TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-11 10:26:41
mail facebook google pos stwis
902 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

"Bài thơ cánh võng" là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh. Ở Nguyễn Vũ Quỳnh, thơ không cầu kỳ, không dụng công trau chuốt hình thức mà hiện lên bằng thứ ngôn từ giản dị, trong sáng như được rút ra trực tiếp từ mạch nguồn cảm xúc. Chính sự tự nhiên ấy lại làm nên sức gợi lớn, tạo nên chiều sâu lắng đọng. Bởi thơ anh không phải là sự sắp đặt của lý trí mà là tiếng nói của trái tim chân thành, thứ ngôn ngữ mà như Wordsworth từng nói: “Thơ sinh ra từ trái tim và trở về với trái tim”.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh và bìa tập "Bài thơ cánh võng"

Mạch cảm xúc xuyên suốt tập thơ khởi đi từ hình ảnh người Mẹ và lời ru, biểu tượng vừa gần gũi vừa mang ý nghĩa văn hóa sâu xa. Lời ru trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh không chỉ là âm thanh của ký ức mà còn là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, là hành trang tinh thần theo con người suốt cuộc đời: Mẹ mắc câu thơ lên hai đầu cánh võng/ Lời hát ru ngấm thành liều thuốc bổ/ Tạc vào đời con hành trang muôn thuở/ Tiếng ru đêm trao vốn liếng làm Người// Mẹ ru tình đất nước. Mẹ hôn cả khóc cười/ Làm đẹp tâm hồn, trẻ mãi tuổi thơ ơi/ Bao thăng trầm, bao nhọc nhằn chới với/ Gồng gánh cả cuộc đời. Mẹ gánh cả lời ru// Đông tàn, Xuân về, mùa Hạ sang Thu/ Cây vàng lá như vòng đời tuổi Mẹ/ Tiếng ru trưa hè cháu con thời thơ bé/ Câu ca dao Mẹ cất tiếng ru hời// Lời yêu thương đã có tự lâu rồi/ Hiện thực bao đời thành điều tri kỷ/ Dự báo của nhà thơ đã thành chân lý/ Thương con thơ Mẹ trao tiếng ru hời// Tiếng ru vọng vào giấc ngủ xa xôi/ Chép vào trẻ thơ khúc hát tiếng đưa nôi/ Cứ mênh mang như cánh đồng quê nội/ Tiếng Mẹ ru nâng bước khúc quân hành.

Ở đoạn thơ trên, lời ru không chỉ nuôi dưỡng một đời người mà còn chở theo tình đất nước, chở theo đạo lý làm người. Hình ảnh “cánh võng” trở thành một không gian văn hóa mà ở đó quá khứ, hiện tại và tương lai giao hòa; nơi người mẹ không chỉ ru con ngủ mà còn âm thầm “trao gửi vốn liếng làm người cho con”. Từ điểm tựa ấy, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh mở rộng ra những suy tư sâu sắc về đời sống trong xã hội hiện đại hôm nay.

Cánh võng - lời ru, vì thế không dừng lại ở hoài niệm mà trở thành biểu tượng của một nền tảng tinh thần. Nhà thơ đặt quá khứ và hiện tại trong thế đối sánh: một bên là tuổi thơ được nuôi dưỡng bằng tình mẹ, lời ru; một bên là hiện thực nơi trẻ em lớn lên trong đủ đầy vật chất nhưng lại thiếu vắng sự gắn bó thân thuộc. Sữa mẹ, lời ru là những điều tưởng chừng giản đơn nhưng lại chính là nguồn nuôi dưỡng toàn diện cả thể xác lẫn tâm hồn, điều mà không một tiện nghi hiện đại nào có thể thay thế.

Nỗi trăn trở ấy càng trở nên rõ nét khi nhà thơ nhìn vào đời sống đang đổi thay từng ngày. Trẻ nhỏ không còn được dỗ dành bằng vòng tay mẹ mà dần quen với những thiết bị công nghệ hiện đại; lời ru thưa vắng; ca dao, dân ca trở nên xa lạ. Sự đứt gãy văn hóa diễn ra âm thầm nhưng dai dẳng. Hình ảnh “lời ru cánh võng xa vời” không chỉ gợi khoảng cách mà còn gợi một nỗi mất mát sâu xa. Nguyễn Vũ Quỳnh như muốn nhắc rằng: con người hiện đại có thể đầy đủ hơn về vật chất nhưng nếu đánh mất lời ru, đánh mất tình mẹ thì sẽ để lại một khoảng trống lớn trong tâm hồn, khoảng trống ấy không dễ gì bù đắp.

Từ mạch nguồn lời ru, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh lan tỏa sang những suy tư về tình đồng đội, về chiến tranh và ký ức người lính, đó là một phần không thể tách rời trong đời sống tinh thần của anh; bởi anh đã từng là một người lính. Cuộc gặp lại sau bao nhiêu năm tháng cách xa không chỉ là niềm vui hội ngộ mà còn là dịp để chiêm nghiệm về số phận con người: Những rủi ro trên đường đời số phận/ kẻ thường dân đứa may mắn làm to/ đứa sang giàu đứa nghèo khó rủi ro…/ cảm ơn đời và đồng đội của tôi/ cứ tự nhiên như ôm vô lăng thời trẻ/ cuộc gặp chung vui bao điều san sẻ (Ta gặp lại ta).

Ở đó, người lính không chỉ nhìn lại quá khứ mà còn đối diện với hiện tại, với những biến thiên của đời sống. Sự từng trải của anh khiến giọng thơ trở nên trầm lắng, đậm chất suy tưởng.

Ký ức đồng đội khi hòa quyện với hình ảnh người mẹ và quê hương đã tạo nên một không gian vừa hiện thực vừa linh thiêng. Vì thế, khi đứng trước nghĩa trang Trường Sơn, cảm xúc nhà thơ dâng trào thành những vần thơ đầy xúc động: Trường Sơn viếng bạn đi xa/ Hình như cậu ấy về nhà thăm quê/ Nghĩa trang giòn giã tiếng ve/ Mà sao nghe thấy suối khe thì thào// Hương trầm vuốt khúc đồng dao/ Giật mình lại tưởng đứa nào đọc thơ/ Làng quê Mẹ những mong chờ/ Ngọn nhang thắp đỏ bàn thờ lời ru// Mẹ về giấc ngủ thiên thu/ Ru mày! Khóc cả kẻ thù năm nao/ Đồng đội toàn những ngôi sao/ Lời ru đất nước khắc vào Trường Sơn... (Khắc vào Trường Sơn).

Ở đây, lời ru không còn là của riêng người mẹ mà đã hóa thành “lời ru đất nước”, trở thành tiếng nói của lịch sử và sự hy sinh. Giọng thơ nhẹ nhàng, êm trôi nhưng ẩn chứa nỗi nghẹn ngào sâu lắng. Đây cũng là một đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ Nguyễn Vũ Quỳnh.

Không dừng lại ở quá khứ, nhà thơ còn hướng cái nhìn về hiện tại với nhiều trăn trở, tự vấn, suy tư. Những biến động của đời sống hiện đại, sự thay đổi trong các giá trị tinh thần khiến anh không khỏi băn khoăn: Nhân tình thế thái bể dâu/ cũng gần thơ đấy chắc đâu đã thành/… sóng ngầm bão tố mưa sa/ thơ là rượu đã chắt qua lẽ đời/ câu thơ trong tiếng ru hời/ thì ra thơ đã trong lời bình an/…công nghệ thay những từ yêu/ mai sau trẻ có đọc Kiều làm thơ? (Mai sau).

Câu hỏi “mai sau trẻ có đọc Kiều làm thơ?” không chỉ là nỗi băn khoăn về văn học mà còn là nỗi lo về sự mai một của những giá trị văn hóa truyền thống. Khi công nghệ dần thay thế những tương tác tình cảm, con người đứng trước nguy cơ đánh mất chiều sâu tâm hồn. Câu hỏi tu từ ấy  như cấu véo, xoáy vào tâm can những người luôn quan tâm và dõi theo đến những giá trị tinh thần của thế hệ trẻ hôm nay. Đó là câu hỏi lớn, cần sự quan tâm và chung tay của cả xã hội.

Xa quê, nhưng quê hương luôn là mạch nguồn chảy âm ỉ, bền bỉ trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Đó không chỉ là nơi chốn mà còn là cội rễ văn hóa, là ký ức nuôi dưỡng đời người. Vì thế, những vần thơ về hương quê vị quán luôn dạt dào cảm xúc:

Hương nước sông Lam kỳ diệu lắm/ Giặt sáng tắm chiều, mai vẫn còn thơm…/ Sông Lam hát ru làm mây trời bớt nám/ Đời sông ngân vang thao thức mãi câu Kiều (Tự tình với sông Lam).

Hay ở bài Sông Mã quê ơi, Nguyễn Vũ Quỳnh lại đau đáu rằng: Ta mang sông đi khắp phương trời xa lạ/ Mới hiểu chẳng nơi đâu thánh thiện tựa quê mình.

Quê hương hiện lên với cả gian khó, nhọc nhằn nhưng cũng chính vì thế mà càng neo đậu sâu hơn, lắng đọng hơn trong ký ức của một người ly hương như anh. Những hoài niệm ấy vừa da diết, vừa day dứt: Phiêu bạt đời con không ở chốn quê/ chuyến xe đời qua khúc cua ngày ấy/ giục bước chân xa chiều qua bến đợi/ nhặt mẩu chuyện tình mình đã đánh rơi/ quê đã hết những tháng năm gian khổ/ viết lại ngày xưa kỷ niệm cứ tràn về (Viết lại lời quê).

Nỗi nhớ quê không chỉ là cảm xúc mà còn trở thành món nợ ân tình không thể trả hết, hết cả đời anh chắc chắn vẫn còn là món nợ: Gánh nợ quê cả cuộc đời/ Con đi nhặt tiếng ru hời trả vay/ Ly rượu đời chẳng chịu say/ Chữ tình ta trả nợ vay quê nhà (Nợ quê).

Ở đây, “tiếng ru” lại một lần nữa trở thành sợi dây nối liền mọi tầng cảm xúc: từ mẹ đến quê, từ cá nhân đến cộng đồng, từ ký ức đến hiện tại.

Mẹ, lời ru, quê hương, đồng đội, đất nước… tất cả hòa quyện thành một chỉnh thể thống nhất, tạo nên mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Dù viết về chiến tranh, hiện tại hay ký ức, thơ anh vẫn thấm đẫm tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắc.

Gắn bó với Sài Gòn từ những năm tháng chiến tranh cho đến hôm nay, nhà thơ cũng dành cho nơi này một tình cảm đặc biệt: Thành phố Hồ Chí Minh/ Đây là thành phố chúng mình/ Thành phố Anh hùng của tôi yêu quý/ Nhân nghĩa ân tình mỗi bước ta đi/ Thành phố của em, thành phố của anh/ Thành phố duyên dáng bao mùa xuân nở/ Sáng tháng Tư đất trời xanh muôn thuở/ Sông nước tình yêu bên Bác bến Nhà Rồng/ Có sung sướng nào bằng vui lắm Bác Hồ ơi (Nơi Thành phố tình yêu).

Thành phố hiện lên như một không gian nghĩa tình, nơi nâng đỡ và chở che, trở thành “quê hương thứ hai” trong hành trình đời người của Nguyễn Vũ Quỳnh.

Nhìn trên tổng thể, Bài thơ cánh võng không chỉ là một tập thơ mà còn là hành trình đối thoại với chính mình và với đời sống. Ở đó, Nguyễn Vũ Quỳnh đặt ra những suy tư về con người cá nhân, về thân phận, về những bất an, hoang hoải, về hạnh phúc và khổ đau trong dòng chảy hiện đại. Nhưng vượt lên tất cả, anh vẫn trở về với những giá trị cốt lõi: lời ru của Mẹ, tình quê, tình người - những điều giản dị nhưng bền vững, không gì có thể thay thế.

Dẫu đi qua nhiều chặng đường, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh vẫn bền bỉ chảy về một nguồn: cánh võng lời ru, nơi khởi đầu và cũng là nơi neo giữ tâm hồn. Đó chính là mạch nguồn không bao giờ vơi cạn trong hành trình thi ca của anh./.

N.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm