TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-11 10:26:41
mail facebook google pos stwis
80 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

"Bài thơ cánh võng" là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh. Ở Nguyễn Vũ Quỳnh, thơ không cầu kỳ, không dụng công trau chuốt hình thức mà hiện lên bằng thứ ngôn từ giản dị, trong sáng như được rút ra trực tiếp từ mạch nguồn cảm xúc. Chính sự tự nhiên ấy lại làm nên sức gợi lớn, tạo nên chiều sâu lắng đọng. Bởi thơ anh không phải là sự sắp đặt của lý trí mà là tiếng nói của trái tim chân thành, thứ ngôn ngữ mà như Wordsworth từng nói: “Thơ sinh ra từ trái tim và trở về với trái tim”.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh và bìa tập "Bài thơ cánh võng"

Mạch cảm xúc xuyên suốt tập thơ khởi đi từ hình ảnh người Mẹ và lời ru, biểu tượng vừa gần gũi vừa mang ý nghĩa văn hóa sâu xa. Lời ru trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh không chỉ là âm thanh của ký ức mà còn là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, là hành trang tinh thần theo con người suốt cuộc đời: Mẹ mắc câu thơ lên hai đầu cánh võng/ Lời hát ru ngấm thành liều thuốc bổ/ Tạc vào đời con hành trang muôn thuở/ Tiếng ru đêm trao vốn liếng làm Người// Mẹ ru tình đất nước. Mẹ hôn cả khóc cười/ Làm đẹp tâm hồn, trẻ mãi tuổi thơ ơi/ Bao thăng trầm, bao nhọc nhằn chới với/ Gồng gánh cả cuộc đời. Mẹ gánh cả lời ru// Đông tàn, Xuân về, mùa Hạ sang Thu/ Cây vàng lá như vòng đời tuổi Mẹ/ Tiếng ru trưa hè cháu con thời thơ bé/ Câu ca dao Mẹ cất tiếng ru hời// Lời yêu thương đã có tự lâu rồi/ Hiện thực bao đời thành điều tri kỷ/ Dự báo của nhà thơ đã thành chân lý/ Thương con thơ Mẹ trao tiếng ru hời// Tiếng ru vọng vào giấc ngủ xa xôi/ Chép vào trẻ thơ khúc hát tiếng đưa nôi/ Cứ mênh mang như cánh đồng quê nội/ Tiếng Mẹ ru nâng bước khúc quân hành.

Ở đoạn thơ trên, lời ru không chỉ nuôi dưỡng một đời người mà còn chở theo tình đất nước, chở theo đạo lý làm người. Hình ảnh “cánh võng” trở thành một không gian văn hóa mà ở đó quá khứ, hiện tại và tương lai giao hòa; nơi người mẹ không chỉ ru con ngủ mà còn âm thầm “trao gửi vốn liếng làm người cho con”. Từ điểm tựa ấy, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh mở rộng ra những suy tư sâu sắc về đời sống trong xã hội hiện đại hôm nay.

Cánh võng - lời ru, vì thế không dừng lại ở hoài niệm mà trở thành biểu tượng của một nền tảng tinh thần. Nhà thơ đặt quá khứ và hiện tại trong thế đối sánh: một bên là tuổi thơ được nuôi dưỡng bằng tình mẹ, lời ru; một bên là hiện thực nơi trẻ em lớn lên trong đủ đầy vật chất nhưng lại thiếu vắng sự gắn bó thân thuộc. Sữa mẹ, lời ru là những điều tưởng chừng giản đơn nhưng lại chính là nguồn nuôi dưỡng toàn diện cả thể xác lẫn tâm hồn, điều mà không một tiện nghi hiện đại nào có thể thay thế.

Nỗi trăn trở ấy càng trở nên rõ nét khi nhà thơ nhìn vào đời sống đang đổi thay từng ngày. Trẻ nhỏ không còn được dỗ dành bằng vòng tay mẹ mà dần quen với những thiết bị công nghệ hiện đại; lời ru thưa vắng; ca dao, dân ca trở nên xa lạ. Sự đứt gãy văn hóa diễn ra âm thầm nhưng dai dẳng. Hình ảnh “lời ru cánh võng xa vời” không chỉ gợi khoảng cách mà còn gợi một nỗi mất mát sâu xa. Nguyễn Vũ Quỳnh như muốn nhắc rằng: con người hiện đại có thể đầy đủ hơn về vật chất nhưng nếu đánh mất lời ru, đánh mất tình mẹ thì sẽ để lại một khoảng trống lớn trong tâm hồn, khoảng trống ấy không dễ gì bù đắp.

Từ mạch nguồn lời ru, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh lan tỏa sang những suy tư về tình đồng đội, về chiến tranh và ký ức người lính, đó là một phần không thể tách rời trong đời sống tinh thần của anh; bởi anh đã từng là một người lính. Cuộc gặp lại sau bao nhiêu năm tháng cách xa không chỉ là niềm vui hội ngộ mà còn là dịp để chiêm nghiệm về số phận con người: Những rủi ro trên đường đời số phận/ kẻ thường dân đứa may mắn làm to/ đứa sang giàu đứa nghèo khó rủi ro…/ cảm ơn đời và đồng đội của tôi/ cứ tự nhiên như ôm vô lăng thời trẻ/ cuộc gặp chung vui bao điều san sẻ (Ta gặp lại ta).

Ở đó, người lính không chỉ nhìn lại quá khứ mà còn đối diện với hiện tại, với những biến thiên của đời sống. Sự từng trải của anh khiến giọng thơ trở nên trầm lắng, đậm chất suy tưởng.

Ký ức đồng đội khi hòa quyện với hình ảnh người mẹ và quê hương đã tạo nên một không gian vừa hiện thực vừa linh thiêng. Vì thế, khi đứng trước nghĩa trang Trường Sơn, cảm xúc nhà thơ dâng trào thành những vần thơ đầy xúc động: Trường Sơn viếng bạn đi xa/ Hình như cậu ấy về nhà thăm quê/ Nghĩa trang giòn giã tiếng ve/ Mà sao nghe thấy suối khe thì thào// Hương trầm vuốt khúc đồng dao/ Giật mình lại tưởng đứa nào đọc thơ/ Làng quê Mẹ những mong chờ/ Ngọn nhang thắp đỏ bàn thờ lời ru// Mẹ về giấc ngủ thiên thu/ Ru mày! Khóc cả kẻ thù năm nao/ Đồng đội toàn những ngôi sao/ Lời ru đất nước khắc vào Trường Sơn... (Khắc vào Trường Sơn).

Ở đây, lời ru không còn là của riêng người mẹ mà đã hóa thành “lời ru đất nước”, trở thành tiếng nói của lịch sử và sự hy sinh. Giọng thơ nhẹ nhàng, êm trôi nhưng ẩn chứa nỗi nghẹn ngào sâu lắng. Đây cũng là một đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ Nguyễn Vũ Quỳnh.

Không dừng lại ở quá khứ, nhà thơ còn hướng cái nhìn về hiện tại với nhiều trăn trở, tự vấn, suy tư. Những biến động của đời sống hiện đại, sự thay đổi trong các giá trị tinh thần khiến anh không khỏi băn khoăn: Nhân tình thế thái bể dâu/ cũng gần thơ đấy chắc đâu đã thành/… sóng ngầm bão tố mưa sa/ thơ là rượu đã chắt qua lẽ đời/ câu thơ trong tiếng ru hời/ thì ra thơ đã trong lời bình an/…công nghệ thay những từ yêu/ mai sau trẻ có đọc Kiều làm thơ? (Mai sau).

Câu hỏi “mai sau trẻ có đọc Kiều làm thơ?” không chỉ là nỗi băn khoăn về văn học mà còn là nỗi lo về sự mai một của những giá trị văn hóa truyền thống. Khi công nghệ dần thay thế những tương tác tình cảm, con người đứng trước nguy cơ đánh mất chiều sâu tâm hồn. Câu hỏi tu từ ấy  như cấu véo, xoáy vào tâm can những người luôn quan tâm và dõi theo đến những giá trị tinh thần của thế hệ trẻ hôm nay. Đó là câu hỏi lớn, cần sự quan tâm và chung tay của cả xã hội.

Xa quê, nhưng quê hương luôn là mạch nguồn chảy âm ỉ, bền bỉ trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Đó không chỉ là nơi chốn mà còn là cội rễ văn hóa, là ký ức nuôi dưỡng đời người. Vì thế, những vần thơ về hương quê vị quán luôn dạt dào cảm xúc:

Hương nước sông Lam kỳ diệu lắm/ Giặt sáng tắm chiều, mai vẫn còn thơm…/ Sông Lam hát ru làm mây trời bớt nám/ Đời sông ngân vang thao thức mãi câu Kiều (Tự tình với sông Lam).

Hay ở bài Sông Mã quê ơi, Nguyễn Vũ Quỳnh lại đau đáu rằng: Ta mang sông đi khắp phương trời xa lạ/ Mới hiểu chẳng nơi đâu thánh thiện tựa quê mình.

Quê hương hiện lên với cả gian khó, nhọc nhằn nhưng cũng chính vì thế mà càng neo đậu sâu hơn, lắng đọng hơn trong ký ức của một người ly hương như anh. Những hoài niệm ấy vừa da diết, vừa day dứt: Phiêu bạt đời con không ở chốn quê/ chuyến xe đời qua khúc cua ngày ấy/ giục bước chân xa chiều qua bến đợi/ nhặt mẩu chuyện tình mình đã đánh rơi/ quê đã hết những tháng năm gian khổ/ viết lại ngày xưa kỷ niệm cứ tràn về (Viết lại lời quê).

Nỗi nhớ quê không chỉ là cảm xúc mà còn trở thành món nợ ân tình không thể trả hết, hết cả đời anh chắc chắn vẫn còn là món nợ: Gánh nợ quê cả cuộc đời/ Con đi nhặt tiếng ru hời trả vay/ Ly rượu đời chẳng chịu say/ Chữ tình ta trả nợ vay quê nhà (Nợ quê).

Ở đây, “tiếng ru” lại một lần nữa trở thành sợi dây nối liền mọi tầng cảm xúc: từ mẹ đến quê, từ cá nhân đến cộng đồng, từ ký ức đến hiện tại.

Mẹ, lời ru, quê hương, đồng đội, đất nước… tất cả hòa quyện thành một chỉnh thể thống nhất, tạo nên mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Dù viết về chiến tranh, hiện tại hay ký ức, thơ anh vẫn thấm đẫm tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắc.

Gắn bó với Sài Gòn từ những năm tháng chiến tranh cho đến hôm nay, nhà thơ cũng dành cho nơi này một tình cảm đặc biệt: Thành phố Hồ Chí Minh/ Đây là thành phố chúng mình/ Thành phố Anh hùng của tôi yêu quý/ Nhân nghĩa ân tình mỗi bước ta đi/ Thành phố của em, thành phố của anh/ Thành phố duyên dáng bao mùa xuân nở/ Sáng tháng Tư đất trời xanh muôn thuở/ Sông nước tình yêu bên Bác bến Nhà Rồng/ Có sung sướng nào bằng vui lắm Bác Hồ ơi (Nơi Thành phố tình yêu).

Thành phố hiện lên như một không gian nghĩa tình, nơi nâng đỡ và chở che, trở thành “quê hương thứ hai” trong hành trình đời người của Nguyễn Vũ Quỳnh.

Nhìn trên tổng thể, Bài thơ cánh võng không chỉ là một tập thơ mà còn là hành trình đối thoại với chính mình và với đời sống. Ở đó, Nguyễn Vũ Quỳnh đặt ra những suy tư về con người cá nhân, về thân phận, về những bất an, hoang hoải, về hạnh phúc và khổ đau trong dòng chảy hiện đại. Nhưng vượt lên tất cả, anh vẫn trở về với những giá trị cốt lõi: lời ru của Mẹ, tình quê, tình người - những điều giản dị nhưng bền vững, không gì có thể thay thế.

Dẫu đi qua nhiều chặng đường, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh vẫn bền bỉ chảy về một nguồn: cánh võng lời ru, nơi khởi đầu và cũng là nơi neo giữ tâm hồn. Đó chính là mạch nguồn không bao giờ vơi cạn trong hành trình thi ca của anh./.

N.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm