TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-11 10:26:41
mail facebook google pos stwis
1419 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

"Bài thơ cánh võng" là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh. Ở Nguyễn Vũ Quỳnh, thơ không cầu kỳ, không dụng công trau chuốt hình thức mà hiện lên bằng thứ ngôn từ giản dị, trong sáng như được rút ra trực tiếp từ mạch nguồn cảm xúc. Chính sự tự nhiên ấy lại làm nên sức gợi lớn, tạo nên chiều sâu lắng đọng. Bởi thơ anh không phải là sự sắp đặt của lý trí mà là tiếng nói của trái tim chân thành, thứ ngôn ngữ mà như Wordsworth từng nói: “Thơ sinh ra từ trái tim và trở về với trái tim”.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh và bìa tập "Bài thơ cánh võng"

Mạch cảm xúc xuyên suốt tập thơ khởi đi từ hình ảnh người Mẹ và lời ru, biểu tượng vừa gần gũi vừa mang ý nghĩa văn hóa sâu xa. Lời ru trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh không chỉ là âm thanh của ký ức mà còn là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, là hành trang tinh thần theo con người suốt cuộc đời: Mẹ mắc câu thơ lên hai đầu cánh võng/ Lời hát ru ngấm thành liều thuốc bổ/ Tạc vào đời con hành trang muôn thuở/ Tiếng ru đêm trao vốn liếng làm Người// Mẹ ru tình đất nước. Mẹ hôn cả khóc cười/ Làm đẹp tâm hồn, trẻ mãi tuổi thơ ơi/ Bao thăng trầm, bao nhọc nhằn chới với/ Gồng gánh cả cuộc đời. Mẹ gánh cả lời ru// Đông tàn, Xuân về, mùa Hạ sang Thu/ Cây vàng lá như vòng đời tuổi Mẹ/ Tiếng ru trưa hè cháu con thời thơ bé/ Câu ca dao Mẹ cất tiếng ru hời// Lời yêu thương đã có tự lâu rồi/ Hiện thực bao đời thành điều tri kỷ/ Dự báo của nhà thơ đã thành chân lý/ Thương con thơ Mẹ trao tiếng ru hời// Tiếng ru vọng vào giấc ngủ xa xôi/ Chép vào trẻ thơ khúc hát tiếng đưa nôi/ Cứ mênh mang như cánh đồng quê nội/ Tiếng Mẹ ru nâng bước khúc quân hành.

Ở đoạn thơ trên, lời ru không chỉ nuôi dưỡng một đời người mà còn chở theo tình đất nước, chở theo đạo lý làm người. Hình ảnh “cánh võng” trở thành một không gian văn hóa mà ở đó quá khứ, hiện tại và tương lai giao hòa; nơi người mẹ không chỉ ru con ngủ mà còn âm thầm “trao gửi vốn liếng làm người cho con”. Từ điểm tựa ấy, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh mở rộng ra những suy tư sâu sắc về đời sống trong xã hội hiện đại hôm nay.

Cánh võng - lời ru, vì thế không dừng lại ở hoài niệm mà trở thành biểu tượng của một nền tảng tinh thần. Nhà thơ đặt quá khứ và hiện tại trong thế đối sánh: một bên là tuổi thơ được nuôi dưỡng bằng tình mẹ, lời ru; một bên là hiện thực nơi trẻ em lớn lên trong đủ đầy vật chất nhưng lại thiếu vắng sự gắn bó thân thuộc. Sữa mẹ, lời ru là những điều tưởng chừng giản đơn nhưng lại chính là nguồn nuôi dưỡng toàn diện cả thể xác lẫn tâm hồn, điều mà không một tiện nghi hiện đại nào có thể thay thế.

Nỗi trăn trở ấy càng trở nên rõ nét khi nhà thơ nhìn vào đời sống đang đổi thay từng ngày. Trẻ nhỏ không còn được dỗ dành bằng vòng tay mẹ mà dần quen với những thiết bị công nghệ hiện đại; lời ru thưa vắng; ca dao, dân ca trở nên xa lạ. Sự đứt gãy văn hóa diễn ra âm thầm nhưng dai dẳng. Hình ảnh “lời ru cánh võng xa vời” không chỉ gợi khoảng cách mà còn gợi một nỗi mất mát sâu xa. Nguyễn Vũ Quỳnh như muốn nhắc rằng: con người hiện đại có thể đầy đủ hơn về vật chất nhưng nếu đánh mất lời ru, đánh mất tình mẹ thì sẽ để lại một khoảng trống lớn trong tâm hồn, khoảng trống ấy không dễ gì bù đắp.

Từ mạch nguồn lời ru, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh lan tỏa sang những suy tư về tình đồng đội, về chiến tranh và ký ức người lính, đó là một phần không thể tách rời trong đời sống tinh thần của anh; bởi anh đã từng là một người lính. Cuộc gặp lại sau bao nhiêu năm tháng cách xa không chỉ là niềm vui hội ngộ mà còn là dịp để chiêm nghiệm về số phận con người: Những rủi ro trên đường đời số phận/ kẻ thường dân đứa may mắn làm to/ đứa sang giàu đứa nghèo khó rủi ro…/ cảm ơn đời và đồng đội của tôi/ cứ tự nhiên như ôm vô lăng thời trẻ/ cuộc gặp chung vui bao điều san sẻ (Ta gặp lại ta).

Ở đó, người lính không chỉ nhìn lại quá khứ mà còn đối diện với hiện tại, với những biến thiên của đời sống. Sự từng trải của anh khiến giọng thơ trở nên trầm lắng, đậm chất suy tưởng.

Ký ức đồng đội khi hòa quyện với hình ảnh người mẹ và quê hương đã tạo nên một không gian vừa hiện thực vừa linh thiêng. Vì thế, khi đứng trước nghĩa trang Trường Sơn, cảm xúc nhà thơ dâng trào thành những vần thơ đầy xúc động: Trường Sơn viếng bạn đi xa/ Hình như cậu ấy về nhà thăm quê/ Nghĩa trang giòn giã tiếng ve/ Mà sao nghe thấy suối khe thì thào// Hương trầm vuốt khúc đồng dao/ Giật mình lại tưởng đứa nào đọc thơ/ Làng quê Mẹ những mong chờ/ Ngọn nhang thắp đỏ bàn thờ lời ru// Mẹ về giấc ngủ thiên thu/ Ru mày! Khóc cả kẻ thù năm nao/ Đồng đội toàn những ngôi sao/ Lời ru đất nước khắc vào Trường Sơn... (Khắc vào Trường Sơn).

Ở đây, lời ru không còn là của riêng người mẹ mà đã hóa thành “lời ru đất nước”, trở thành tiếng nói của lịch sử và sự hy sinh. Giọng thơ nhẹ nhàng, êm trôi nhưng ẩn chứa nỗi nghẹn ngào sâu lắng. Đây cũng là một đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ Nguyễn Vũ Quỳnh.

Không dừng lại ở quá khứ, nhà thơ còn hướng cái nhìn về hiện tại với nhiều trăn trở, tự vấn, suy tư. Những biến động của đời sống hiện đại, sự thay đổi trong các giá trị tinh thần khiến anh không khỏi băn khoăn: Nhân tình thế thái bể dâu/ cũng gần thơ đấy chắc đâu đã thành/… sóng ngầm bão tố mưa sa/ thơ là rượu đã chắt qua lẽ đời/ câu thơ trong tiếng ru hời/ thì ra thơ đã trong lời bình an/…công nghệ thay những từ yêu/ mai sau trẻ có đọc Kiều làm thơ? (Mai sau).

Câu hỏi “mai sau trẻ có đọc Kiều làm thơ?” không chỉ là nỗi băn khoăn về văn học mà còn là nỗi lo về sự mai một của những giá trị văn hóa truyền thống. Khi công nghệ dần thay thế những tương tác tình cảm, con người đứng trước nguy cơ đánh mất chiều sâu tâm hồn. Câu hỏi tu từ ấy  như cấu véo, xoáy vào tâm can những người luôn quan tâm và dõi theo đến những giá trị tinh thần của thế hệ trẻ hôm nay. Đó là câu hỏi lớn, cần sự quan tâm và chung tay của cả xã hội.

Xa quê, nhưng quê hương luôn là mạch nguồn chảy âm ỉ, bền bỉ trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Đó không chỉ là nơi chốn mà còn là cội rễ văn hóa, là ký ức nuôi dưỡng đời người. Vì thế, những vần thơ về hương quê vị quán luôn dạt dào cảm xúc:

Hương nước sông Lam kỳ diệu lắm/ Giặt sáng tắm chiều, mai vẫn còn thơm…/ Sông Lam hát ru làm mây trời bớt nám/ Đời sông ngân vang thao thức mãi câu Kiều (Tự tình với sông Lam).

Hay ở bài Sông Mã quê ơi, Nguyễn Vũ Quỳnh lại đau đáu rằng: Ta mang sông đi khắp phương trời xa lạ/ Mới hiểu chẳng nơi đâu thánh thiện tựa quê mình.

Quê hương hiện lên với cả gian khó, nhọc nhằn nhưng cũng chính vì thế mà càng neo đậu sâu hơn, lắng đọng hơn trong ký ức của một người ly hương như anh. Những hoài niệm ấy vừa da diết, vừa day dứt: Phiêu bạt đời con không ở chốn quê/ chuyến xe đời qua khúc cua ngày ấy/ giục bước chân xa chiều qua bến đợi/ nhặt mẩu chuyện tình mình đã đánh rơi/ quê đã hết những tháng năm gian khổ/ viết lại ngày xưa kỷ niệm cứ tràn về (Viết lại lời quê).

Nỗi nhớ quê không chỉ là cảm xúc mà còn trở thành món nợ ân tình không thể trả hết, hết cả đời anh chắc chắn vẫn còn là món nợ: Gánh nợ quê cả cuộc đời/ Con đi nhặt tiếng ru hời trả vay/ Ly rượu đời chẳng chịu say/ Chữ tình ta trả nợ vay quê nhà (Nợ quê).

Ở đây, “tiếng ru” lại một lần nữa trở thành sợi dây nối liền mọi tầng cảm xúc: từ mẹ đến quê, từ cá nhân đến cộng đồng, từ ký ức đến hiện tại.

Mẹ, lời ru, quê hương, đồng đội, đất nước… tất cả hòa quyện thành một chỉnh thể thống nhất, tạo nên mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh. Dù viết về chiến tranh, hiện tại hay ký ức, thơ anh vẫn thấm đẫm tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắc.

Gắn bó với Sài Gòn từ những năm tháng chiến tranh cho đến hôm nay, nhà thơ cũng dành cho nơi này một tình cảm đặc biệt: Thành phố Hồ Chí Minh/ Đây là thành phố chúng mình/ Thành phố Anh hùng của tôi yêu quý/ Nhân nghĩa ân tình mỗi bước ta đi/ Thành phố của em, thành phố của anh/ Thành phố duyên dáng bao mùa xuân nở/ Sáng tháng Tư đất trời xanh muôn thuở/ Sông nước tình yêu bên Bác bến Nhà Rồng/ Có sung sướng nào bằng vui lắm Bác Hồ ơi (Nơi Thành phố tình yêu).

Thành phố hiện lên như một không gian nghĩa tình, nơi nâng đỡ và chở che, trở thành “quê hương thứ hai” trong hành trình đời người của Nguyễn Vũ Quỳnh.

Nhìn trên tổng thể, Bài thơ cánh võng không chỉ là một tập thơ mà còn là hành trình đối thoại với chính mình và với đời sống. Ở đó, Nguyễn Vũ Quỳnh đặt ra những suy tư về con người cá nhân, về thân phận, về những bất an, hoang hoải, về hạnh phúc và khổ đau trong dòng chảy hiện đại. Nhưng vượt lên tất cả, anh vẫn trở về với những giá trị cốt lõi: lời ru của Mẹ, tình quê, tình người - những điều giản dị nhưng bền vững, không gì có thể thay thế.

Dẫu đi qua nhiều chặng đường, thơ Nguyễn Vũ Quỳnh vẫn bền bỉ chảy về một nguồn: cánh võng lời ru, nơi khởi đầu và cũng là nơi neo giữ tâm hồn. Đó chính là mạch nguồn không bao giờ vơi cạn trong hành trình thi ca của anh./.

N.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sức sáng tạo của văn chương
Đời thừa là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu của Nam Cao về để tài người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám. Đó là câu chuyện về sự giằng xé đến bị kịch của một nhà văn giàu khát vọng nhưng đồng thời cũng là một tuyên ngôn nghệ thuật có giá trị. Qua nhân vật Hộ - nhân vật nhà văn trong tác phẩm – Nam Cao đã gởi gắm những suy tư và những quan niệm sâu sắc của mình về nghề văn và sứ mạng của người cầm bút chân chính. Ông viết “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có”.
Xem thêm
Văn hóa Việt trong tâm thức những người con xa xứ qua tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta”
Ngày 7/11/2026, tại Đại sứ quán Việt Nam ở Liên bang Nga, tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta” của 10 tác giả thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga sẽ chính thức ra mắt.
Xem thêm
​Nhân vật văn học của Đặng Hoàng Thám, những thông điệp sâu sắc
Với hai mươi ba truyện ngắn, cùng đa dạng nhân vật ở mọi ngành nghề, tầng lớp, “Lửa và trái tim” đã thuyết phục người đọc về tính khách quan cho sự phản ánh đời sống-xã hội và cả tâm tư con người bằng sự khéo léo và linh hoạt của điểm nhìn ở ngôi kể thứ ba. Từ “Trăng phía sau đình”, “Về từ cõi khác”, “Mua văn bán chữ”, “Trên đồi cỏ tranh” hay “Mưa trái mùa”... mỗi câu chuyện là một lát cắt sinh động của đời sống, nơi mỗi người đều có số phận và lý tưởng của riêng mình. Và điều đáng nói, họ đều hướng về cộng đồng, hướng về sự phát triển bản thân trên nền tảng của đạo đức và sự cống hiến, điểm mà tôi trân trọng ở ngòi bút này.
Xem thêm
Tìm về lời rạ rơm – Bến trú ngụ của những bão giông đời người
Bài thơ khép lại trong một dư âm ngân vang, ngọt ngào và kết tinh thành một triết lý sống sâu sắc: “Bồng bềnh cánh võng thơ ngây / Ngân nga lời mẹ tháng ngày con vin”. Hình ảnh “cánh võng bồng bềnh” và tiếng “ngân nga” của lời ru đưa con người trở về trọn vẹn với những năm tháng tuổi thơ êm đềm. Đặc biệt, từ “vin” được xem là một nhãn tự, một nốt nhấn xuất sắc của toàn bài. Con không chỉ vin vào tay mẹ, vin vào vành võng để tập đi trong quá khứ, mà ở hiện tại và tương lai, con đang “vin” vào lời mẹ, vin vào những giá trị đạo đức, vào cái nôi văn hóa quê hương để đứng vững trước những cạm bẫy, sóng gió của cuộc đời.Thể thơ lục bát ở hai câu cuối này đạt đến độ chín muồi của cảm xúc, uyển chuyển như một dòng sữa mát lành tưới mát tâm hồn người đọc.
Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm