TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại

Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-30 16:37:33
mail facebook google pos stwis
16 lượt xem

ĐOÀN ÁNH DƯƠNG

Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Sự phát triển của lí thuyết dịch thuật đương đại ngày càng chứng minh rõ ràng vai trò quan trọng của văn học dịch và hoạt động dịch văn học trong cấu trúc tổng thể của nền văn học. Trong tiểu luận Văn học dịch trong đa hệ thống văn chương Itamar Even-Zohar đã đưa ra một đề xuất lí thuyết quan trọng về việc cần nghiên cứu văn học dịch như là bộ phận của nền văn học đích, cùng cách thức mà nó kiến tạo hạng mục trong đa hệ thống văn chương bản địa. Quan niệm này có được sự hồi ứng tri thức đáng kể của các nhà nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hướng tiếp cận đa hệ thống (còn được biết đến với tên gọi lí thuyết phức hệ) trong nghiên cứu văn học và văn hóa do Even-Zohar chủ trương. Ở Việt Nam, bên cạnh việc chuyển dịch các công trình tiêu biểu của Even-Zohar, đã có các nghiên cứu nhiều gợi mở về thực tiễn văn học từ cách tiếp cận này. Với khả năng đem lại một cách thức khảo tả mang tính lịch sử và cấu trúc về (vai trò của) văn học dịch trong đa hệ thống văn chương như vậy, khi rọi ánh sáng vào thực tiễn văn học Việt Nam từ sau năm 1975, nhất là từ công cuộc Đổi Mới năm 1986, hướng tiếp cận đa hệ thống theo đó không chỉ góp phần mô tả hệ thống và khách quan lịch sử dịch văn học và văn học dịch mà hơn thế, còn giúp hình dung các quy tắc nghệ thuật của đa hệ thống văn chương nhìn từ hoạt động dịch, truyền dẫn và giao thoa hệ thống ở Việt Nam đương đại.

 

1. Vai trò của văn học dịch trong việc định hình văn học Việt Nam hiện đại

Nền văn học Việt Nam hiện đại được viết bằng chữ quốc ngữ khởi sinh ở giao thời cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là hệ quả của hành động dịch, khi theo sau sự xâm lược của thực dân Pháp, mảnh đất này đã vượt ra ngoài đường biên khu vực Đông (Nam) Á để hiện diện trong mạng lưới giao lưu văn hóa toàn cầu. Một hệ thống các giao thoa thành hình dựa trên các hành động dịch và truyền dẫn đã khảm nên bức tranh văn học mới. Ở đó, thông qua chuyển dịch sang chữ quốc ngữ, nền văn học hiện đại có sự góp mặt của cả văn học cổ truyền dân tộc bằng chữ Hán và chữ Nôm, văn học nước ngoài (chủ yếu là văn học Pháp, Trung Quốc và Nhật) và cả văn học quốc ngữ mới theo mẫu hình Âu Tây. Tác động của việc truyền dẫn cũng làm thay đổi phong cách ngôn ngữ văn chương, khiến thơ cũ thất thế trước Thơ Mới, kịch hát nhường chỗ cho kịch nói, và nhất là ở văn xuôi, bạch thoại thay thế cho văn ngôn. Tất cả làm nên tính đại chúng của văn chương, khẳng định vai trò xã hội của văn nghệ sĩ trí thức. Từ một lĩnh vực đặc tuyển dành cho số ít người, văn chương thành ra một lĩnh vực phổ thông đại chúng, và theo đó, văn chương không chỉ chuyên chú vào những giá trị từ chương và luân lí mà còn hướng tới những nhu cầu giải trí và ý thức hệ. Hiện diện văn chương trở thành hiện diện xã hội. Giao thoa hệ thống đã thay đổi căn bản cấu trúc nền văn học thông qua hoạt động dịch văn học cùng sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong đa hệ thống văn học Việt Nam. Từ đó, nó kéo văn chương vào trung tâm của các hoạt động đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội ở Việt Nam thuộc địa.

Thành công của Cách mạng tháng Tám cùng viễn kiến về một nền văn nghệ mới khiến cách thức tiếp cận văn học dịch và hoạt động dịch văn học thay đổi theo quan điểm của chính quyền cách mạng. Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, di sản dịch thuật văn học phương Tây trước năm 1945 bị loại trừ như chính bộ phận văn học lãng mạn được hình thành theo mẫu hình phương Tây hiện đại. Đứng trên lập trường cộng sản, văn học dịch ở miền Bắc trong thời chiến chủ yếu đến từ các nền văn học Liên Xô, Trung Quốc và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Cố nhiên, nó cũng đến từ một bộ phận nhỏ văn học “tiến bộ” của các nền văn học tư sản phương Tây, nơi bộ phận văn học này tự nhiệm phơi bày và tố cáo tội ác của chủ nghĩa tư bản và các chế độ xã hội hình thành trên tinh thần tư bản chủ nghĩa. Ngược lại, ở nửa phía Nam, hoạt động dịch thuật diễn ra sôi động, phong phú và đa dạng trong các lựa chọn nền văn học nguồn, dù dòng chính vẫn đến từ thế giới tư bản phương Tây. Việc tham chiếu tới mô hình dân chủ phương Tây khiến cho các lĩnh vực xuất bản và báo chí và giáo dục phát triển đa dạng ở các đô thị lớn. Sự khác biệt quá rõ ràng về mặt ý thức hệ này đã tạo thành thách thức cho việc hòa nhập di sản văn chương và học thuật ấy vào không gian văn hóa và văn học định hướng xã hội chủ nghĩa sau ngày thống nhất đất nước. Dù càng ngày người ta càng nhận thức được nhu cầu chính đáng cùng những cơ hội và lợi ích mà việc chuyển dịch di sản này vào đời sống đương đại đem đến cho một Việt Nam thống nhất đang tham dự sâu rộng vào quá trình toàn cầu hóa.

 

2. Văn học dịch trong đa hệ thống văn hóa xã hội Việt Nam sau chiến tranh

Bước ngoặt xã hội hóa hoạt động văn hóa và xuất bản từ Đổi Mới đã làm thay đổi triệt để tính chất và diện mạo nền văn học kế hoạch, tập trung và bao cấp trước đó. Xuất bản “bung ra”, như một từ khóa phổ biến đương thời, để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu đa dạng của công chúng văn học nghệ thuật. Đối diện với một thế giới rộng lớn thời mở cửa và đặt chân lên một đời sống đang biến đổi chóng vánh, người ta có nhu cầu vin vào cái cũ để vững tin và tự vệ nhưng đồng thời cũng mở lòng hơn với cái mới. Nhờ đó, văn học dịch lại tái xuất khá rầm rộ. Có ba mô hình dịch thuật văn học chính yếu hiện diện ở Việt Nam lúc này. Thứ nhất, có thể gọi tên là “mô hình truyền thống”, dịch thuật và tiếp nhận văn học Pháp. Mô hình này duy trì và mở rộng các giá trị, các điển phạm văn học Pháp, vốn đã được biết đến, phát huy ảnh hưởng và để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hóa văn học Việt Nam hiện đại. Thứ hai, có thể gọi tên là “mô hình chuyển tiếp”, dịch thuật và tiếp nhận văn học phi chính thống (các tác phẩm có tính chất xét lại, phản tư, “sám hối” hoặc từ các dòng bàng thống) của văn học Nga và Trung Quốc xã hội chủ nghĩa. Mô hình này xuất phát từ các hấp lực và tác động xã hội mạnh mẽ mà bộ phận văn học phi chính thống đem lại cho đời sống văn hóa tinh thần ở các nước xã hội chủ nghĩa sở tại đang tìm hướng cải cách để vượt qua khủng hoảng. Khi được chuyển dịch sang Việt Nam đang tiến hành công cuộc Đổi Mới, nó thích ứng với tính chính trị chuyển đổi đương thời, đem đến những gợi ý, những trải nghiệm gián tiếp giúp bạn đọc hình dung về cơ hội và thách thức, nỗi đau và niềm hân hoan mà cuộc cải cách xã hội tất yếu đang diễn ra trước mắt. Thứ ba, có thể gọi tên là “mô hình tham chiếu”, dịch thuật và tiếp nhận các nền văn học châu Mĩ (Mĩ Latin và văn học Anh - Mĩ). Mô hình này hướng tới những giá trị, những thực hành chưa biết tới. Ở đó, văn học huyền ảo Mĩ Latin đem đến một kinh nghiệm hậu thực dân trong việc kiến tạo bản sắc văn hóa dân tộc và ý thức nghệ thuật của nhà văn, đem đến cho nhà văn Việt Nam một gợi ý để thoát li vòng kim cô phản ánh nghệ thuật, mở ra cánh cửa để bước vào thế giới của hư cấu nghệ thuật. Cũng như vậy, các nền văn học Anh - Mĩ đem đến gợi dẫn về vai trò và vị trí của tính giải trí, của văn hóa đại chúng, của sự tương liên giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác. Sự giao thoa giữa các mô hình dịch thuật và giữa dịch thuật với các thực hành văn hóa khác, đã góp phần quan trọng trong việc thay đổi quan niệm về thực tại và vị trí của tính giải trí trong văn học, theo đó, định hình tính chất của văn học Đổi Mới và Đổi Mới văn học ở Việt Nam.

 

3. Văn học dịch trong đa hệ thống văn hóa xã hội Việt Nam toàn cầu hóa

Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á. Quốc tế hóa văn học thời toàn cầu hóa đang dần trở thành xu thế chủ yếu của văn học Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XXI. Ở đấy, văn học dịch ở trung tâm của hoạt động giao lưu văn học đã dần hiện lên như yếu tố quyết định sự hình thành mô hình văn học mới Việt Nam chứ không phải ý thức về dân tộc thời thuộc địa, các chính sách trong các cuộc chiến tranh, hay ý thức về vai trò công chúng của nhà văn những năm hậu chiến khủng hoảng cùng những năm Đổi Mới cam go thử thách ý chí toàn dân tộc. Quan trọng hơn, hoạt động dịch thuật giờ đây lại thuộc về khu vực tư nhân, gắn với sự trỗi dậy của các công ti cổ phần hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh văn hóa và truyền thông. Chỉ có một phần rất nhỏ các dịch phẩm đến từ chủ trương của các think tank hay các tổ chức có sự bảo trợ của nhà nước. Có sự hình thành một thế hệ dịch giả chuyên nghiệp, sống bằng nghề dịch như cách nhà văn sống bằng nghề viết, cùng đông đảo dịch giả không chuyên - đến từ sự phổ biến của hệ thống giáo dục quốc tế và sự phát triển của đào tạo ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp - tham gia dịch thuật vì yêu thích văn học nghệ thuật. Tất cả góp phần dân chủ và dân sự hóa hoạt động dịch văn học và văn học dịch.

Khi không còn sự ước thúc của tính chính trị chuyển đổi như mấy chục năm cuối thế kỉ XX, bước sang thế kỉ XXI, dịch văn học bước vào con đường thênh thang của giao lưu và chuyển giao văn hóa, của sự trỗi dậy và ý thức về vai trò quan trọng của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Các mô hình dịch thuật mới sinh thành theo cùng sự chuyển biến của đời sống và chính sách. Có thể nhắc tới một số mô hình dịch thuật phổ biến. Lợi nhuận nằm ở trung tâm của mô hình thứ nhất, có thể gọi tên là “mô hình best-seller”, gắn với văn học đương đại, hướng vào các tác phẩm được dán nhãn bán chạy trên các tờ báo lớn, các trang bán sách chuyên nghiệp, chiếm top rank trên các trang đánh giá và phê bình sách uy tín, bất chấp tác phẩm đó thuộc loại hình nào, hư cấu hay phi hư cấu, văn học tinh hoa hay văn học đại chúng. Sự vinh danh nằm ở trung tâm của mô hình thứ hai, có thể gọi tên là “mô hình giải thưởng”, vừa gắn với đời sống văn học đương đại vừa lần lại lịch sử các giải thưởng danh giá hàng đầu. Văn học dịch Việt Nam tiếp cận nhanh nhạy và khá hệ thống với các tác giả và tác phẩm thuộc loại này, từ Nobel văn chương cho tới Goncourt, Fémina, Renaudot, Grand prix du roman de l’Académie française trong văn học Pháp ngữ, Booker, Man Booker và International Booker trong văn học Anh ngữ, Miguel de Cervantes trong văn học Tây Ban Nha ngữ, cùng hàng loạt giải thưởng danh giá đến từ các nền văn học lớn như National Book, Pulitzer, Neustadt của Mĩ, Whitbread (Costa Book) của Anh và Ireland, Giller của Canada, Miles Franklin của Úc, Deutscher Buchpreis của Đức, Mao Thuẫn, Lão Xá và Lỗ Tấn của Trung Quốc, Akutagawa và Naoki của Nhật… và các tổ chức văn học uy tín trên thế giới, như Women cho tác phẩm hư cấu dành cho nhà văn nữ của Anh, Hugo dành cho tác phẩm khoa học viễn tưởng và giả tưởng, Edgar dành cho văn học trinh thám, Newbery, Carnegie và Hans Christian Andersen cho văn học thiếu nhi… Những giá trị cổ điển/ điển phạm nằm ở trung tâm của mô hình thứ ba, là mô hình tiếp biến từ các “mô hình truyền thống” và “mô hình tham chiếu” từ thời Đổi Mới, hướng tới việc chuyển dịch và giới thiệu các tác phẩm mẫu mực, làm nên bản sắc và tinh hoa văn học của đất nước mà tác phẩm thuộc về nói riêng và của cả gia tài văn học thế giới nói chung. Bạn đọc Việt Nam được biết tới những đỉnh cao, những đại diện, những biểu hiện độc đáo của các nền văn học trên thế giới là nhờ vào hoạt động dịch thuật ở mô hình này. Cuối cùng, những trải nghiệm cá nhân nằm ở trung tâm của mô hình thứ tư, có thể gọi tên là “mô hình gặp gỡ”, hướng tới việc chuyển dịch những tác phẩm bất kì đem lại cảm hứng, sự sẻ chia, sự cần thiết, niềm vui, và cả việc xoa dịu nỗi buồn của dịch giả. Hoạt động dịch thuật trước nhất là dành cho cá nhân dịch giả, cùng đó và sau đó mới là sự lan tỏa đến bạn đọc. Hai mô hình thứ ba và thứ tư cùng các xu hướng dịch thuật khác làm đa dạng văn học dịch và hoạt động dịch văn học. Song mô hình thứ nhất và mô hình thứ hai mới là các mô hình định hình tính chất và diện mạo của văn học dịch và dịch văn học ở Việt Nam hơn hai thập niên đầu thế kỉ XXI. Sự cộng hưởng giữa thị trường, danh tiếng và thị hiếu đám đông nhấn mạnh vào tính đại chúng và tính toàn cầu của văn học khi văn học dịch đi vào trung tâm và kiến tạo hạng mục trong đa hệ thống văn chương Việt Nam đương đại.

 

4. Kết luận

Tóm lại, nửa thế kỉ tính từ ngày đất nước hòa bình thống nhất, văn học dịch và dịch văn học ở Việt Nam đã phát triển qua ba chặng đường. Mười năm đầu sau hậu chiến ghi nhận nỗ lực vượt thoát khủng hoảng đời sống xã hội của văn học dịch khi nó lặng lẽ đem đến những giá trị cổ điển của văn học thế giới qua khe cửa hẹp của chính sách xuất bản bị bóp nghẹt bởi các khó khăn về kinh tế, và lập trường ý thức hệ. Mười lăm năm tiếp theo, trong không khí chuyển đổi sục sôi mà Đổi Mới mang lại, văn học dịch chuyển mình và hình thành các khuynh hướng, các mô hình dịch thuật. Từ “truyền thống” đến “chuyển tiếp” và “tham chiếu”, văn học dịch nới rộng kinh nghiệm thẩm mĩ cho văn học Việt Nam, đem đến cho nhà văn và bạn đọc Việt Nam những trải nghiệm nghệ thuật mới, hàm chứa trong đó nhiều năng lượng sáng tạo và cả những thôi thúc cách tân văn học nghệ thuật. Sang thế kỉ XXI, Việt Nam gia nhập quỹ đạo toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa rộng mở theo đó khiến cho văn học dịch và hoạt động dịch văn học càng có nhiều cơ hội phát triển. Văn học dịch chiếm giữ vị trí trung tâm hệ thống văn học Việt Nam. Giao thoa hệ thống nhờ sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch không chỉ tăng khả năng tương tác giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác ở trong nước mà còn kết nối văn học Việt Nam vào mối quan tâm chung của nền văn học toàn cầu. Sự nổi lên của tính đại chúng và tính toàn cầu như một hệ quả của việc văn học nước ngoài du hành tới Việt Nam năm mươi năm qua, vì vậy, có thể xem như cơ hội và thách thức cho văn học Việt Nam, khi đối diện với tính chính trị bản sắc và chủ nghĩa dân tộc toàn cầu, để định vị tiếng nói và bản sắc địa phương trong một thế giới thường trực biến đổi.

Đ.A.D

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm