TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại

Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-30 16:37:33
mail facebook google pos stwis
371 lượt xem

ĐOÀN ÁNH DƯƠNG

Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Sự phát triển của lí thuyết dịch thuật đương đại ngày càng chứng minh rõ ràng vai trò quan trọng của văn học dịch và hoạt động dịch văn học trong cấu trúc tổng thể của nền văn học. Trong tiểu luận Văn học dịch trong đa hệ thống văn chương Itamar Even-Zohar đã đưa ra một đề xuất lí thuyết quan trọng về việc cần nghiên cứu văn học dịch như là bộ phận của nền văn học đích, cùng cách thức mà nó kiến tạo hạng mục trong đa hệ thống văn chương bản địa. Quan niệm này có được sự hồi ứng tri thức đáng kể của các nhà nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hướng tiếp cận đa hệ thống (còn được biết đến với tên gọi lí thuyết phức hệ) trong nghiên cứu văn học và văn hóa do Even-Zohar chủ trương. Ở Việt Nam, bên cạnh việc chuyển dịch các công trình tiêu biểu của Even-Zohar, đã có các nghiên cứu nhiều gợi mở về thực tiễn văn học từ cách tiếp cận này. Với khả năng đem lại một cách thức khảo tả mang tính lịch sử và cấu trúc về (vai trò của) văn học dịch trong đa hệ thống văn chương như vậy, khi rọi ánh sáng vào thực tiễn văn học Việt Nam từ sau năm 1975, nhất là từ công cuộc Đổi Mới năm 1986, hướng tiếp cận đa hệ thống theo đó không chỉ góp phần mô tả hệ thống và khách quan lịch sử dịch văn học và văn học dịch mà hơn thế, còn giúp hình dung các quy tắc nghệ thuật của đa hệ thống văn chương nhìn từ hoạt động dịch, truyền dẫn và giao thoa hệ thống ở Việt Nam đương đại.

 

1. Vai trò của văn học dịch trong việc định hình văn học Việt Nam hiện đại

Nền văn học Việt Nam hiện đại được viết bằng chữ quốc ngữ khởi sinh ở giao thời cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là hệ quả của hành động dịch, khi theo sau sự xâm lược của thực dân Pháp, mảnh đất này đã vượt ra ngoài đường biên khu vực Đông (Nam) Á để hiện diện trong mạng lưới giao lưu văn hóa toàn cầu. Một hệ thống các giao thoa thành hình dựa trên các hành động dịch và truyền dẫn đã khảm nên bức tranh văn học mới. Ở đó, thông qua chuyển dịch sang chữ quốc ngữ, nền văn học hiện đại có sự góp mặt của cả văn học cổ truyền dân tộc bằng chữ Hán và chữ Nôm, văn học nước ngoài (chủ yếu là văn học Pháp, Trung Quốc và Nhật) và cả văn học quốc ngữ mới theo mẫu hình Âu Tây. Tác động của việc truyền dẫn cũng làm thay đổi phong cách ngôn ngữ văn chương, khiến thơ cũ thất thế trước Thơ Mới, kịch hát nhường chỗ cho kịch nói, và nhất là ở văn xuôi, bạch thoại thay thế cho văn ngôn. Tất cả làm nên tính đại chúng của văn chương, khẳng định vai trò xã hội của văn nghệ sĩ trí thức. Từ một lĩnh vực đặc tuyển dành cho số ít người, văn chương thành ra một lĩnh vực phổ thông đại chúng, và theo đó, văn chương không chỉ chuyên chú vào những giá trị từ chương và luân lí mà còn hướng tới những nhu cầu giải trí và ý thức hệ. Hiện diện văn chương trở thành hiện diện xã hội. Giao thoa hệ thống đã thay đổi căn bản cấu trúc nền văn học thông qua hoạt động dịch văn học cùng sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong đa hệ thống văn học Việt Nam. Từ đó, nó kéo văn chương vào trung tâm của các hoạt động đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội ở Việt Nam thuộc địa.

Thành công của Cách mạng tháng Tám cùng viễn kiến về một nền văn nghệ mới khiến cách thức tiếp cận văn học dịch và hoạt động dịch văn học thay đổi theo quan điểm của chính quyền cách mạng. Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, di sản dịch thuật văn học phương Tây trước năm 1945 bị loại trừ như chính bộ phận văn học lãng mạn được hình thành theo mẫu hình phương Tây hiện đại. Đứng trên lập trường cộng sản, văn học dịch ở miền Bắc trong thời chiến chủ yếu đến từ các nền văn học Liên Xô, Trung Quốc và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Cố nhiên, nó cũng đến từ một bộ phận nhỏ văn học “tiến bộ” của các nền văn học tư sản phương Tây, nơi bộ phận văn học này tự nhiệm phơi bày và tố cáo tội ác của chủ nghĩa tư bản và các chế độ xã hội hình thành trên tinh thần tư bản chủ nghĩa. Ngược lại, ở nửa phía Nam, hoạt động dịch thuật diễn ra sôi động, phong phú và đa dạng trong các lựa chọn nền văn học nguồn, dù dòng chính vẫn đến từ thế giới tư bản phương Tây. Việc tham chiếu tới mô hình dân chủ phương Tây khiến cho các lĩnh vực xuất bản và báo chí và giáo dục phát triển đa dạng ở các đô thị lớn. Sự khác biệt quá rõ ràng về mặt ý thức hệ này đã tạo thành thách thức cho việc hòa nhập di sản văn chương và học thuật ấy vào không gian văn hóa và văn học định hướng xã hội chủ nghĩa sau ngày thống nhất đất nước. Dù càng ngày người ta càng nhận thức được nhu cầu chính đáng cùng những cơ hội và lợi ích mà việc chuyển dịch di sản này vào đời sống đương đại đem đến cho một Việt Nam thống nhất đang tham dự sâu rộng vào quá trình toàn cầu hóa.

 

2. Văn học dịch trong đa hệ thống văn hóa xã hội Việt Nam sau chiến tranh

Bước ngoặt xã hội hóa hoạt động văn hóa và xuất bản từ Đổi Mới đã làm thay đổi triệt để tính chất và diện mạo nền văn học kế hoạch, tập trung và bao cấp trước đó. Xuất bản “bung ra”, như một từ khóa phổ biến đương thời, để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu đa dạng của công chúng văn học nghệ thuật. Đối diện với một thế giới rộng lớn thời mở cửa và đặt chân lên một đời sống đang biến đổi chóng vánh, người ta có nhu cầu vin vào cái cũ để vững tin và tự vệ nhưng đồng thời cũng mở lòng hơn với cái mới. Nhờ đó, văn học dịch lại tái xuất khá rầm rộ. Có ba mô hình dịch thuật văn học chính yếu hiện diện ở Việt Nam lúc này. Thứ nhất, có thể gọi tên là “mô hình truyền thống”, dịch thuật và tiếp nhận văn học Pháp. Mô hình này duy trì và mở rộng các giá trị, các điển phạm văn học Pháp, vốn đã được biết đến, phát huy ảnh hưởng và để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hóa văn học Việt Nam hiện đại. Thứ hai, có thể gọi tên là “mô hình chuyển tiếp”, dịch thuật và tiếp nhận văn học phi chính thống (các tác phẩm có tính chất xét lại, phản tư, “sám hối” hoặc từ các dòng bàng thống) của văn học Nga và Trung Quốc xã hội chủ nghĩa. Mô hình này xuất phát từ các hấp lực và tác động xã hội mạnh mẽ mà bộ phận văn học phi chính thống đem lại cho đời sống văn hóa tinh thần ở các nước xã hội chủ nghĩa sở tại đang tìm hướng cải cách để vượt qua khủng hoảng. Khi được chuyển dịch sang Việt Nam đang tiến hành công cuộc Đổi Mới, nó thích ứng với tính chính trị chuyển đổi đương thời, đem đến những gợi ý, những trải nghiệm gián tiếp giúp bạn đọc hình dung về cơ hội và thách thức, nỗi đau và niềm hân hoan mà cuộc cải cách xã hội tất yếu đang diễn ra trước mắt. Thứ ba, có thể gọi tên là “mô hình tham chiếu”, dịch thuật và tiếp nhận các nền văn học châu Mĩ (Mĩ Latin và văn học Anh - Mĩ). Mô hình này hướng tới những giá trị, những thực hành chưa biết tới. Ở đó, văn học huyền ảo Mĩ Latin đem đến một kinh nghiệm hậu thực dân trong việc kiến tạo bản sắc văn hóa dân tộc và ý thức nghệ thuật của nhà văn, đem đến cho nhà văn Việt Nam một gợi ý để thoát li vòng kim cô phản ánh nghệ thuật, mở ra cánh cửa để bước vào thế giới của hư cấu nghệ thuật. Cũng như vậy, các nền văn học Anh - Mĩ đem đến gợi dẫn về vai trò và vị trí của tính giải trí, của văn hóa đại chúng, của sự tương liên giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác. Sự giao thoa giữa các mô hình dịch thuật và giữa dịch thuật với các thực hành văn hóa khác, đã góp phần quan trọng trong việc thay đổi quan niệm về thực tại và vị trí của tính giải trí trong văn học, theo đó, định hình tính chất của văn học Đổi Mới và Đổi Mới văn học ở Việt Nam.

 

3. Văn học dịch trong đa hệ thống văn hóa xã hội Việt Nam toàn cầu hóa

Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á. Quốc tế hóa văn học thời toàn cầu hóa đang dần trở thành xu thế chủ yếu của văn học Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XXI. Ở đấy, văn học dịch ở trung tâm của hoạt động giao lưu văn học đã dần hiện lên như yếu tố quyết định sự hình thành mô hình văn học mới Việt Nam chứ không phải ý thức về dân tộc thời thuộc địa, các chính sách trong các cuộc chiến tranh, hay ý thức về vai trò công chúng của nhà văn những năm hậu chiến khủng hoảng cùng những năm Đổi Mới cam go thử thách ý chí toàn dân tộc. Quan trọng hơn, hoạt động dịch thuật giờ đây lại thuộc về khu vực tư nhân, gắn với sự trỗi dậy của các công ti cổ phần hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh văn hóa và truyền thông. Chỉ có một phần rất nhỏ các dịch phẩm đến từ chủ trương của các think tank hay các tổ chức có sự bảo trợ của nhà nước. Có sự hình thành một thế hệ dịch giả chuyên nghiệp, sống bằng nghề dịch như cách nhà văn sống bằng nghề viết, cùng đông đảo dịch giả không chuyên - đến từ sự phổ biến của hệ thống giáo dục quốc tế và sự phát triển của đào tạo ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp - tham gia dịch thuật vì yêu thích văn học nghệ thuật. Tất cả góp phần dân chủ và dân sự hóa hoạt động dịch văn học và văn học dịch.

Khi không còn sự ước thúc của tính chính trị chuyển đổi như mấy chục năm cuối thế kỉ XX, bước sang thế kỉ XXI, dịch văn học bước vào con đường thênh thang của giao lưu và chuyển giao văn hóa, của sự trỗi dậy và ý thức về vai trò quan trọng của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Các mô hình dịch thuật mới sinh thành theo cùng sự chuyển biến của đời sống và chính sách. Có thể nhắc tới một số mô hình dịch thuật phổ biến. Lợi nhuận nằm ở trung tâm của mô hình thứ nhất, có thể gọi tên là “mô hình best-seller”, gắn với văn học đương đại, hướng vào các tác phẩm được dán nhãn bán chạy trên các tờ báo lớn, các trang bán sách chuyên nghiệp, chiếm top rank trên các trang đánh giá và phê bình sách uy tín, bất chấp tác phẩm đó thuộc loại hình nào, hư cấu hay phi hư cấu, văn học tinh hoa hay văn học đại chúng. Sự vinh danh nằm ở trung tâm của mô hình thứ hai, có thể gọi tên là “mô hình giải thưởng”, vừa gắn với đời sống văn học đương đại vừa lần lại lịch sử các giải thưởng danh giá hàng đầu. Văn học dịch Việt Nam tiếp cận nhanh nhạy và khá hệ thống với các tác giả và tác phẩm thuộc loại này, từ Nobel văn chương cho tới Goncourt, Fémina, Renaudot, Grand prix du roman de l’Académie française trong văn học Pháp ngữ, Booker, Man Booker và International Booker trong văn học Anh ngữ, Miguel de Cervantes trong văn học Tây Ban Nha ngữ, cùng hàng loạt giải thưởng danh giá đến từ các nền văn học lớn như National Book, Pulitzer, Neustadt của Mĩ, Whitbread (Costa Book) của Anh và Ireland, Giller của Canada, Miles Franklin của Úc, Deutscher Buchpreis của Đức, Mao Thuẫn, Lão Xá và Lỗ Tấn của Trung Quốc, Akutagawa và Naoki của Nhật… và các tổ chức văn học uy tín trên thế giới, như Women cho tác phẩm hư cấu dành cho nhà văn nữ của Anh, Hugo dành cho tác phẩm khoa học viễn tưởng và giả tưởng, Edgar dành cho văn học trinh thám, Newbery, Carnegie và Hans Christian Andersen cho văn học thiếu nhi… Những giá trị cổ điển/ điển phạm nằm ở trung tâm của mô hình thứ ba, là mô hình tiếp biến từ các “mô hình truyền thống” và “mô hình tham chiếu” từ thời Đổi Mới, hướng tới việc chuyển dịch và giới thiệu các tác phẩm mẫu mực, làm nên bản sắc và tinh hoa văn học của đất nước mà tác phẩm thuộc về nói riêng và của cả gia tài văn học thế giới nói chung. Bạn đọc Việt Nam được biết tới những đỉnh cao, những đại diện, những biểu hiện độc đáo của các nền văn học trên thế giới là nhờ vào hoạt động dịch thuật ở mô hình này. Cuối cùng, những trải nghiệm cá nhân nằm ở trung tâm của mô hình thứ tư, có thể gọi tên là “mô hình gặp gỡ”, hướng tới việc chuyển dịch những tác phẩm bất kì đem lại cảm hứng, sự sẻ chia, sự cần thiết, niềm vui, và cả việc xoa dịu nỗi buồn của dịch giả. Hoạt động dịch thuật trước nhất là dành cho cá nhân dịch giả, cùng đó và sau đó mới là sự lan tỏa đến bạn đọc. Hai mô hình thứ ba và thứ tư cùng các xu hướng dịch thuật khác làm đa dạng văn học dịch và hoạt động dịch văn học. Song mô hình thứ nhất và mô hình thứ hai mới là các mô hình định hình tính chất và diện mạo của văn học dịch và dịch văn học ở Việt Nam hơn hai thập niên đầu thế kỉ XXI. Sự cộng hưởng giữa thị trường, danh tiếng và thị hiếu đám đông nhấn mạnh vào tính đại chúng và tính toàn cầu của văn học khi văn học dịch đi vào trung tâm và kiến tạo hạng mục trong đa hệ thống văn chương Việt Nam đương đại.

 

4. Kết luận

Tóm lại, nửa thế kỉ tính từ ngày đất nước hòa bình thống nhất, văn học dịch và dịch văn học ở Việt Nam đã phát triển qua ba chặng đường. Mười năm đầu sau hậu chiến ghi nhận nỗ lực vượt thoát khủng hoảng đời sống xã hội của văn học dịch khi nó lặng lẽ đem đến những giá trị cổ điển của văn học thế giới qua khe cửa hẹp của chính sách xuất bản bị bóp nghẹt bởi các khó khăn về kinh tế, và lập trường ý thức hệ. Mười lăm năm tiếp theo, trong không khí chuyển đổi sục sôi mà Đổi Mới mang lại, văn học dịch chuyển mình và hình thành các khuynh hướng, các mô hình dịch thuật. Từ “truyền thống” đến “chuyển tiếp” và “tham chiếu”, văn học dịch nới rộng kinh nghiệm thẩm mĩ cho văn học Việt Nam, đem đến cho nhà văn và bạn đọc Việt Nam những trải nghiệm nghệ thuật mới, hàm chứa trong đó nhiều năng lượng sáng tạo và cả những thôi thúc cách tân văn học nghệ thuật. Sang thế kỉ XXI, Việt Nam gia nhập quỹ đạo toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa rộng mở theo đó khiến cho văn học dịch và hoạt động dịch văn học càng có nhiều cơ hội phát triển. Văn học dịch chiếm giữ vị trí trung tâm hệ thống văn học Việt Nam. Giao thoa hệ thống nhờ sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch không chỉ tăng khả năng tương tác giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác ở trong nước mà còn kết nối văn học Việt Nam vào mối quan tâm chung của nền văn học toàn cầu. Sự nổi lên của tính đại chúng và tính toàn cầu như một hệ quả của việc văn học nước ngoài du hành tới Việt Nam năm mươi năm qua, vì vậy, có thể xem như cơ hội và thách thức cho văn học Việt Nam, khi đối diện với tính chính trị bản sắc và chủ nghĩa dân tộc toàn cầu, để định vị tiếng nói và bản sắc địa phương trong một thế giới thường trực biến đổi.

Đ.A.D

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm