TIN TỨC

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-19 17:30:24
mail facebook google pos stwis
85 lượt xem

NGÔ MINH OANH

Vũ Thanh Hoa, Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là một cây bút có bề dày thời gian viết. Ngay từ năm 2006, chị đã cho in tập thơ đầu tiên Nỗi đau của lá (NXB Hội Nhà văn) và 10 năm sau đó, năm 2015, tác phẩm thứ 5 của chị ra đời với cái tên Lục bát phố (NXB Hội Nhà văn). Chị đã gặt hái được nhiều giải thưởng về văn học. Tiếp theo là một hành trình lao động nghệ thuật thầm lặng để rồi 10 năm sau đó, năm 2025, chị đã làm nên một dấu ấn đặc biệt: cùng lúc cho xuất bản 3 tập thơ, lấy các từ trong họ, tên và chữ lót của mình để đặt tên cho các tập thơ, mà tập nào cũng dày dặn, tổng cộng lên tới 162 bài thơ.

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa và tập thơ Thanh.

Tôi được phân công viết về một tập trong 3 tập thơ đó, nhưng thực sự phân vân vì không thể nhìn nhận chính xác về một tập thơ nào khi chưa đọc hai tập thơ kia. Và thế là tôi đã đọc hết cả 3 tập thơ của Vũ Thanh Hoa với những bài thơ viết lâu nhất đề ngày 16.11.2007 đến bài gần đây nhất đề ngày 19.7.2025, một quãng thời gian dài 18 năm. 18 năm với biết bao biến cố cuộc đời của một người phụ nữ, một nhà thơ. Với Vũ Thanh Hoa, “Thơ là tiếng hát của số phận”, cũng như một câu trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã từng viết: “Một lời là một vận vào…”. Không biết có phải là một sự ngẫu nhiên trùng hợp, mà những bài thơ được tác giả sắp xếp theo trình tự thời gian nhưng nội dung của mỗi tập thì rất phù hợp với tên của nó. Mỗi tập có sự liên kết với tập khác, nhưng lại có nội dung và “tiếng hát” riêng của mình.

Xuyên suốt 3 tập thơ là sự kiêu hãnh của một người đàn bà đẹp, khao khát yêu thương, khắc khoải đợi chờ, đớn đau, thất vọng, tin yêu và khát sống, vươn lên… Đó là những cung bậc ẩn chìm trong những trang thơ. Vũ Thanh Hoa viết chắc tay, dường như xuyên suốt, ổn định về phong cách và những nghĩ suy, trăn trở về tình yêu, về cuộc sống. Nếu có một cái nhìn khái quát, sâu sắc và cụ thể hơn thì thấy rõ sợi dây liên kết giữa các tập thơ và cũng thấy được sự khác biệt rất riêng của từng tập thơ. Nếu có thể ví von như thời tiết, thì là một mùa đông gió mưa lạnh lẽo, đơn côi; Thanh như mùa thu lắng lại, yên ả hơn để chuẩn bị cho một mùa Hoa ấm áp.

Đầu tiên là nói về . Tập thơ Vũ/Mưa như tên gọi của nó, bên cạnh “sự kiêu hãnh của một người đàn bà đẹp, khao khát yêu thương” là chứa đựng những đớn đau, trăn trở của người thơ. Trong có thể kể ra đây tên những bài thơ, câu thơ thôi, đã nghe cuộn lên giông gió cuộc đời: bài Chữ ký: “Cầm cây bút mồ côi/Cái chữ ký đắng đót”; Đơn độc: “Từng phím dương cầm ngân nga đơn độc/em gập lại giấc mơ góa bụa”; Đi tìm: “Giật mình/tôi gặp/góc trong cùng/Một người đàn bà co ro ngồi khóc”; Sau mưa: “Con sẽ nâu suốt đời nông nổi/Đơn côi/Hát giữa lụi tàn”; Nhớ: “Đường đời dích dắc/Thả nỗi buồn loang sóng mồ côi”; Nhọ nhem: “Nghĩa địa/Em hoảng hốt gọi mình/Chiếc bóng mồ côi”; Bóng trắng: “Em nhìn ngơ ngác/Nhặt những nỗi đau rụng trắng trên đường…”

Bão bùng của gió mưa bám riết cuộc đời người viết. Tưởng yêu thương, niềm tin đã rạn vỡ đến tận cùng, nhưng từ trong nỗi đau, con người đã tỉnh thức để lắng lại, tìm ra một lối đi mới của riêng mình. Những điều đó được thể hiện rõ trong tập thơ Thanh, phải chăng như chủ đề của tác giả ngày hôm nay, tập thơ bắt đầu thấp thoáng “một người đàn bà khác”.

Trong tập thơ thứ hai – tập Thanh của Vũ Thanh Hoa – có tổng cộng 54 bài (NXB Hội Nhà văn, 2025). Thơ là người, thơ là đời, hay là những “tiếng hát của số phận” như Vũ Thanh Hoa đã viết. Thơ không thể không mang dấu ấn cá nhân và hoàn cảnh sống. Vì thế không thể không nói một chút về “thân phận” của người viết để hiểu thêm, hiểu đúng những gì đã kết tinh trong những vần thơ của chị.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình gia giáo, có bố là một nhà ngoại giao nổi tiếng, từng là Đại sứ Việt Nam tại nước Cộng hòa Tanzania và 7 nước châu Phi, về sau ông làm Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Mẹ của nhà thơ là cô Nguyệt Hương, một cô gái Hà Nội gốc, từng là sinh viên ngành Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau cũng trở thành nhà ngoại giao và từng làm Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vũ Thanh Hoa là kết quả của một mối tình đẹp Bắc – Nam, giữa một chàng trai tập kết quê Long An với cô gái Hà Nội. Bản thân nhà thơ Vũ Thanh Hoa là một luật sư công tác trong ngành Dầu khí tại thành phố biển Vũng Tàu. Những dấu ấn đời và người ấy đã in bóng trong thơ chị.

Trong tập thơ Thanh vẫn còn đâu đó chao chát dư âm của nỗi buồn, nhưng nỗi buồn đã lắng lại, được “chưng cất” để có cái nhìn bình tĩnh hơn, sáng hơn về niềm tin yêu và khát vọng sống vươn lên. Cũng là điều cũ, người cũ đó thôi mà nay đã khác:

“Sự tàn nhẫn của thời gian
Sự vô cảm của không gian
Phủ định nỗi nhớ
Phản biện nỗi buồn
Anh còn dị bản trong em
Lụi tàn
Phôi sinh người đàn ông khác”.
(Phủ định)

Sau những ngày giông gió, người thơ dường như đã bình tâm hơn:

“Gió hun hút vọng về cổ tích
Nước mắt lăn trên mặt tượng
Những ngôi sao lịm dần
Bóng tối trườn qua rồi nhân bản hết bộ nhớ
Em nhìn sợi khói dích dắc bay và hát
Thản nhiên quên”.
(Thản nhiên)

Hay người đàn bà chịu nhiều mất mát đã:

“Nhìn vào gương
Chờ thời gian kẻ thêm khóe mắt
Chờ thời gian nhuộm dần màu tóc
Hát bài hát thanh xuân vĩnh cửu
Đón một mình ung dung.”
(Cho một ngày tháng bảy)

Sự ung dung, tự tại, buông bỏ những nỗi sầu muộn là kết quả của một sự nhận thức. Rồi đến một lúc nào đó, người thơ nhận ra quy luật của cuộc đời: nắng mưa, cây mọc, hoa nở, con người rồi cũng khác, và thế sao mà không thản nhiên vui, thản nhiên sống, bởi cuộc sống không thể vãn hồi:

“Ngủ đi anh
Quên những nỗi buồn
Những thớ lợn ngổn ngang
Dẫu ngày mai không bao giờ thức dậy
Hoa ngoài sân chưa bao giờ quên nở
Lũ sẻ nâu chưa bao giờ quên hát
Ngủ đi anh
Không thể vãn hồi.”
(Không thể vãn hồi)

Khi thế giới vạn vật cứ vận hành theo quy luật của nó là “không thể vãn hồi” thì ta cứ thế mà an yên sống, nhà thơ lại càng phải an yên sống. Hân hoan đón mùa xuân, đón nhận mọi điều mới mẻ. Hình dung niềm hân hoan ấy, ta như hình dung được nụ cười của người viết:

“Mở cửa chào xuân
Cất tất cả âu lo vào ngăn kéo
Trong mờ sương mùa đi rất nhẹ
Ta cũng chào một tuổi vừa qua
Cứ để cho nỗi nhớ thật thà
Thút thít khóc trong một bài hát cũ
Vu vơ cười trong giấc mơ khờ khạo
Ngày tràn tay nở bung cánh mai vàng.”
(Chào xuân)

Có một mạch chảy nữa trong Thanh mà không thể không nói. Trong 3 tập thơ của Vũ Thanh Hoa, mạch cảm xúc chủ đạo vẫn là tình yêu, khát khao, dại khờ, thất vọng, vỡ vụn, đơn côi, góa bụa… thì tập thơ Thanh là tập duy nhất có các bài thơ nói về thế sự. Các bài thơ Anh tên là gì?, Buổi sáng ở thành phố biển, Điên rồ bay… là những bài như thế.

Với những bài thơ này, Vũ Thanh Hoa đã ngước nhìn ra ngoài vùng cương tỏa của tình yêu để cảm, để nghĩ như một công dân trước thực trạng xã hội. Một cách nhìn thành phố quen mà lạ:

“Thành phố mở mắt khi còn ngái ngủ
biển co chân ngậm sóng
nhăn nheo như gái điếm tẩy trang sau lớp phấn rẻ tiền
loang lổ rọi qua tấm gương nhỏ xíu
ai biến dạng trong cửa kính xe.”
(Buổi sáng ở thành phố biển)

Hay trước những hiện tượng “ai cũng chọn việc nhẹ nhàng” nhan nhản hiện nay trong xã hội:

“Nơi nào gian nan
nơi nào hiểm trở
điểm danh hoài chẳng thấy tên anh
nơi nào trao giải vinh danh
nơi nào đánh chén
sẽ thấy mặt anh lấp ló sát màn hình.”
(Anh tên là gì?)

Hay nữa:

“Trọc phú và hành khất đổi chỗ cho nhau
quan tòa và bị cáo đổi chỗ cho nhau
Điên rồ đã mở ra cánh cửa
Logic của phi lý cất cánh và bay
bỏ lại những cái đầu tẩy não xếp hàng nhìn theo ngơ ngác.”
(Điên rồ bay)

Nhà thơ đâu chỉ xót xa, thất vọng trong tình yêu, nhà thơ còn trăn trở, buồn đau cho cả thế sự.

Vũ Thanh Hoa giỏi chọn tứ, có những cái “không đâu” mà cũng có thể triển khai thành một bài thơ chững chạc, ý tứ thâm trầm như Tay cầm gió thổi, Phơi thơ, Chênh chao, Nương bóng bay, Ơi hời… Có những điều tưởng chừng gần gũi lại được phát hiện rất mới, bất ngờ và ám ảnh:

“Em khóc không phải vì anh không trở lại
Em khóc vì mình không trở lại được ngày xưa.”
(Trong suốt)

“Những con chữ như toa tàu thất lạc
nối nhau bằng tiếng thở dài.”
(Hồi âm)

“Một ngày không anh
thế giới chẳng còn ai thức
nỗi buồn không ngủ
trơ trọi em ngồi phơi thơ.”
(Phơi thơ)

Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.

Được biết một ngày gần đây, chị sẽ hoàn thành nhiệm vụ với Nhà nước, về hưu để trở thành “tỷ phú thời gian”, chị sẽ tha hồ tung tẩy trên những trang thơ và chúng ta chờ đợi những tập thơ mới của chị, những tập thơ tiếp tục đơm hoa.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 19.5.2026.
N.M.O

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm