TIN TỨC

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-19 17:30:24
mail facebook google pos stwis
694 lượt xem

NGÔ MINH OANH

Vũ Thanh Hoa, Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là một cây bút có bề dày thời gian viết. Ngay từ năm 2006, chị đã cho in tập thơ đầu tiên Nỗi đau của lá (NXB Hội Nhà văn) và 10 năm sau đó, năm 2015, tác phẩm thứ 5 của chị ra đời với cái tên Lục bát phố (NXB Hội Nhà văn). Chị đã gặt hái được nhiều giải thưởng về văn học. Tiếp theo là một hành trình lao động nghệ thuật thầm lặng để rồi 10 năm sau đó, năm 2025, chị đã làm nên một dấu ấn đặc biệt: cùng lúc cho xuất bản 3 tập thơ, lấy các từ trong họ, tên và chữ lót của mình để đặt tên cho các tập thơ, mà tập nào cũng dày dặn, tổng cộng lên tới 162 bài thơ.

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa và tập thơ Thanh.

Tôi được phân công viết về một tập trong 3 tập thơ đó, nhưng thực sự phân vân vì không thể nhìn nhận chính xác về một tập thơ nào khi chưa đọc hai tập thơ kia. Và thế là tôi đã đọc hết cả 3 tập thơ của Vũ Thanh Hoa với những bài thơ viết lâu nhất đề ngày 16.11.2007 đến bài gần đây nhất đề ngày 19.7.2025, một quãng thời gian dài 18 năm. 18 năm với biết bao biến cố cuộc đời của một người phụ nữ, một nhà thơ. Với Vũ Thanh Hoa, “Thơ là tiếng hát của số phận”, cũng như một câu trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã từng viết: “Một lời là một vận vào…”. Không biết có phải là một sự ngẫu nhiên trùng hợp, mà những bài thơ được tác giả sắp xếp theo trình tự thời gian nhưng nội dung của mỗi tập thì rất phù hợp với tên của nó. Mỗi tập có sự liên kết với tập khác, nhưng lại có nội dung và “tiếng hát” riêng của mình.

Xuyên suốt 3 tập thơ là sự kiêu hãnh của một người đàn bà đẹp, khao khát yêu thương, khắc khoải đợi chờ, đớn đau, thất vọng, tin yêu và khát sống, vươn lên… Đó là những cung bậc ẩn chìm trong những trang thơ. Vũ Thanh Hoa viết chắc tay, dường như xuyên suốt, ổn định về phong cách và những nghĩ suy, trăn trở về tình yêu, về cuộc sống. Nếu có một cái nhìn khái quát, sâu sắc và cụ thể hơn thì thấy rõ sợi dây liên kết giữa các tập thơ và cũng thấy được sự khác biệt rất riêng của từng tập thơ. Nếu có thể ví von như thời tiết, thì là một mùa đông gió mưa lạnh lẽo, đơn côi; Thanh như mùa thu lắng lại, yên ả hơn để chuẩn bị cho một mùa Hoa ấm áp.

Đầu tiên là nói về . Tập thơ Vũ/Mưa như tên gọi của nó, bên cạnh “sự kiêu hãnh của một người đàn bà đẹp, khao khát yêu thương” là chứa đựng những đớn đau, trăn trở của người thơ. Trong có thể kể ra đây tên những bài thơ, câu thơ thôi, đã nghe cuộn lên giông gió cuộc đời: bài Chữ ký: “Cầm cây bút mồ côi/Cái chữ ký đắng đót”; Đơn độc: “Từng phím dương cầm ngân nga đơn độc/em gập lại giấc mơ góa bụa”; Đi tìm: “Giật mình/tôi gặp/góc trong cùng/Một người đàn bà co ro ngồi khóc”; Sau mưa: “Con sẽ nâu suốt đời nông nổi/Đơn côi/Hát giữa lụi tàn”; Nhớ: “Đường đời dích dắc/Thả nỗi buồn loang sóng mồ côi”; Nhọ nhem: “Nghĩa địa/Em hoảng hốt gọi mình/Chiếc bóng mồ côi”; Bóng trắng: “Em nhìn ngơ ngác/Nhặt những nỗi đau rụng trắng trên đường…”

Bão bùng của gió mưa bám riết cuộc đời người viết. Tưởng yêu thương, niềm tin đã rạn vỡ đến tận cùng, nhưng từ trong nỗi đau, con người đã tỉnh thức để lắng lại, tìm ra một lối đi mới của riêng mình. Những điều đó được thể hiện rõ trong tập thơ Thanh, phải chăng như chủ đề của tác giả ngày hôm nay, tập thơ bắt đầu thấp thoáng “một người đàn bà khác”.

Trong tập thơ thứ hai – tập Thanh của Vũ Thanh Hoa – có tổng cộng 54 bài (NXB Hội Nhà văn, 2025). Thơ là người, thơ là đời, hay là những “tiếng hát của số phận” như Vũ Thanh Hoa đã viết. Thơ không thể không mang dấu ấn cá nhân và hoàn cảnh sống. Vì thế không thể không nói một chút về “thân phận” của người viết để hiểu thêm, hiểu đúng những gì đã kết tinh trong những vần thơ của chị.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình gia giáo, có bố là một nhà ngoại giao nổi tiếng, từng là Đại sứ Việt Nam tại nước Cộng hòa Tanzania và 7 nước châu Phi, về sau ông làm Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Mẹ của nhà thơ là cô Nguyệt Hương, một cô gái Hà Nội gốc, từng là sinh viên ngành Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau cũng trở thành nhà ngoại giao và từng làm Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vũ Thanh Hoa là kết quả của một mối tình đẹp Bắc – Nam, giữa một chàng trai tập kết quê Long An với cô gái Hà Nội. Bản thân nhà thơ Vũ Thanh Hoa là một luật sư công tác trong ngành Dầu khí tại thành phố biển Vũng Tàu. Những dấu ấn đời và người ấy đã in bóng trong thơ chị.

Trong tập thơ Thanh vẫn còn đâu đó chao chát dư âm của nỗi buồn, nhưng nỗi buồn đã lắng lại, được “chưng cất” để có cái nhìn bình tĩnh hơn, sáng hơn về niềm tin yêu và khát vọng sống vươn lên. Cũng là điều cũ, người cũ đó thôi mà nay đã khác:

“Sự tàn nhẫn của thời gian
Sự vô cảm của không gian
Phủ định nỗi nhớ
Phản biện nỗi buồn
Anh còn dị bản trong em
Lụi tàn
Phôi sinh người đàn ông khác”.
(Phủ định)

Sau những ngày giông gió, người thơ dường như đã bình tâm hơn:

“Gió hun hút vọng về cổ tích
Nước mắt lăn trên mặt tượng
Những ngôi sao lịm dần
Bóng tối trườn qua rồi nhân bản hết bộ nhớ
Em nhìn sợi khói dích dắc bay và hát
Thản nhiên quên”.
(Thản nhiên)

Hay người đàn bà chịu nhiều mất mát đã:

“Nhìn vào gương
Chờ thời gian kẻ thêm khóe mắt
Chờ thời gian nhuộm dần màu tóc
Hát bài hát thanh xuân vĩnh cửu
Đón một mình ung dung.”
(Cho một ngày tháng bảy)

Sự ung dung, tự tại, buông bỏ những nỗi sầu muộn là kết quả của một sự nhận thức. Rồi đến một lúc nào đó, người thơ nhận ra quy luật của cuộc đời: nắng mưa, cây mọc, hoa nở, con người rồi cũng khác, và thế sao mà không thản nhiên vui, thản nhiên sống, bởi cuộc sống không thể vãn hồi:

“Ngủ đi anh
Quên những nỗi buồn
Những thớ lợn ngổn ngang
Dẫu ngày mai không bao giờ thức dậy
Hoa ngoài sân chưa bao giờ quên nở
Lũ sẻ nâu chưa bao giờ quên hát
Ngủ đi anh
Không thể vãn hồi.”
(Không thể vãn hồi)

Khi thế giới vạn vật cứ vận hành theo quy luật của nó là “không thể vãn hồi” thì ta cứ thế mà an yên sống, nhà thơ lại càng phải an yên sống. Hân hoan đón mùa xuân, đón nhận mọi điều mới mẻ. Hình dung niềm hân hoan ấy, ta như hình dung được nụ cười của người viết:

“Mở cửa chào xuân
Cất tất cả âu lo vào ngăn kéo
Trong mờ sương mùa đi rất nhẹ
Ta cũng chào một tuổi vừa qua
Cứ để cho nỗi nhớ thật thà
Thút thít khóc trong một bài hát cũ
Vu vơ cười trong giấc mơ khờ khạo
Ngày tràn tay nở bung cánh mai vàng.”
(Chào xuân)

Có một mạch chảy nữa trong Thanh mà không thể không nói. Trong 3 tập thơ của Vũ Thanh Hoa, mạch cảm xúc chủ đạo vẫn là tình yêu, khát khao, dại khờ, thất vọng, vỡ vụn, đơn côi, góa bụa… thì tập thơ Thanh là tập duy nhất có các bài thơ nói về thế sự. Các bài thơ Anh tên là gì?, Buổi sáng ở thành phố biển, Điên rồ bay… là những bài như thế.

Với những bài thơ này, Vũ Thanh Hoa đã ngước nhìn ra ngoài vùng cương tỏa của tình yêu để cảm, để nghĩ như một công dân trước thực trạng xã hội. Một cách nhìn thành phố quen mà lạ:

“Thành phố mở mắt khi còn ngái ngủ
biển co chân ngậm sóng
nhăn nheo như gái điếm tẩy trang sau lớp phấn rẻ tiền
loang lổ rọi qua tấm gương nhỏ xíu
ai biến dạng trong cửa kính xe.”
(Buổi sáng ở thành phố biển)

Hay trước những hiện tượng “ai cũng chọn việc nhẹ nhàng” nhan nhản hiện nay trong xã hội:

“Nơi nào gian nan
nơi nào hiểm trở
điểm danh hoài chẳng thấy tên anh
nơi nào trao giải vinh danh
nơi nào đánh chén
sẽ thấy mặt anh lấp ló sát màn hình.”
(Anh tên là gì?)

Hay nữa:

“Trọc phú và hành khất đổi chỗ cho nhau
quan tòa và bị cáo đổi chỗ cho nhau
Điên rồ đã mở ra cánh cửa
Logic của phi lý cất cánh và bay
bỏ lại những cái đầu tẩy não xếp hàng nhìn theo ngơ ngác.”
(Điên rồ bay)

Nhà thơ đâu chỉ xót xa, thất vọng trong tình yêu, nhà thơ còn trăn trở, buồn đau cho cả thế sự.

Vũ Thanh Hoa giỏi chọn tứ, có những cái “không đâu” mà cũng có thể triển khai thành một bài thơ chững chạc, ý tứ thâm trầm như Tay cầm gió thổi, Phơi thơ, Chênh chao, Nương bóng bay, Ơi hời… Có những điều tưởng chừng gần gũi lại được phát hiện rất mới, bất ngờ và ám ảnh:

“Em khóc không phải vì anh không trở lại
Em khóc vì mình không trở lại được ngày xưa.”
(Trong suốt)

“Những con chữ như toa tàu thất lạc
nối nhau bằng tiếng thở dài.”
(Hồi âm)

“Một ngày không anh
thế giới chẳng còn ai thức
nỗi buồn không ngủ
trơ trọi em ngồi phơi thơ.”
(Phơi thơ)

Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.

Được biết một ngày gần đây, chị sẽ hoàn thành nhiệm vụ với Nhà nước, về hưu để trở thành “tỷ phú thời gian”, chị sẽ tha hồ tung tẩy trên những trang thơ và chúng ta chờ đợi những tập thơ mới của chị, những tập thơ tiếp tục đơm hoa.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 19.5.2026.
N.M.O

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm