TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc

“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-18 13:12:32
mail facebook google pos stwis
1694 lượt xem

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN ĐỨC HẢI
Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Quốc phòng  - BQP

Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình) – do Đại tá, PGS. TS. Hồ Sơn Đài tuyển chọn, giới thiệu và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phát hành năm 2026 – chính là một chỉnh thể di sản vô giá như thế. Không né tránh, không tô hồng, bộ sách đi thẳng vào bản chất khốc liệt của cuộc chiến thông qua điểm nhìn của một người trong cuộc, một chứng nhân đã dâng hiến trọn vẹn cuộc đời cho độc lập dân tộc. Trải dài qua 10 tập sách là một khúc nhạc giao hưởng, một bản anh hùng ca đầy khí phách của quân và dân ta trong hành trình lật đổ chế độ phong kiến, đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để thống nhất giang sơn, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng Pol Pot - Ieng Sary. Tất cả đều chung quy về một đích đến duy nhất: khát vọng cháy bỏng về hòa bình và hạnh phúc của một dân tộc chịu nhiều đau thương nhưng chưa bao giờ biết cúi đầu.

Tác giả bài viết và Trung tướng, AHLLVT Lưu Phước Lượng - con trai của cố Đại tá Lưu Phước Anh.

Để hiểu được cái gốc của một ý chí cách mạng kiên cường, bộ sách đã đưa độc giả quay ngược thời gian về với mảnh đất miền Trung đầy nắng gió, nơi nuôi dưỡng những người con kiên trung của đất nước. Cố Đại tá Lưu Phước Anh sinh ra bên dòng sông Thu Bồn nặng phù sa lượn quanh phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thế nhưng, dòng sông thơ mộng ấy không thể xoa dịu được nỗi cơ cực của một gia đình nghèo khổ đến tận cùng xã hội bấy giờ. Cả bên nội, bên ngoại, ba mẹ ông quanh năm suốt tháng làm thuê cuốc mướn, chịu đựng sự chèn ép của tầng lớp thống trị. Họ chắt chiu từng năm ba xu tiết kiệm dắt lưng quần, chắt chiu cả một đời chỉ để dành dụm làm quà cho con cháu mỗi dịp tụ họp. Cái nghèo, cái đói bám riết lấy gia đình ông nghiệt ngã đến mức khi ông bà mất, người thân không có lấy một đồng lo hậu sự, phải nhờ đến hội “Tế Bần” mới có chiếc quan tài đơn sơ đưa đi chôn cất lặng lẽ. Nỗi đau ly hương bủa vây lấy cuộc đời ông từ rất sớm, như một định mệnh báo trước những gian truân. Ngày ông cùng ba khăn gói rời quê nhà vào Nha Trang để làm nghề cắt tóc kiếm sống qua ngày, giây phút người mẹ hiền tiễn biệt nơi đầu bến, nhìn theo bóng con khuất dần sau những rặng cây cũng chính là lần cuối cùng hai mẹ con được nhìn thấy nhau trên cõi đời này. Cuộc chiến tranh và cái nghèo đã đẩy họ vào sự chia ly vĩnh viễn. Khi mẹ qua đời nơi quê nhà xa xôi, ông đang lang bạt nơi đất khách, trong túi không có nổi một đồng xu dắt lưng để bắt xe về chịu tang người quá cố. Nỗi đau bất hiếu vì hoàn cảnh ấy vĩnh viễn găm vào tâm khảm chàng thanh niên trẻ một vết thương sâu hoắm, một món nợ tinh thần mà cả đời ông không bao giờ nguôi ngoai.

Những năm tháng sống nơi đất khách quê người, tận cùng đáy xã hội, ông đã chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đời lầm than, những người lao công bị đọa đày, hành hạ với thân phận không khác gì kiếp trâu ngựa cho bọn thực dân. Đỉnh điểm của sự nhục nhã, u uất là khi chính người ba kính yêu của ông bị một tên quan Tây tát thẳng vào mặt một cách tàn nhẫn, thậm tệ ngay giữa thiên thiên bạch nhật chỉ vì ông cụ không may vô tình để vương chút bọt xà bông lên bộ râu mép của hắn. Cái tát ấy không chỉ đau đớn về thể xác mà còn xé nát lòng tự trọng của một con người. Sự bất công, tàn bạo của chế độ thực dân hiện ra trước mắt ông như một đường hầm không lối thoát, hàng ngày dồn nén trong lòng chàng trai trẻ một ngọn lửa căm thù sâu sắc, nung nấu ý chí phải đập tan xiềng xích này. Năm 17 tuổi, cái tuổi bẻ gãy sừng trâu, với khát vọng tìm một lối thoát để có công ăn việc làm và tiền gửi về phụ giúp gia đình thoát khỏi cảnh bần hàn, ông xin vào làm thuê ở sở cao su Quản Lợi tại Hớn Quản, thuộc tỉnh Thủ Dầu Một cũ. Nhưng trớ trêu thay, nơi vùng đất đỏ “rừng thiêng nước độc” ấy, ông không tìm thấy thiên đường mà lại một lần nữa rơi vào địa ngục trần gian. Ông chứng kiến cảnh tượng bọn chủ sở và cai lán hành hạ công nhân không thương tiếc bằng roi vọt. Những trận đòn roi, cú đấm đá tàn nhẫn đổ xuống thân hình gầy gộc của người lao động hòng vắt kiệt sức lao dốc của họ, trong khi đồng lương rẻ mạt đến nỗi chỉ đủ tiền xe di chuyển chứ không đủ tiền ăn qua ngày. Đất cao su dòng dòng máu chảy, dòng dòng nhựa trắng đổ ra cũng là lúc tinh thần phản kháng trong ông trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Ông đã cùng quần chúng lao động đoàn kết đứng lên đấu tranh, không chịu cúi đầu làm nô lệ.

Chính từ phong trào “Bình dân học vụ” những năm 1943 - 1944, dưới sự dìu dắt, lãnh đạo của các Đảng viên “nằm vùng”, Lưu Phước Anh đã trở thành một thành viên tích cực, giác ngộ lý tưởng cách mạng sâu sắc. Tháng 8 năm 1945, khi thời cơ chín muồi, ông tham gia Ủy ban Cách mạng của sở cao su Quản Lợi, cùng hàng ngàn công nhân đứng lên đập tan ách thống trị, giành chính quyền về tay nhân dân. Đây chính là bước ngoặt đầu tiên, đánh dấu bước chân của ông vào các tổ chức vũ trang. Từ một người thợ cắt tóc, một phu cao su nghèo khổ, ông được tổ chức giáo dục, học tập về chính trị, quân sự, binh vận, được soi sáng bởi lý tưởng của Mặt trận Việt Minh, về “chiến tranh nhân dân” và “đạo đức cách mạng”. Dù sau đó bị địch bắt và tra tấn dã man bằng những hình phạt tàn khốc nhất, những báng súng, đòn roi hiểm độc của kẻ thù vẫn không thể khuất phục được ý chí sắt đá của người chiến sĩ trẻ. Địch buộc phải thả tự do cho ông vì không thể khai thác được bất kỳ thông tin nào. Trở lại chiến khu miền Đông, đặc biệt là chiến trường Thủ Biên trong giai đoạn từ năm 1947 đến 1953, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy và Bộ Tư lệnh Nam Bộ, ông đã cùng đồng đội nếm mật nằm gai, gây dựng lực lượng trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, tổ chức những trận đánh xuất sắc, chia lửa cùng chiến trường cả nước để làm nên một chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, quét sạch thực dân Pháp về nước.

Lật giở những trang sách tiếp theo của bộ tuyển tập di sản, độc giả sẽ đến với giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thông qua bí danh “Lê Bình” – cái tên đã trở thành nỗi khiếp sợ của kẻ thù và là niềm tự hào của đồng đội kể từ khi ông trở lại miền Nam chiến đấu vào tháng 5 năm 1961. “Tình khúc miền Đông” trong hồi ức của Đại tá Lưu Phước Anh không phải là giai điệu lãng mạn của một bài hát tình ca thông thường, mà là bản tráng ca về một cuộc chiến không cân sức giữa ta và địch, nơi nghệ thuật quân sự Việt Nam đỉnh cao được phát huy một cách tài tình, độc đáo. Đó là nghệ thuật mưu lược tài giỏi của chiến tranh nhân dân: đánh địch bằng mưu cao kế hiểm, đánh địch bằng thế trận lòng dân, dựa vào địa hình địa vật và lòng trung thành của nhân dân để tồn tại và chiến đấu. Đây là cuộc chiến sinh tử để giành đất, giành dân với quyết tâm sắt đá được truyền từ Trung ương Đảng đến từng người chiến sĩ: “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quét sạch hết quân xâm lược”, “bám thắt lưng địch mà đánh”.

Một trong những chương đẫm dòng nước mắt và sự khâm phục nhất trong bộ sách là ký ức về thời kỳ ông làm Chính ủy tại Bệnh viện K.71A – nơi được mệnh danh là “bệnh viện đánh giặc” của chiến trường miền Đông. Ở đó, ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh như sợi tóc, bom đạn cày xới mặt đất mỗi giờ. Tập thể bệnh viện dưới sự lãnh đạo, định hướng chính trị của ông vừa phải tập trung mọi nguồn lực, trang thiết bị y tế thô sơ dưới hầm ngầm để cứu chữa thương bệnh binh, vừa phải trực tiếp cầm súng tiêu diệt các mũi tiến công, càn quét của địch đánh thẳng vào cơ sở y tế. Trong cuốn sách mang tựa đề đầy đanh thép và tự tin “Pháp Mỹ thua là phải”, ông đưa ra những lập luận mộc mạc nhưng đầy tính thuyết phục được đúc kết từ thực tiễn để khẳng định vững chắc: Kẻ thù dù vũ khí tối tân đến đâu, trực thăng hay xe tăng nhiều đến mấy cũng phải thất bại vì chúng tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa, cướp nước; còn cuộc chiến của chúng ta là chính nghĩa, bảo vệ giang sơn. Khi lòng yêu nước đã thấm vào máu thì sức mạnh tổng lực sẽ được khơi sâu: “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “còn cái lai quần cũng đánh”. Người dân không có súng thì đánh giặc bằng cuốc, thuổng, gậy gộc, bằng bẫy chông, tạo nên một mạng lưới chiến tranh du kích rộng khắp.

Với cương vị là người chủ trì công tác Đảng, công tác chính trị tại đơn vị, Đại tá Lưu Phước Anh đã bằng sự bình dị, chân thành nhưng vô cùng sâu sắc của mình để truyền ngọn lửa cách mạng cho mọi tầng lớp từ công nhân, nông dân, binh sĩ cho đến trí thức cùng đồng lòng ra trận. Hai tập sách “Chiến công từ trong lòng đất” và “Cả nhà ra trận” chính là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng được tái hiện sinh động. Lòng đất mẹ Việt Nam từ Chiến khu Đ đến Lộc Ninh, từ Lái Thiêu đến các chiến trường miền Đông gian lao mà anh dũng đã hóa thành một trận đồ thiên la địa vũng. Hệ thống địa đạo, công sự chằng chịt trong lòng đất chính là nơi xuất phát của những đòn đánh bất ngờ, bẻ gãy mọi chiến thuật hành quân cơ động, trực thăng vận, thiết xa vận của một đế quốc hùng mạnh, đẩy chúng vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Nếu sức mạnh của chiến tranh nhân dân là một bức tranh lớn đồ sộ, thì gia đình của cố Đại tá Lưu Phước Anh chính là điểm nhấn ngời sáng, cảm động và nhân văn nhất trong bức tranh ấy. Sức mạnh nào đã giúp một gia đình có đến 7 người con, cả trai lẫn gái, đều đồng lòng rời bỏ mái nhà, rời bỏ tuổi thanh xuân để ra chiến trường cùng ba? Sức mạnh ấy bắt nguồn từ người mẹ hiền – phu nhân Nguyễn Thị Xuân – người phụ nữ là nguồn lực, là niềm tin, là chỗ dựa vững chắc nhất nơi hậu phương, người đã thầm lặng gánh vác việc nhà, nuôi dạy các con và truyền ngọn lửa yêu nước cho cả gia đình chiến đấu dưới lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc. Để tránh sự lùng sục, khủng bố và trả thù tàn bạo của kẻ thù khi biết ông là cán bộ cao cấp hoạt động trong lòng địch, cả 7 người con của ông đều phải chấp nhận một nỗi đau thầm lặng: rời bỏ họ gốc (Lưu) để mang họ (Lê) theo bí danh Lê Bình của cha. Sự cải họ đổi tên ấy là một minh chứng cho sự hy sinh trọn vẹn, không màng đến danh lợi cá nhân của một gia đình cách mạng.

Độc giả sẽ tìm thấy những khoảng lặng vô cùng xúc động, làm rưng rưng trái tim trong các tập “Những giây phút không thể quên” và “Bốn mùa nhớ lại”. Đó là những kỷ niệm đẹp đẽ, tinh khôi của chàng thanh niên Lưu Phước Anh đầy bản lĩnh ngoài trận mạc nhưng lại vô cùng rụt rè khi gặp gỡ người bạn gái đầu đời – người sau này là phu nhân của ông – trong một buổi xem phim định mệnh. Ông bộc bạch một cách chân thành trong hồi ký: “Khi bắt tay... có cái gì đó rụt rè e ngại”, và ngược lại, “cô rất tự nhiên, vừa bắt tay vừa cười kín đáo càng làm cho tôi lúng túng”. Ấn tượng sâu đậm về cô gái có “cặp mắt bồ câu trong sáng, mũi cao, mặt thon dài, nụ cười duyên dáng” ấy đã theo ông suốt những năm tháng hành quân qua rừng già, là ngôi sao sưởi ấm lòng ông trong những đêm đông lạnh giá ở chiến khu.

Thế nhưng, hạnh phúc riêng tư phải nhường chỗ cho nghĩa lớn của non sông. Tháng 9 năm 1954, hiệp định Giơ-né-vơ được ký kết, ông phải nén lòng, kìm nén dòng nước mắt nhớ thương để chia tay người vợ hiền đang một nách chăm lo 5 đứa con thơ dại để bước lên tàu tập kết ra miền Bắc. Giây phút chia ly bên bến tàu ngày ấy kéo dài đằng đẵng nhiều năm trời. Những năm tháng sống trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, được đùm bọc trong tình cảm đặc biệt của bà con nhân dân Sầm Sơn, Nga Sơn, Hoằng Hóa tại Thanh Hóa, lòng ông chưa bao giờ nguôi ngoai nỗi nhớ về miền Nam ruột thịt, nhớ người vợ tảo tần và những đứa con thơ. Kỷ niệm thiêng liêng nhất đời ông là ngày được gặp Bác Hồ kính yêu giữa thủ đô Hà Nội, được nghe Bác ân cần chỉ bảo, giao nhiệm vụ gắng sức học tập, rèn luyện để chờ ngày trở về giải phóng quê hương. Và ngày ấy đã đến, tháng 5 năm 1961, ông tạm biệt thủ đô, cùng đoàn cán bộ miền Nam mang phiên hiệu “Đoàn Phương Đông” hành quân vượt vạn dặm Trường Sơn dưới mưa bom bão đạn, trèo đèo lội suối, vượt qua cái đói và bệnh sốt rét rừng để đến tháng 7 năm 1961 đặt chân vào chiến khu Mã Đà thuộc Chiến khu Đ, bắt đầu một cuộc chiến sinh tử mới đầy cam go.

Làm sao quên được những người đồng đội đã cùng ông vào sinh ra tử, nhường nhau từng ngụm nước, củ sắn để bảo vệ bệnh viện trong vòng vây nghẹt thở của giặc? Làm sao quên được những người đồng chí đã ngã xuống, thân xác hòa vào đất mẹ trong các trận càn quét, dưới những loạt bom rải thảm gầm rú của máy bay chiến lược B52? Bộ sách chứa đựng quá nhiều vết thương lòng, những kỷ niệm chiến trường gian khổ và cả những năm tháng chiến đấu giúp nước bạn Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng tàn bạo. Sự cống hiến quên mình của gia đình ông đã kết tinh thành quả ngọt, một hiện tượng hiếm có trong lịch sử quân đội: trong số 7 người con gồm 4 trai và 3 gái ra trận năm ấy, có hai người con đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là Đại tá, Bác sĩ Lưu Kim Hà và Trung tướng Lưu Phước Lượng. Cả gia đình ra trận, trở thành biểu tượng ngời sáng, ngát hương của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Cố Đại tá Lưu Phước Anh và phu nhân Nguyễn Thị Xuân xứng đáng là những biểu tượng anh hùng đáng được trân trọng, tôn vinh vĩnh viễn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cố Đại tá Lưu Phước Anh không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự tài ba, một nhà lãnh đạo chính trị thông minh. Ông đã trải qua nhiều cương vị công tác rất quan trọng từ cấp phân đội đến cấp chiến dịch mang ý nghĩa chiến lược, luôn có mặt và gần gũi với đồng đội trong những giây phút hiểm nguy nhất, mà qua bộ sách này, ông hiện lên như một nhà sử học chân chính của nhân dân. Bằng lối viết mộc mạc, không dùng những từ ngữ hoa mỹ, ông ghi lại những câu chuyện chân thực đến trần trụi mà nếu không phải người trực tiếp trải qua ở lằn ranh sống chết, khó ai có thể hiểu và diễn tả hết được bản chất của nó. Sự cống hiến của ông không dừng lại khi tiếng súng xâm lược chấm dứt, đất nước trọn niềm vui thống nhất; khi trở về với cuộc sống đời thường tại địa phương, ông vẫn toàn tâm toàn ý đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng quê hương giàu đẹp, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

Tuyển tập 10 cuốn sách “Chiến công từ trong lòng đất” khép lại nhưng mở ra trong lòng độc giả một niềm tự hào vô bờ bến và một sự tự soi rọi lại trách nhiệm của bản thân đối với hiện tại. Đây không đơn thuần là những trang hồi ký cá nhân của một người lính, mà là một pho tư liệu lịch sử giá trị, quý hiếm được viết bằng trải nghiệm xương máu, có giá trị lưu truyền và giáo dục các thế hệ mai sau – những chủ nhân tương lai của một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – về tinh thần yêu nước, về cái giá của hòa bình độc lập và ý chí kiên cường không bao giờ khuất phục của con người Việt Nam. Những câu chuyện mộc mạc, đẫm chất nhân văn và tình người trong cuốn sách có sức mạnh giữ chân người đọc đến trang cuối cùng, để chúng ta hiểu sâu sắc hơn về một gia đình giàu truyền thống cách mạng, về một nhân cách lớn đã nguyện hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho khát vọng hòa bình và hạnh phúc của nhân dân. Bộ sách xứng đáng được đặt trang trọng trên kệ sách của mỗi gia đình Việt Nam như một lời nhắc nhở về cội nguồn và lòng biết ơn sâu sắc.

TP.HCM, 18/05/2026

N.Đ.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm