TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-11 10:26:41
mail facebook google pos stwis
1226 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

"Bài thơ cánh võng" là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh. Ở Nguyễn Vũ Quỳnh, thơ không cầu kỳ, không dụng công trau chuốt hình thức mà hiện lên bằng thứ ngôn từ giản dị, trong sáng như được rút ra trực tiếp từ mạch nguồn cảm xúc. Chính sự tự nhiên ấy lại làm nên sức gợi lớn, tạo nên chiều sâu lắng đọng. Bởi thơ anh không phải là sự sắp đặt của lý trí mà là tiếng nói của trái tim chân thành, thứ ngôn ngữ mà như Wordsworth từng nói: “Thơ sinh ra từ trái tim và trở về với trái tim”.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh và bìa tập "Bài thơ cánh võng"

Mạch cảm xúc xuyên suốt tập thơ khởi đi từ hình ảnh người Mẹ và lời ru, biểu tượng vừa gần gũi vừa mang ý nghĩa văn hóa sâu xa. Lời ru trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh không chỉ là âm thanh của ký ức mà còn là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, là hành trang tinh thần theo con người suốt cuộc đời: Mẹ mắc câu thơ lên hai đầu cánh võng/ Lời hát ru ngấm thành liều thuốc bổ/ Tạc vào đời con hành trang muôn thuở/ Tiếng ru đêm trao vốn liếng làm Người// Mẹ ru tình đất nước. Mẹ hôn cả khóc cười/ Làm đẹp tâm hồn, trẻ mãi tuổi thơ ơi/ Bao thăng trầm, bao nhọc nhằn chới với/ Gồng gánh cả cuộc đời. Mẹ gánh cả lời ru// Đông tàn, Xuân về, mùa Hạ sang Thu/ Cây vàng lá như vòng đời tuổi Mẹ/ Tiếng ru trưa hè cháu con thời thơ bé/ Câu ca dao Mẹ cất tiếng ru hời// Lời yêu thương đã có tự lâu rồi/ Hiện thực bao đời thành điều tri kỷ/ Dự báo của nhà thơ đã thành chân lý/ Thương con thơ Mẹ trao tiếng ru hời// Tiếng ru vọng vào giấc ngủ xa xôi/ Chép vào trẻ thơ khúc hát tiếng đưa nôi/ Cứ mênh mang như cánh đồng quê nội/ Tiếng Mẹ ru nâng bước khúc quân hành.

Ở đoạn thơ trên, lời ru không chỉ nuôi dưỡng một đời người mà còn chở theo tình đất nước, chở theo đạo lý làm người. Hình ảnh “cánh võng” trở thành một không gian văn hóa mà ở đó quá khứ, hiện tại và tương lai giao hòa; nơi người mẹ không chỉ ru con ngủ mà còn âm thầm “trao gửi vốn liếng làm người cho con”. Từ điểm tựa ấy, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh mở rộng ra những suy tư sâu sắc về đời sống trong xã hội hiện đại hôm nay.

Cánh võng - lời ru, vì thế không dừng lại ở hoài niệm mà trở thành biểu tượng của một nền tảng tinh thần. Nhà thơ đặt quá khứ và hiện tại trong thế đối sánh: một bên là tuổi thơ được nuôi dưỡng bằng tình mẹ, lời ru; một bên là hiện thực nơi trẻ em lớn lên trong đủ đầy vật chất nhưng lại thiếu vắng sự gắn bó thân thuộc. Sữa mẹ, lời ru là những điều tưởng chừng giản đơn nhưng lại chính là nguồn nuôi dưỡng toàn diện cả thể xác lẫn tâm hồn, điều mà không một tiện nghi hiện đại nào có thể thay thế.

Nỗi trăn trở ấy càng trở nên rõ nét khi nhà thơ nhìn vào đời sống đang đổi thay từng ngày. Trẻ nhỏ không còn được dỗ dành bằng vòng tay mẹ mà dần quen với những thiết bị công nghệ hiện đại; lời ru thưa vắng; ca dao, dân ca trở nên xa lạ. Sự đứt gãy văn hóa diễn ra âm thầm nhưng dai dẳng. Hình ảnh “lời ru cánh võng xa vời” không chỉ gợi khoảng cách mà còn gợi một nỗi mất mát sâu xa. Nguyễn Vũ Quỳnh như muốn nhắc rằng: con người hiện đại có thể đầy đủ hơn về vật chất nhưng nếu đánh mất lời ru, đánh mất tình mẹ thì sẽ để lại một khoảng trống lớn trong tâm hồn, khoảng trống ấy không dễ gì bù đắp.

Từ mạch nguồn lời ru, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh lan tỏa sang những suy tư về tình đồng đội, về chiến tranh và ký ức người lính, đó là một phần không thể tách rời trong đời sống tinh thần của anh; bởi anh đã từng là một người lính. Cuộc gặp lại sau bao nhiêu năm tháng cách xa không chỉ là niềm vui hội ngộ mà còn là dịp để chiêm nghiệm về số phận con người: Những rủi ro trên đường đời số phận/ kẻ thường dân đứa may mắn làm to/ đứa sang giàu đứa nghèo khó rủi ro…/ cảm ơn đời và đồng đội của tôi/ cứ tự nhiên như ôm vô lăng thời trẻ/ cuộc gặp chung vui bao điều san sẻ (Ta gặp lại ta).

Ở đó, người lính không chỉ nhìn lại quá khứ mà còn đối diện với hiện tại, với những biến thiên của đời sống. Sự từng trải của anh khiến giọng thơ trở nên trầm lắng, đậm chất suy tưởng.

Ký ức đồng đội khi hòa quyện với hình ảnh người mẹ và quê hương đã tạo nên một không gian vừa hiện thực vừa linh thiêng. Vì thế, khi đứng trước nghĩa trang Trường Sơn, cảm xúc nhà thơ dâng trào thành những vần thơ đầy xúc động: Trường Sơn viếng bạn đi xa/ Hình như cậu ấy về nhà thăm quê/ Nghĩa trang giòn giã tiếng ve/ Mà sao nghe thấy suối khe thì thào// Hương trầm vuốt khúc đồng dao/ Giật mình lại tưởng đứa nào đọc thơ/ Làng quê Mẹ những mong chờ/ Ngọn nhang thắp đỏ bàn thờ lời ru// Mẹ về giấc ngủ thiên thu/ Ru mày! Khóc cả kẻ thù năm nao/ Đồng đội toàn những ngôi sao/ Lời ru đất nước khắc vào Trường Sơn... (Khắc vào Trường Sơn).

Ở đây, lời ru không còn là của riêng người mẹ mà đã hóa thành “lời ru đất nước”, trở thành tiếng nói của lịch sử và sự hy sinh. Giọng thơ nhẹ nhàng, êm trôi nhưng ẩn chứa nỗi nghẹn ngào sâu lắng. Đây cũng là một đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ Nguyễn Vũ Quỳnh.

Không dừng lại ở quá khứ, nhà thơ còn hướng cái nhìn về hiện tại với nhiều trăn trở, tự vấn, suy tư. Những biến động của đời sống hiện đại, sự thay đổi trong các giá trị tinh thần khiến anh không khỏi băn khoăn: Nhân tình thế thái bể dâu/ cũng gần thơ đấy chắc đâu đã thành/… sóng ngầm bão tố mưa sa/ thơ là rượu đã chắt qua lẽ đời/ câu thơ trong tiếng ru hời/ thì ra thơ đã trong lời bình an/…công nghệ thay những từ yêu/ mai sau trẻ có đọc Kiều làm thơ? (Mai sau).

Câu hỏi “mai sau trẻ có đọc Kiều làm thơ?” không chỉ là nỗi băn khoăn về văn học mà còn là nỗi lo về sự mai một của những giá trị văn hóa truyền thống. Khi công nghệ dần thay thế những tương tác tình cảm, con người đứng trước nguy cơ đánh mất chiều sâu tâm hồn. Câu hỏi tu từ ấy  như cấu véo, xoáy vào tâm can những người luôn quan tâm và dõi theo đến những giá trị tinh thần của thế hệ trẻ hôm nay. Đó là câu hỏi lớn, cần sự quan tâm và chung tay của cả xã hội.

Xa quê, nhưng quê hương luôn là mạch nguồn chảy âm ỉ, bền bỉ trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Đó không chỉ là nơi chốn mà còn là cội rễ văn hóa, là ký ức nuôi dưỡng đời người. Vì thế, những vần thơ về hương quê vị quán luôn dạt dào cảm xúc:

Hương nước sông Lam kỳ diệu lắm/ Giặt sáng tắm chiều, mai vẫn còn thơm…/ Sông Lam hát ru làm mây trời bớt nám/ Đời sông ngân vang thao thức mãi câu Kiều (Tự tình với sông Lam).

Hay ở bài Sông Mã quê ơi, Nguyễn Vũ Quỳnh lại đau đáu rằng: Ta mang sông đi khắp phương trời xa lạ/ Mới hiểu chẳng nơi đâu thánh thiện tựa quê mình.

Quê hương hiện lên với cả gian khó, nhọc nhằn nhưng cũng chính vì thế mà càng neo đậu sâu hơn, lắng đọng hơn trong ký ức của một người ly hương như anh. Những hoài niệm ấy vừa da diết, vừa day dứt: Phiêu bạt đời con không ở chốn quê/ chuyến xe đời qua khúc cua ngày ấy/ giục bước chân xa chiều qua bến đợi/ nhặt mẩu chuyện tình mình đã đánh rơi/ quê đã hết những tháng năm gian khổ/ viết lại ngày xưa kỷ niệm cứ tràn về (Viết lại lời quê).

Nỗi nhớ quê không chỉ là cảm xúc mà còn trở thành món nợ ân tình không thể trả hết, hết cả đời anh chắc chắn vẫn còn là món nợ: Gánh nợ quê cả cuộc đời/ Con đi nhặt tiếng ru hời trả vay/ Ly rượu đời chẳng chịu say/ Chữ tình ta trả nợ vay quê nhà (Nợ quê).

Ở đây, “tiếng ru” lại một lần nữa trở thành sợi dây nối liền mọi tầng cảm xúc: từ mẹ đến quê, từ cá nhân đến cộng đồng, từ ký ức đến hiện tại.

Mẹ, lời ru, quê hương, đồng đội, đất nước… tất cả hòa quyện thành một chỉnh thể thống nhất, tạo nên mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Dù viết về chiến tranh, hiện tại hay ký ức, thơ anh vẫn thấm đẫm tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắc.

Gắn bó với Sài Gòn từ những năm tháng chiến tranh cho đến hôm nay, nhà thơ cũng dành cho nơi này một tình cảm đặc biệt: Thành phố Hồ Chí Minh/ Đây là thành phố chúng mình/ Thành phố Anh hùng của tôi yêu quý/ Nhân nghĩa ân tình mỗi bước ta đi/ Thành phố của em, thành phố của anh/ Thành phố duyên dáng bao mùa xuân nở/ Sáng tháng Tư đất trời xanh muôn thuở/ Sông nước tình yêu bên Bác bến Nhà Rồng/ Có sung sướng nào bằng vui lắm Bác Hồ ơi (Nơi Thành phố tình yêu).

Thành phố hiện lên như một không gian nghĩa tình, nơi nâng đỡ và chở che, trở thành “quê hương thứ hai” trong hành trình đời người của Nguyễn Vũ Quỳnh.

Nhìn trên tổng thể, Bài thơ cánh võng không chỉ là một tập thơ mà còn là hành trình đối thoại với chính mình và với đời sống. Ở đó, Nguyễn Vũ Quỳnh đặt ra những suy tư về con người cá nhân, về thân phận, về những bất an, hoang hoải, về hạnh phúc và khổ đau trong dòng chảy hiện đại. Nhưng vượt lên tất cả, anh vẫn trở về với những giá trị cốt lõi: lời ru của Mẹ, tình quê, tình người - những điều giản dị nhưng bền vững, không gì có thể thay thế.

Dẫu đi qua nhiều chặng đường, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh vẫn bền bỉ chảy về một nguồn: cánh võng lời ru, nơi khởi đầu và cũng là nơi neo giữ tâm hồn. Đó chính là mạch nguồn không bao giờ vơi cạn trong hành trình thi ca của anh./.

N.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm