TIN TỨC
  • Truyện
  • Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng

Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-20 00:35:01
mail facebook google pos stwis
381 lượt xem

Tâm lý chung nhiều người khi đã đến một nơi rồi, lần trở lại thường không còn háo hức lắm.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Minh họa: Nguyễn Minh

 

Nhưng với Trường thì khác, mỗi khi nhắc đến địa danh ấy trong anh lại trào lên thứ cảm xúc lạ lùng, như thể luôn có một sợi dây vô hình kéo anh về phía những ký ức chưa từng được chạm tới. Anh không lý giải được vì sao, chỉ biết rằng, mỗi lần trở lại Điện Biên, tim anh lại rung lên.

Thời đại học, Trường có đứa bạn cùng lớp tên Ly quê ở Him Lam. Mỗi dịp tụ tập, Ly say sưa kể chuyện hoa ban, nào xôi tím mẹ ủ trong ếp nóng hổi thơm lừng, nào món nộm thanh mát chế biến từ những cánh ban non khiến đám sinh viên thèm rỏ rãi. Từ lâu, hình ảnh hoa ban, cô gái Thái dịu dàng bó thân áo cóm sát eo vẫn là cái gì đó xốn xang tâm hồn Trường. Chả thế mỗi khi đọc, xem thông tin nào đó về vùng đất lịch sử, đầu anh lại vang lên câu thơ của Trần Mạnh Hảo:

“Hoa ban nở thành người con gái Thái

Đám mây bay trong thau nước gội đầu”.

Không biết có phải những điều ấy đã gieo vào tâm trí Trường những tình cảm đặc biệt cho vùng đất này chăng? Cũng chưa hẳn, bởi hoa ban, hay thi ca mà sâu xa hơn, Điện Biên đã ám ảnh anh từ lâu qua đôi mắt bà nội…

Dịp này, công ty tổ chức chuyến du lịch về nguồn, anh vui lắm, lấy điện thoại gọi ngay cho Linh, cô bạn gái phóng viên. Đầu dây bên kia, Linh thoáng do dự, “Điện Biên á? Giờ người ta đi biển, hoặc lên núi nghỉ dưỡng homestay, chụp ảnh với ngắm mây. Còn Điện Biên thì… ngoài mấy điều đã đọc trong sách báo, có gì mới đâu anh?”. Câu trả lời khiến anh chùng xuống. Rốt cuộc, Linh vẫn nhận lời, có lẽ vì chiều anh. Trường tự nhủ, đến đấy, Linh sẽ hiểu.

*

Buổi sớm Điện Biên mờ sương, hoa ban trắng rắc đầy hai bên đường dẫn vào Nghĩa trang A1. Đoàn dừng lại trước bạt ngàn mộ chí. Bất giác, ngực Trường rung lên, như có tiếng trống từ lòng đất vọng về. Anh đưa tay chạm vào tấm bia đá lạnh và ngay khoảnh khắc ấy, một nhịp thôi thúc mơ hồ dội lên trong lòng, vừa như lời gọi, vừa như tiếng trống giục không biết từ đâu.

Anh bước chầm chậm, tay nhè nhẹ chạm lên từng dòng tên. Một cảm giác dâng trào, vừa xa lạ, vừa thân quen, như thể anh đã từng đi qua nơi này trong ký ức. Mắt nhắm nghiền, Trường thấy ùa về những bài học lịch sử thuở nào. Nhưng lần này, lịch sử không còn là con chữ, mà là hơi thở ngay trước mắt.

…Đồi A1 sừng sững giữa thung lũng Mường Thanh, như cánh cửa cuối cùng che chắn cho sở chỉ huy của tướng Đờ Cát. Gần sáu mươi ngày đêm, bao nhiêu đợt tấn công của bộ đội ta tràn lên giữa mưa bom bão đạn. Đất đỏ chiến hào thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt. Có những chiến sĩ vừa tròn mười tám, đôi mắt còn trong veo, vậy mà sẵn sàng lao mình vào lửa đạn…

Như có tiếng trống vọng về làm Trường chững lại. Anh lắng nghe và nhận ra, đó chỉ là tiếng gió rít qua rừng cây, hòa lẫn vào tiếng lá xào xạc, tạo thành âm vang mơ hồ như ảo ảnh. “Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia A1, nơi yên nghỉ của hơn sáu trăm liệt sĩ, phần lớn là vô danh, hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ...”, Nghĩa, chàng hướng dẫn viên có giọng trầm ấm giới thiệu. Những vệt chiến hào xưa loang lổ còn in rõ trên đất, khiến tim anh đập dồn dập, như nghe đâu đó tiếng gọi vọng lên từ đất.

Đang mải với những hồi tưởng lịch sử, suýt anh va vào một ông già tóc bạc, ngực đeo lấp lánh những huy chương. Ông chống gậy, bước chậm rãi, mắt nhìn về phía đoàn. Thấy anh lúng túng xin lỗi, ông gật nhẹ, chậm rãi hỏi: “Các cháu về thăm A1 à? Ở đây… nhiều đồng đội của ông còn nằm lại”. Nghe ông nói, Trường lặng người đi. Nghĩa giới thiệu ông là Lường Văn Sủ - pháo thủ từng trực tiếp chiến đấu tại đồi A1. Câu chuyện của cựu binh Sủ đưa Trường trở về những ngày ác liệt nhất của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Thời điểm đó, hoa ban còn rộ lắm. Trời lòng chảo bắt đầu mưa, những chùm ban cuối vụ chưa muốn tàn, một mầu trắng rải khắp triền núi như ngọn lửa lạnh âm thầm soi sáng những ngày dài kháng chiến. Ban ngày pháo thủ Lường Văn Sủ cùng đồng đội kiên cường bám trụ, chiến đấu cầm cự. Đêm xuống đội anh lặng lẽ đào hầm xuyên đồi, nhịp nhàng cơ động vận chuyển từng gói bộc phá vào vị trí đã điểm. Bỗng Trường sững lại, mồ hôi túa lạnh trên trán, khi ông Sủ nhắc tên đồng đội Trần Văn Sỹ. Khoảnh khắc ấy, Trường như thấu hiểu sâu hơn sự hy sinh của ông nội và nhận ra vì sao nơi đây vẫn vang vọng những nhịp trống vô hình gọi hồn người về.

Qua lời kể của cựu binh già, hình ảnh ông nội Trường hiện lên mồn một. Trời Tây Bắc tháng tư đã lất phất mưa, chiến hào sũng nước, đất nhão nhoét thục đến gối. Trong hầm công sự chật hẹp, ông nội cùng đồng đội ngày đêm đào hào, khoét núi, đường hầm mở chỉ vừa đủ một người trườn qua, bí mật áp sát địch. Đêm đêm, pháo kích vẫn đì đùng trên đầu. Dưới lòng đất, chiến sĩ ta cần mẫn đào hầm công sự, từng nhát xẻng cắm sâu như những chú dế chũi nhỏ bền gan. Công việc vốn đã cực nhọc lại phải ngụy trang kỹ lưỡng, bí mật vận chuyển đất đưa ra ngoài, tránh tầm quan sát địch. Nhiệm vụ số một là bảo đảm đưa khối bộc phá vào đúng vị trí an toàn. Đường hầm ngày một đào sâu, khoảng cách giữa ta và địch chỉ còn vài chục mét. Đêm đêm, pháo kích rền rĩ trên đầu, lựu đạn vẫn chát chúa nổ như xé toác không gian, mùi thuốc súng xộc thẳng vào mũi, nóng ran trong lồng ngực. Từng động tác phải cẩn trọng tuyệt đối, chỉ một sơ suất cũng có thể trả giá bằng sinh mạng và làm hỏng toàn bộ kế hoạch tác chiến…

Trường nhào đến ôm lấy ông Sủ, giọng nghẹn lại: “Ông ơi, con là cháu nội của đồng đội ông, Trần Văn Sỹ đây!”. Ông Sủ sững người, nhìn Trường thật lâu, rồi đưa tay chạm nhẹ lên má cậu. Ông nghèn nghẹn:

“Đúng rồi… ánh mắt này, khuôn mặt này… giống anh Sỹ lắm. Thế là ta yên lòng rồi. Chiều nay con ghé nhà, ta có việc muốn nhờ!”.

Bên bếp lửa nhà sàn, ông Sủ kể: “Ngày đó, ta là chàng trai Thái 19 tuổi và tân binh Trần Văn Sỹ vào đơn vị cùng một ngày. Đêm xuống đơn vị ta làm nhiệm vụ đào hầm xuyên đồi A1, đưa thuốc nổ áp sát lô-cốt địch. Những ngày ấy, chiến hào đẫm mưa, đất nhão đến gối, nhiều người ngột ngạt lịm đi dưới hầm tối, nhưng vẫn thay nhau đào, quyết giữ từng tấc đất...”.

Giờ trên đã định. Đêm xuống, khối bộc phá gần một tấn được kích hoạt, cả đồi A1 rung chuyển. Tiếng hô “xung phong!” dậy như sấm. Trong màn lửa mù mịt ấy, một quả đạn cối nổ ngay vị trí hai người. ông Sủ chỉ thương nhẹ; còn ông Sỹ ngực bê bết máu, trong phút chốc, ông Sỹ cố rút chiếc khăn của vợ trao bạn, thều thào: “…không… về được… gửi hộ tao…”. Máu Sỹ thấm vào khăn, nhuộm đỏ. Sủ mang kỷ vật ấy suốt đời. Mỗi đêm, ông lại gõ trống gọi hồn bạn, theo phong tục người Thái, như để trò chuyện với người đã khuất.

Ông Sủ lấy chiếc khăn bạc màu trao cho Trường. “Ta giữ hộ anh ấy đã gần bảy mươi năm. Nay xin trả lại cho gia đình”, Trường ôm lấy ông Sủ mà nghẹn lời.

*

Về phòng, Linh hào hứng mở laptop khoe: “Em sẽ làm phóng sự thật mạnh về sự kiện này”, Trường sững người nhìn dòng tít “Khăn máu trên đồi A1 - bí ẩn chôn vùi”. Anh cau mày: “Sao em lại viết như một bài câu view thế này?”, Linh không hề nao núng, đôi môi mím lại: “Nếu anh muốn người ta nhớ, thì phải cho họ thấy. Người ta không đọc những chuyện trầm ấm nữa - họ chỉ click vào cái họ cảm thấy sốc. Em không làm xấu, em làm cho họ chú ý”. Giọng Linh khô, lý lẽ lạnh như dao. Trường gắt lên: “Nhưng đây không phải chuyện để giật gân mà là máu xương, là ông nội anh và đồng đội. Nếu biến thành trò câu khách, khác gì xúc phạm những người đã khuất”.

Trận cãi vã khiến Linh bỏ đi, mắt đỏ hoe. Đêm đó, Trường lang thang trở lại đồi A1. Gió rít qua những thân ban như tiếng trống thùng… thùng… vọng về bên tai. Trong mơ hồ, chiến hào sáng bừng lên. Một người lính trẻ, gương mặt hao hao Trường, bước ra. Giọng ông nội vọng về: “Cháu đã đến rồi. Hãy viết, viết một cách chân thật, để chúng ta như được sống trong lòng mọi người”. Trường thức giấc trong sương lạnh, lòng cuộn lên một niềm thôi thúc mãnh liệt.

Sáng hôm sau, Trường và Linh trở lại Nghĩa trang A1. Ba cựu binh cụt chân, cụt tay gõ trống bảy hồi, gọi đồng đội về nhận nén hương lòng. Linh đứng lặng. Điện thoại trong tay hạ xuống, ánh mắt cô dịu lại.

Trong căn phòng nhà khách Điện Biên thoảng mùi hoa ban, Trường ngồi bên Linh cẩn trọng ghi chép lại câu chuyện của ông Sủ. Những trang sổ tay vàng ố, những gương mặt đồng đội năm xưa, đó là những con người tuổi đôi mươi, người thích hát then, người mơ sau này thành thầy giáo… khiến Linh im lặng rất lâu.

Trở về Hà Nội, Trường mang theo chiếc khăn cũ. Thu xếp công việc, anh vội về quê. Vẫn hình ảnh đó, bà nội ngồi trước hiên, mái tóc bạc phơ lay nhẹ trong gió, Trường bước đến, đặt chiếc khăn vào tay bà. Bà khựng lại, đôi mắt rung lên khi nhận ra vật quen thuộc. Những ngón tay gầy guộc run rẩy lần trên viền khăn sần sùi, khô đanh bởi những vệt máu năm nào. Mắt bà nhòe lệ, giọng nghẹn đi: “Dù muộn… cuối cùng ông con cũng về. Cưới được hai năm thì ông nhập ngũ. Đây là chiếc khăn bà thêu tặng ngày ông lên đường…”.

Trường tựa đầu vào lòng bà, thấy như vọng lại từ rất xa tiếng trống trầm ngân, gọi về bao ký ức và linh hồn người đã khuất. Ngoài sân, gió lay khẽ tán cây, vài cánh ban trắng rơi xuống hiên nhẹ như hơi thở của quá khứ vừa chạm vào hiện tại.

H.M.H

Nguồn: Báo Nhân Dân

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm