TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại

Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-30 16:37:33
mail facebook google pos stwis
237 lượt xem

ĐOÀN ÁNH DƯƠNG

Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Sự phát triển của lí thuyết dịch thuật đương đại ngày càng chứng minh rõ ràng vai trò quan trọng của văn học dịch và hoạt động dịch văn học trong cấu trúc tổng thể của nền văn học. Trong tiểu luận Văn học dịch trong đa hệ thống văn chương Itamar Even-Zohar đã đưa ra một đề xuất lí thuyết quan trọng về việc cần nghiên cứu văn học dịch như là bộ phận của nền văn học đích, cùng cách thức mà nó kiến tạo hạng mục trong đa hệ thống văn chương bản địa. Quan niệm này có được sự hồi ứng tri thức đáng kể của các nhà nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hướng tiếp cận đa hệ thống (còn được biết đến với tên gọi lí thuyết phức hệ) trong nghiên cứu văn học và văn hóa do Even-Zohar chủ trương. Ở Việt Nam, bên cạnh việc chuyển dịch các công trình tiêu biểu của Even-Zohar, đã có các nghiên cứu nhiều gợi mở về thực tiễn văn học từ cách tiếp cận này. Với khả năng đem lại một cách thức khảo tả mang tính lịch sử và cấu trúc về (vai trò của) văn học dịch trong đa hệ thống văn chương như vậy, khi rọi ánh sáng vào thực tiễn văn học Việt Nam từ sau năm 1975, nhất là từ công cuộc Đổi Mới năm 1986, hướng tiếp cận đa hệ thống theo đó không chỉ góp phần mô tả hệ thống và khách quan lịch sử dịch văn học và văn học dịch mà hơn thế, còn giúp hình dung các quy tắc nghệ thuật của đa hệ thống văn chương nhìn từ hoạt động dịch, truyền dẫn và giao thoa hệ thống ở Việt Nam đương đại.

 

1. Vai trò của văn học dịch trong việc định hình văn học Việt Nam hiện đại

Nền văn học Việt Nam hiện đại được viết bằng chữ quốc ngữ khởi sinh ở giao thời cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là hệ quả của hành động dịch, khi theo sau sự xâm lược của thực dân Pháp, mảnh đất này đã vượt ra ngoài đường biên khu vực Đông (Nam) Á để hiện diện trong mạng lưới giao lưu văn hóa toàn cầu. Một hệ thống các giao thoa thành hình dựa trên các hành động dịch và truyền dẫn đã khảm nên bức tranh văn học mới. Ở đó, thông qua chuyển dịch sang chữ quốc ngữ, nền văn học hiện đại có sự góp mặt của cả văn học cổ truyền dân tộc bằng chữ Hán và chữ Nôm, văn học nước ngoài (chủ yếu là văn học Pháp, Trung Quốc và Nhật) và cả văn học quốc ngữ mới theo mẫu hình Âu Tây. Tác động của việc truyền dẫn cũng làm thay đổi phong cách ngôn ngữ văn chương, khiến thơ cũ thất thế trước Thơ Mới, kịch hát nhường chỗ cho kịch nói, và nhất là ở văn xuôi, bạch thoại thay thế cho văn ngôn. Tất cả làm nên tính đại chúng của văn chương, khẳng định vai trò xã hội của văn nghệ sĩ trí thức. Từ một lĩnh vực đặc tuyển dành cho số ít người, văn chương thành ra một lĩnh vực phổ thông đại chúng, và theo đó, văn chương không chỉ chuyên chú vào những giá trị từ chương và luân lí mà còn hướng tới những nhu cầu giải trí và ý thức hệ. Hiện diện văn chương trở thành hiện diện xã hội. Giao thoa hệ thống đã thay đổi căn bản cấu trúc nền văn học thông qua hoạt động dịch văn học cùng sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong đa hệ thống văn học Việt Nam. Từ đó, nó kéo văn chương vào trung tâm của các hoạt động đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội ở Việt Nam thuộc địa.

Thành công của Cách mạng tháng Tám cùng viễn kiến về một nền văn nghệ mới khiến cách thức tiếp cận văn học dịch và hoạt động dịch văn học thay đổi theo quan điểm của chính quyền cách mạng. Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, di sản dịch thuật văn học phương Tây trước năm 1945 bị loại trừ như chính bộ phận văn học lãng mạn được hình thành theo mẫu hình phương Tây hiện đại. Đứng trên lập trường cộng sản, văn học dịch ở miền Bắc trong thời chiến chủ yếu đến từ các nền văn học Liên Xô, Trung Quốc và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Cố nhiên, nó cũng đến từ một bộ phận nhỏ văn học “tiến bộ” của các nền văn học tư sản phương Tây, nơi bộ phận văn học này tự nhiệm phơi bày và tố cáo tội ác của chủ nghĩa tư bản và các chế độ xã hội hình thành trên tinh thần tư bản chủ nghĩa. Ngược lại, ở nửa phía Nam, hoạt động dịch thuật diễn ra sôi động, phong phú và đa dạng trong các lựa chọn nền văn học nguồn, dù dòng chính vẫn đến từ thế giới tư bản phương Tây. Việc tham chiếu tới mô hình dân chủ phương Tây khiến cho các lĩnh vực xuất bản và báo chí và giáo dục phát triển đa dạng ở các đô thị lớn. Sự khác biệt quá rõ ràng về mặt ý thức hệ này đã tạo thành thách thức cho việc hòa nhập di sản văn chương và học thuật ấy vào không gian văn hóa và văn học định hướng xã hội chủ nghĩa sau ngày thống nhất đất nước. Dù càng ngày người ta càng nhận thức được nhu cầu chính đáng cùng những cơ hội và lợi ích mà việc chuyển dịch di sản này vào đời sống đương đại đem đến cho một Việt Nam thống nhất đang tham dự sâu rộng vào quá trình toàn cầu hóa.

 

2. Văn học dịch trong đa hệ thống văn hóa xã hội Việt Nam sau chiến tranh

Bước ngoặt xã hội hóa hoạt động văn hóa và xuất bản từ Đổi Mới đã làm thay đổi triệt để tính chất và diện mạo nền văn học kế hoạch, tập trung và bao cấp trước đó. Xuất bản “bung ra”, như một từ khóa phổ biến đương thời, để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu đa dạng của công chúng văn học nghệ thuật. Đối diện với một thế giới rộng lớn thời mở cửa và đặt chân lên một đời sống đang biến đổi chóng vánh, người ta có nhu cầu vin vào cái cũ để vững tin và tự vệ nhưng đồng thời cũng mở lòng hơn với cái mới. Nhờ đó, văn học dịch lại tái xuất khá rầm rộ. Có ba mô hình dịch thuật văn học chính yếu hiện diện ở Việt Nam lúc này. Thứ nhất, có thể gọi tên là “mô hình truyền thống”, dịch thuật và tiếp nhận văn học Pháp. Mô hình này duy trì và mở rộng các giá trị, các điển phạm văn học Pháp, vốn đã được biết đến, phát huy ảnh hưởng và để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hóa văn học Việt Nam hiện đại. Thứ hai, có thể gọi tên là “mô hình chuyển tiếp”, dịch thuật và tiếp nhận văn học phi chính thống (các tác phẩm có tính chất xét lại, phản tư, “sám hối” hoặc từ các dòng bàng thống) của văn học Nga và Trung Quốc xã hội chủ nghĩa. Mô hình này xuất phát từ các hấp lực và tác động xã hội mạnh mẽ mà bộ phận văn học phi chính thống đem lại cho đời sống văn hóa tinh thần ở các nước xã hội chủ nghĩa sở tại đang tìm hướng cải cách để vượt qua khủng hoảng. Khi được chuyển dịch sang Việt Nam đang tiến hành công cuộc Đổi Mới, nó thích ứng với tính chính trị chuyển đổi đương thời, đem đến những gợi ý, những trải nghiệm gián tiếp giúp bạn đọc hình dung về cơ hội và thách thức, nỗi đau và niềm hân hoan mà cuộc cải cách xã hội tất yếu đang diễn ra trước mắt. Thứ ba, có thể gọi tên là “mô hình tham chiếu”, dịch thuật và tiếp nhận các nền văn học châu Mĩ (Mĩ Latin và văn học Anh - Mĩ). Mô hình này hướng tới những giá trị, những thực hành chưa biết tới. Ở đó, văn học huyền ảo Mĩ Latin đem đến một kinh nghiệm hậu thực dân trong việc kiến tạo bản sắc văn hóa dân tộc và ý thức nghệ thuật của nhà văn, đem đến cho nhà văn Việt Nam một gợi ý để thoát li vòng kim cô phản ánh nghệ thuật, mở ra cánh cửa để bước vào thế giới của hư cấu nghệ thuật. Cũng như vậy, các nền văn học Anh - Mĩ đem đến gợi dẫn về vai trò và vị trí của tính giải trí, của văn hóa đại chúng, của sự tương liên giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác. Sự giao thoa giữa các mô hình dịch thuật và giữa dịch thuật với các thực hành văn hóa khác, đã góp phần quan trọng trong việc thay đổi quan niệm về thực tại và vị trí của tính giải trí trong văn học, theo đó, định hình tính chất của văn học Đổi Mới và Đổi Mới văn học ở Việt Nam.

 

3. Văn học dịch trong đa hệ thống văn hóa xã hội Việt Nam toàn cầu hóa

Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á. Quốc tế hóa văn học thời toàn cầu hóa đang dần trở thành xu thế chủ yếu của văn học Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XXI. Ở đấy, văn học dịch ở trung tâm của hoạt động giao lưu văn học đã dần hiện lên như yếu tố quyết định sự hình thành mô hình văn học mới Việt Nam chứ không phải ý thức về dân tộc thời thuộc địa, các chính sách trong các cuộc chiến tranh, hay ý thức về vai trò công chúng của nhà văn những năm hậu chiến khủng hoảng cùng những năm Đổi Mới cam go thử thách ý chí toàn dân tộc. Quan trọng hơn, hoạt động dịch thuật giờ đây lại thuộc về khu vực tư nhân, gắn với sự trỗi dậy của các công ti cổ phần hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh văn hóa và truyền thông. Chỉ có một phần rất nhỏ các dịch phẩm đến từ chủ trương của các think tank hay các tổ chức có sự bảo trợ của nhà nước. Có sự hình thành một thế hệ dịch giả chuyên nghiệp, sống bằng nghề dịch như cách nhà văn sống bằng nghề viết, cùng đông đảo dịch giả không chuyên - đến từ sự phổ biến của hệ thống giáo dục quốc tế và sự phát triển của đào tạo ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp - tham gia dịch thuật vì yêu thích văn học nghệ thuật. Tất cả góp phần dân chủ và dân sự hóa hoạt động dịch văn học và văn học dịch.

Khi không còn sự ước thúc của tính chính trị chuyển đổi như mấy chục năm cuối thế kỉ XX, bước sang thế kỉ XXI, dịch văn học bước vào con đường thênh thang của giao lưu và chuyển giao văn hóa, của sự trỗi dậy và ý thức về vai trò quan trọng của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Các mô hình dịch thuật mới sinh thành theo cùng sự chuyển biến của đời sống và chính sách. Có thể nhắc tới một số mô hình dịch thuật phổ biến. Lợi nhuận nằm ở trung tâm của mô hình thứ nhất, có thể gọi tên là “mô hình best-seller”, gắn với văn học đương đại, hướng vào các tác phẩm được dán nhãn bán chạy trên các tờ báo lớn, các trang bán sách chuyên nghiệp, chiếm top rank trên các trang đánh giá và phê bình sách uy tín, bất chấp tác phẩm đó thuộc loại hình nào, hư cấu hay phi hư cấu, văn học tinh hoa hay văn học đại chúng. Sự vinh danh nằm ở trung tâm của mô hình thứ hai, có thể gọi tên là “mô hình giải thưởng”, vừa gắn với đời sống văn học đương đại vừa lần lại lịch sử các giải thưởng danh giá hàng đầu. Văn học dịch Việt Nam tiếp cận nhanh nhạy và khá hệ thống với các tác giả và tác phẩm thuộc loại này, từ Nobel văn chương cho tới Goncourt, Fémina, Renaudot, Grand prix du roman de l’Académie française trong văn học Pháp ngữ, Booker, Man Booker và International Booker trong văn học Anh ngữ, Miguel de Cervantes trong văn học Tây Ban Nha ngữ, cùng hàng loạt giải thưởng danh giá đến từ các nền văn học lớn như National Book, Pulitzer, Neustadt của Mĩ, Whitbread (Costa Book) của Anh và Ireland, Giller của Canada, Miles Franklin của Úc, Deutscher Buchpreis của Đức, Mao Thuẫn, Lão Xá và Lỗ Tấn của Trung Quốc, Akutagawa và Naoki của Nhật… và các tổ chức văn học uy tín trên thế giới, như Women cho tác phẩm hư cấu dành cho nhà văn nữ của Anh, Hugo dành cho tác phẩm khoa học viễn tưởng và giả tưởng, Edgar dành cho văn học trinh thám, Newbery, Carnegie và Hans Christian Andersen cho văn học thiếu nhi… Những giá trị cổ điển/ điển phạm nằm ở trung tâm của mô hình thứ ba, là mô hình tiếp biến từ các “mô hình truyền thống” và “mô hình tham chiếu” từ thời Đổi Mới, hướng tới việc chuyển dịch và giới thiệu các tác phẩm mẫu mực, làm nên bản sắc và tinh hoa văn học của đất nước mà tác phẩm thuộc về nói riêng và của cả gia tài văn học thế giới nói chung. Bạn đọc Việt Nam được biết tới những đỉnh cao, những đại diện, những biểu hiện độc đáo của các nền văn học trên thế giới là nhờ vào hoạt động dịch thuật ở mô hình này. Cuối cùng, những trải nghiệm cá nhân nằm ở trung tâm của mô hình thứ tư, có thể gọi tên là “mô hình gặp gỡ”, hướng tới việc chuyển dịch những tác phẩm bất kì đem lại cảm hứng, sự sẻ chia, sự cần thiết, niềm vui, và cả việc xoa dịu nỗi buồn của dịch giả. Hoạt động dịch thuật trước nhất là dành cho cá nhân dịch giả, cùng đó và sau đó mới là sự lan tỏa đến bạn đọc. Hai mô hình thứ ba và thứ tư cùng các xu hướng dịch thuật khác làm đa dạng văn học dịch và hoạt động dịch văn học. Song mô hình thứ nhất và mô hình thứ hai mới là các mô hình định hình tính chất và diện mạo của văn học dịch và dịch văn học ở Việt Nam hơn hai thập niên đầu thế kỉ XXI. Sự cộng hưởng giữa thị trường, danh tiếng và thị hiếu đám đông nhấn mạnh vào tính đại chúng và tính toàn cầu của văn học khi văn học dịch đi vào trung tâm và kiến tạo hạng mục trong đa hệ thống văn chương Việt Nam đương đại.

 

4. Kết luận

Tóm lại, nửa thế kỉ tính từ ngày đất nước hòa bình thống nhất, văn học dịch và dịch văn học ở Việt Nam đã phát triển qua ba chặng đường. Mười năm đầu sau hậu chiến ghi nhận nỗ lực vượt thoát khủng hoảng đời sống xã hội của văn học dịch khi nó lặng lẽ đem đến những giá trị cổ điển của văn học thế giới qua khe cửa hẹp của chính sách xuất bản bị bóp nghẹt bởi các khó khăn về kinh tế, và lập trường ý thức hệ. Mười lăm năm tiếp theo, trong không khí chuyển đổi sục sôi mà Đổi Mới mang lại, văn học dịch chuyển mình và hình thành các khuynh hướng, các mô hình dịch thuật. Từ “truyền thống” đến “chuyển tiếp” và “tham chiếu”, văn học dịch nới rộng kinh nghiệm thẩm mĩ cho văn học Việt Nam, đem đến cho nhà văn và bạn đọc Việt Nam những trải nghiệm nghệ thuật mới, hàm chứa trong đó nhiều năng lượng sáng tạo và cả những thôi thúc cách tân văn học nghệ thuật. Sang thế kỉ XXI, Việt Nam gia nhập quỹ đạo toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa rộng mở theo đó khiến cho văn học dịch và hoạt động dịch văn học càng có nhiều cơ hội phát triển. Văn học dịch chiếm giữ vị trí trung tâm hệ thống văn học Việt Nam. Giao thoa hệ thống nhờ sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch không chỉ tăng khả năng tương tác giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác ở trong nước mà còn kết nối văn học Việt Nam vào mối quan tâm chung của nền văn học toàn cầu. Sự nổi lên của tính đại chúng và tính toàn cầu như một hệ quả của việc văn học nước ngoài du hành tới Việt Nam năm mươi năm qua, vì vậy, có thể xem như cơ hội và thách thức cho văn học Việt Nam, khi đối diện với tính chính trị bản sắc và chủ nghĩa dân tộc toàn cầu, để định vị tiếng nói và bản sắc địa phương trong một thế giới thường trực biến đổi.

Đ.A.D

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm