Tháng 12-1989, ông Đinh Khang qua đời. Bà Bình hụt hẫng và cảm thấy cô đơn khủng khiếp. Lòng buồn, bà đã tính chuyện nghỉ ngơi, thì Tổng Bí thư Đỗ Mười đến thăm và cho biết ý định tiến cử của Bộ Chính trị. Khi nhận nhiệm vụ Phó Chủ tịch nước, dẫu đã 65 tuổi, nhưng nghĩ làm gì cũng vì đất nước, nên bà đảm nhiệm luôn 2 nhiệm kỳ (1992-2002). Đặc biệt quan tâm đến công tác tư pháp, bà trực tiếp kiểm tra xem xét cụ thể một số trường hợp, giúp minh oan cho nhiều người, kể cả án tử hình… Hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công, bà Nguyễn Thị Bình được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.

Tháng 4-2003, Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam được thành lập, do bà làm Chủ tịch. Tiếp theo Chủ tịch danh dự Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, năm 2006, bà đảm nhận Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh. Về hưu, nhưng nhà ngoại giao vẫn tiếp tục bận rộn.

Với 98 tuổi đời, 78 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng, bà Nguyễn Thị Bình vững tin ở vận mệnh Tổ quốc, tin vào lớp trẻ. Bà đồng cảm với nhiều nhà hoạt động thế giới khi nhận định rằng thế kỷ XXI là “thế kỷ của phụ nữ”. Là hiện thân của vẻ đẹp trí tuệ Việt Nam, kiên trung bất khuất được un đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, bà đặt trọn niềm tin và kỳ vọng lớn vào sự phấn đấu của các thế hệ phụ nữ Việt Nam.

Ngày 25-8-2025, tại lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập ngành Ngoại giao Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao danh hiệu Anh hùng Lao động tặng bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng phái đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1973.

Nguồn: Báo Văn nghệ số 35+36

Ảnh: TL


[1]. Quartier: đơn vị hành chính ở các đô thị thời Pháp thuộc, có từ năm 1935; quy mô lớn hơn cấp phường, tương đương cấp quận. Lúc ấy, Sài Gòn gồm 18 hộ.

1. Xem để biết rồi bỏ. Năm 1954, ta quen gọi Trung ương Hội LHPN Việt Nam là “Hội LHPN Trung ương”. Theo bà NTB.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm