TIN TỨC
  • Truyện
  • Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng

Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-20 00:35:01
mail facebook google pos stwis
259 lượt xem

Tâm lý chung nhiều người khi đã đến một nơi rồi, lần trở lại thường không còn háo hức lắm.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Minh họa: Nguyễn Minh

 

Nhưng với Trường thì khác, mỗi khi nhắc đến địa danh ấy trong anh lại trào lên thứ cảm xúc lạ lùng, như thể luôn có một sợi dây vô hình kéo anh về phía những ký ức chưa từng được chạm tới. Anh không lý giải được vì sao, chỉ biết rằng, mỗi lần trở lại Điện Biên, tim anh lại rung lên.

Thời đại học, Trường có đứa bạn cùng lớp tên Ly quê ở Him Lam. Mỗi dịp tụ tập, Ly say sưa kể chuyện hoa ban, nào xôi tím mẹ ủ trong ếp nóng hổi thơm lừng, nào món nộm thanh mát chế biến từ những cánh ban non khiến đám sinh viên thèm rỏ rãi. Từ lâu, hình ảnh hoa ban, cô gái Thái dịu dàng bó thân áo cóm sát eo vẫn là cái gì đó xốn xang tâm hồn Trường. Chả thế mỗi khi đọc, xem thông tin nào đó về vùng đất lịch sử, đầu anh lại vang lên câu thơ của Trần Mạnh Hảo:

“Hoa ban nở thành người con gái Thái

Đám mây bay trong thau nước gội đầu”.

Không biết có phải những điều ấy đã gieo vào tâm trí Trường những tình cảm đặc biệt cho vùng đất này chăng? Cũng chưa hẳn, bởi hoa ban, hay thi ca mà sâu xa hơn, Điện Biên đã ám ảnh anh từ lâu qua đôi mắt bà nội…

Dịp này, công ty tổ chức chuyến du lịch về nguồn, anh vui lắm, lấy điện thoại gọi ngay cho Linh, cô bạn gái phóng viên. Đầu dây bên kia, Linh thoáng do dự, “Điện Biên á? Giờ người ta đi biển, hoặc lên núi nghỉ dưỡng homestay, chụp ảnh với ngắm mây. Còn Điện Biên thì… ngoài mấy điều đã đọc trong sách báo, có gì mới đâu anh?”. Câu trả lời khiến anh chùng xuống. Rốt cuộc, Linh vẫn nhận lời, có lẽ vì chiều anh. Trường tự nhủ, đến đấy, Linh sẽ hiểu.

*

Buổi sớm Điện Biên mờ sương, hoa ban trắng rắc đầy hai bên đường dẫn vào Nghĩa trang A1. Đoàn dừng lại trước bạt ngàn mộ chí. Bất giác, ngực Trường rung lên, như có tiếng trống từ lòng đất vọng về. Anh đưa tay chạm vào tấm bia đá lạnh và ngay khoảnh khắc ấy, một nhịp thôi thúc mơ hồ dội lên trong lòng, vừa như lời gọi, vừa như tiếng trống giục không biết từ đâu.

Anh bước chầm chậm, tay nhè nhẹ chạm lên từng dòng tên. Một cảm giác dâng trào, vừa xa lạ, vừa thân quen, như thể anh đã từng đi qua nơi này trong ký ức. Mắt nhắm nghiền, Trường thấy ùa về những bài học lịch sử thuở nào. Nhưng lần này, lịch sử không còn là con chữ, mà là hơi thở ngay trước mắt.

…Đồi A1 sừng sững giữa thung lũng Mường Thanh, như cánh cửa cuối cùng che chắn cho sở chỉ huy của tướng Đờ Cát. Gần sáu mươi ngày đêm, bao nhiêu đợt tấn công của bộ đội ta tràn lên giữa mưa bom bão đạn. Đất đỏ chiến hào thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt. Có những chiến sĩ vừa tròn mười tám, đôi mắt còn trong veo, vậy mà sẵn sàng lao mình vào lửa đạn…

Như có tiếng trống vọng về làm Trường chững lại. Anh lắng nghe và nhận ra, đó chỉ là tiếng gió rít qua rừng cây, hòa lẫn vào tiếng lá xào xạc, tạo thành âm vang mơ hồ như ảo ảnh. “Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia A1, nơi yên nghỉ của hơn sáu trăm liệt sĩ, phần lớn là vô danh, hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ...”, Nghĩa, chàng hướng dẫn viên có giọng trầm ấm giới thiệu. Những vệt chiến hào xưa loang lổ còn in rõ trên đất, khiến tim anh đập dồn dập, như nghe đâu đó tiếng gọi vọng lên từ đất.

Đang mải với những hồi tưởng lịch sử, suýt anh va vào một ông già tóc bạc, ngực đeo lấp lánh những huy chương. Ông chống gậy, bước chậm rãi, mắt nhìn về phía đoàn. Thấy anh lúng túng xin lỗi, ông gật nhẹ, chậm rãi hỏi: “Các cháu về thăm A1 à? Ở đây… nhiều đồng đội của ông còn nằm lại”. Nghe ông nói, Trường lặng người đi. Nghĩa giới thiệu ông là Lường Văn Sủ - pháo thủ từng trực tiếp chiến đấu tại đồi A1. Câu chuyện của cựu binh Sủ đưa Trường trở về những ngày ác liệt nhất của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Thời điểm đó, hoa ban còn rộ lắm. Trời lòng chảo bắt đầu mưa, những chùm ban cuối vụ chưa muốn tàn, một mầu trắng rải khắp triền núi như ngọn lửa lạnh âm thầm soi sáng những ngày dài kháng chiến. Ban ngày pháo thủ Lường Văn Sủ cùng đồng đội kiên cường bám trụ, chiến đấu cầm cự. Đêm xuống đội anh lặng lẽ đào hầm xuyên đồi, nhịp nhàng cơ động vận chuyển từng gói bộc phá vào vị trí đã điểm. Bỗng Trường sững lại, mồ hôi túa lạnh trên trán, khi ông Sủ nhắc tên đồng đội Trần Văn Sỹ. Khoảnh khắc ấy, Trường như thấu hiểu sâu hơn sự hy sinh của ông nội và nhận ra vì sao nơi đây vẫn vang vọng những nhịp trống vô hình gọi hồn người về.

Qua lời kể của cựu binh già, hình ảnh ông nội Trường hiện lên mồn một. Trời Tây Bắc tháng tư đã lất phất mưa, chiến hào sũng nước, đất nhão nhoét thục đến gối. Trong hầm công sự chật hẹp, ông nội cùng đồng đội ngày đêm đào hào, khoét núi, đường hầm mở chỉ vừa đủ một người trườn qua, bí mật áp sát địch. Đêm đêm, pháo kích vẫn đì đùng trên đầu. Dưới lòng đất, chiến sĩ ta cần mẫn đào hầm công sự, từng nhát xẻng cắm sâu như những chú dế chũi nhỏ bền gan. Công việc vốn đã cực nhọc lại phải ngụy trang kỹ lưỡng, bí mật vận chuyển đất đưa ra ngoài, tránh tầm quan sát địch. Nhiệm vụ số một là bảo đảm đưa khối bộc phá vào đúng vị trí an toàn. Đường hầm ngày một đào sâu, khoảng cách giữa ta và địch chỉ còn vài chục mét. Đêm đêm, pháo kích rền rĩ trên đầu, lựu đạn vẫn chát chúa nổ như xé toác không gian, mùi thuốc súng xộc thẳng vào mũi, nóng ran trong lồng ngực. Từng động tác phải cẩn trọng tuyệt đối, chỉ một sơ suất cũng có thể trả giá bằng sinh mạng và làm hỏng toàn bộ kế hoạch tác chiến…

Trường nhào đến ôm lấy ông Sủ, giọng nghẹn lại: “Ông ơi, con là cháu nội của đồng đội ông, Trần Văn Sỹ đây!”. Ông Sủ sững người, nhìn Trường thật lâu, rồi đưa tay chạm nhẹ lên má cậu. Ông nghèn nghẹn:

“Đúng rồi… ánh mắt này, khuôn mặt này… giống anh Sỹ lắm. Thế là ta yên lòng rồi. Chiều nay con ghé nhà, ta có việc muốn nhờ!”.

Bên bếp lửa nhà sàn, ông Sủ kể: “Ngày đó, ta là chàng trai Thái 19 tuổi và tân binh Trần Văn Sỹ vào đơn vị cùng một ngày. Đêm xuống đơn vị ta làm nhiệm vụ đào hầm xuyên đồi A1, đưa thuốc nổ áp sát lô-cốt địch. Những ngày ấy, chiến hào đẫm mưa, đất nhão đến gối, nhiều người ngột ngạt lịm đi dưới hầm tối, nhưng vẫn thay nhau đào, quyết giữ từng tấc đất...”.

Giờ trên đã định. Đêm xuống, khối bộc phá gần một tấn được kích hoạt, cả đồi A1 rung chuyển. Tiếng hô “xung phong!” dậy như sấm. Trong màn lửa mù mịt ấy, một quả đạn cối nổ ngay vị trí hai người. ông Sủ chỉ thương nhẹ; còn ông Sỹ ngực bê bết máu, trong phút chốc, ông Sỹ cố rút chiếc khăn của vợ trao bạn, thều thào: “…không… về được… gửi hộ tao…”. Máu Sỹ thấm vào khăn, nhuộm đỏ. Sủ mang kỷ vật ấy suốt đời. Mỗi đêm, ông lại gõ trống gọi hồn bạn, theo phong tục người Thái, như để trò chuyện với người đã khuất.

Ông Sủ lấy chiếc khăn bạc màu trao cho Trường. “Ta giữ hộ anh ấy đã gần bảy mươi năm. Nay xin trả lại cho gia đình”, Trường ôm lấy ông Sủ mà nghẹn lời.

*

Về phòng, Linh hào hứng mở laptop khoe: “Em sẽ làm phóng sự thật mạnh về sự kiện này”, Trường sững người nhìn dòng tít “Khăn máu trên đồi A1 - bí ẩn chôn vùi”. Anh cau mày: “Sao em lại viết như một bài câu view thế này?”, Linh không hề nao núng, đôi môi mím lại: “Nếu anh muốn người ta nhớ, thì phải cho họ thấy. Người ta không đọc những chuyện trầm ấm nữa - họ chỉ click vào cái họ cảm thấy sốc. Em không làm xấu, em làm cho họ chú ý”. Giọng Linh khô, lý lẽ lạnh như dao. Trường gắt lên: “Nhưng đây không phải chuyện để giật gân mà là máu xương, là ông nội anh và đồng đội. Nếu biến thành trò câu khách, khác gì xúc phạm những người đã khuất”.

Trận cãi vã khiến Linh bỏ đi, mắt đỏ hoe. Đêm đó, Trường lang thang trở lại đồi A1. Gió rít qua những thân ban như tiếng trống thùng… thùng… vọng về bên tai. Trong mơ hồ, chiến hào sáng bừng lên. Một người lính trẻ, gương mặt hao hao Trường, bước ra. Giọng ông nội vọng về: “Cháu đã đến rồi. Hãy viết, viết một cách chân thật, để chúng ta như được sống trong lòng mọi người”. Trường thức giấc trong sương lạnh, lòng cuộn lên một niềm thôi thúc mãnh liệt.

Sáng hôm sau, Trường và Linh trở lại Nghĩa trang A1. Ba cựu binh cụt chân, cụt tay gõ trống bảy hồi, gọi đồng đội về nhận nén hương lòng. Linh đứng lặng. Điện thoại trong tay hạ xuống, ánh mắt cô dịu lại.

Trong căn phòng nhà khách Điện Biên thoảng mùi hoa ban, Trường ngồi bên Linh cẩn trọng ghi chép lại câu chuyện của ông Sủ. Những trang sổ tay vàng ố, những gương mặt đồng đội năm xưa, đó là những con người tuổi đôi mươi, người thích hát then, người mơ sau này thành thầy giáo… khiến Linh im lặng rất lâu.

Trở về Hà Nội, Trường mang theo chiếc khăn cũ. Thu xếp công việc, anh vội về quê. Vẫn hình ảnh đó, bà nội ngồi trước hiên, mái tóc bạc phơ lay nhẹ trong gió, Trường bước đến, đặt chiếc khăn vào tay bà. Bà khựng lại, đôi mắt rung lên khi nhận ra vật quen thuộc. Những ngón tay gầy guộc run rẩy lần trên viền khăn sần sùi, khô đanh bởi những vệt máu năm nào. Mắt bà nhòe lệ, giọng nghẹn đi: “Dù muộn… cuối cùng ông con cũng về. Cưới được hai năm thì ông nhập ngũ. Đây là chiếc khăn bà thêu tặng ngày ông lên đường…”.

Trường tựa đầu vào lòng bà, thấy như vọng lại từ rất xa tiếng trống trầm ngân, gọi về bao ký ức và linh hồn người đã khuất. Ngoài sân, gió lay khẽ tán cây, vài cánh ban trắng rơi xuống hiên nhẹ như hơi thở của quá khứ vừa chạm vào hiện tại.

H.M.H

Nguồn: Báo Nhân Dân

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm
Thân thiện - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
“Thân thiện” của Lê Thanh Huệ là một văn bản văn xuôi dung lượng lớn, được viết như một cuộc đối thoại mở giữa con người với tri thức, chiến tranh, công nghệ và tương lai nhân loại.
Xem thêm
Gặp gỡ bất ngờ – Truyện ngắn Đỗ Thị Thu Hiền
Nhà văn Đỗ Thị Thu Hiền, tên thật Đỗ Thị Hiền, sinh năm 1952 tại TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nguyên giáo viên mất sức. Năm 1997 đến năm 2007 chị là UV.BCH, Chánh văn phòng Hội VHNT tỉnh Hà Nam. Hiện chị sống và viết tại TP. Bà Rịa (cũ).
Xem thêm
Gió đồng khoáng đạt – Truyện ngắn Hồ Tĩnh Tâm
Tôi cùng với anh bạn Dũng Hạnh đi xe gần hết nửa ngày, thêm gần nửa buổi ngồi đò nữa thì tới được đồng Ngao. Cánh đồng rộng ngút ngát, nhìn thấy ngờm ngợp con mắt. Anh bạn nói: “Phải mua thủ can rượu cho chắc. Nó sống mụ mị giữa đồng, hết rượu có mà chạy trào máu mắt”.
Xem thêm
Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Mối hòa hiếu của hai quốc gia lân bang được bắt đầu khi Trọng Thủy bước vào thành. Chàng là một người trẻ tuổi đẹp đẽ, trong trẻo, sáng ngời như ánh dương đầu hạ. Mắt đen thăm thẳm như nước giếng mới khơi. Lưng cao, tiếng nói dịu, lễ nghi chu toàn. Kim Quy không ngờ đó là con trai Triệu Đà. Vì chàng khác hẳn sự hiểm độc của người cha. Chàng chỉ là người trần, sinh ra từ người mẹ chết sớm, lớn lên trong cung cấm nhưng đầy mộng mơ. Chàng không biết cha mình là hóa thân của kẻ thù truyền kiếp của Kim Quy. Trọng Thủy khi ấy chỉ mang một ước vọng: tìm thấy một nơi bình yên, một người con gái xinh đẹp có thể khiến chàng được sống thật với lòng mình. Chàng cũng từng kinh sợ những cuộc giao tranh, trừng phạt, giết chóc của vua cha. Rời xa vua cha cùng kinh thành là điều chàng từng mong muốn.Trọng Thủy nhận lệnh vua cha đến Loa Thành gặp Mỵ Châu nhưng chưa một lần biết mặt người con gái đó. Chàng lãng mạn tin rằng Mỵ Châu là đóa hoa đẹp nhất của đất Âu Lạc.
Xem thêm
Chùm truyện siêu ngắn của Cristina Rivera Garza
Cristina Rivera Garza sinh năm 1964, nhà văn nổi tiếng người Mexico. Sự nghiệp của bà bắt đầu được ghi nhận từ những năm 1980, khi bà đoạt giải thơ Punto de Partida năm 1984 với Apuntes, giải truyện ngắn quốc gia San Luis Potosí năm 1987 với La guerra no importa. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Cristina Rivera Garza là Nadie me verá llorar, tác phẩm này đã mang lại cho bà Giải IMPAC/CONARTE/ITESM năm 2000. Carlos Fuentes từng gọi đây là “một trong những tiểu thuyết vừa đẹp vừa ám ảnh nhất từng được viết ở Mexico”. Năm 2024, bà đoạt giải Pulitzer cho thể loại hồi kí - tự truyện với tác phẩm El invencible verano de Liliana.
Xem thêm
Lock down – Truyện ngắn của Bùi Đế Yên.
Nhà văn Bùi Đế Yên làm thơ trước khi viết truyện ngắn. Đọc truyện của chị, tưởng chị đang ngồi thủ thỉ kể một câu chuyện vừa mới xãy ra đầy hấp dẫn, khi nghe hết chuyện, lòng ta cứ thấy bâng khuâng …
Xem thêm
Nguyền rủa - Truyện ngắn
Gia đình bà Hường chuyển về sống lam lũ với xóm nghèo. Các khu dân cư mọc lên như nấm sau mưa; lối mòn biến thành đường nhựa. Ông Tấn suốt ngày cắp laptop vợ mua, đi “quan hệ kinh doanh”; đám trẻ con tò mò kháo nhau ông không biết dùng máy vi tính.
Xem thêm
Đêm trước phiên chợ – Truyện ngắn của Lương Mỹ Hạnh
Lão Hạo không lộ mặt, ra lệnh cho tay chân nhanh chóng neo thuyền lại. Chúng lấy những đoạn dây chão to bằng cổ tay chằng buộc hai thuyền kẹp cứng với nhau. Mặt đằng đằng sát khí, hơn chục thằng cầm dao, kiếm, côn nhảy sang thuyền thằng Lanh. Một cuộc ẩu đả bất phân thắng bại nổ ra, hai bên cùng xông vào nhau đấm đá túi bụi.
Xem thêm
Tro bụi ngược chiều – Truyện ngắn Tịnh Bảo
Nắng trưa vàng như chảo mật ong tưới xuống. Nghĩa trang lớn nằm ở ngoại ô, những ngôi mộ nơi góc khuất bị cỏ dại bọc kín, bia đá lấm bụi, từng vệt bẩn kéo dài chảy xuống theo vệt nước mưa, có lẽ do cơn mưa chiều qua.
Xem thêm
Nắng chiều còn chảy – Truyện ngắn Đỗ Thanh Tuân
Trời xứ núi chuyển giông lúc nào cũng dữ dội như đón bão. Gió ầm ào. Cây rừng nghiêng ngả. Lá bay tứ tán. Mây ùn ùn về sắp đầy đầu núi, đen kịt.Chiếc xe máy chở Lan vừa chạy vừa nhảy cà tưng qua mấy ổ gà, những mỏm đá nhô cao của con đường núi thiên thẹo. Nước lùa ra đường đầy rều rác, cây bụi. Nhìn lên một bên là vách cheo leo, nhìn xuống bên kia là vực trong mưa chiều, trong cái sâu hun hút. Xa dưới kia, thác nước ào ào dội. Chốc chốc, chiếc xe dẹo mình cót két. Vậy mà bà chủ tiệm tạp hóa cứ đinh ninh là sẽ bắt cho cô chiếc xe thồ xịn nhất để vào nóc. Đúng xe núi hẳn hoi. Thiệt núi. Bà cười cố ý nhấn mạnh chữ “núi”. Xe cô, cứ để đó, khi mô trở ra thì lấy về. Dù chuẩn bị tâm lí trước nhưng Lan vẫn ngẩn người. Ở đây người ta sống bằng niềm tin. Lời nói ra xác tín như rìu chặt vào cây. Bà đưa Lan cái choàng mưa, tiện tay dúi thêm cái bao bóng lớn, nói ngó trời trong rứa chứ chút nữa thể nào cũng mưa, bỏ ba lô vào bọc ni lông cho khỏi ướt. Nhìn mớ đồ lỉnh kỉnh trong hành trang của Lan, bà cười. “Mong cái nóc Tu Mơ Rông giữ chân cô được.”
Xem thêm
Cô gái đứng trước biển Nhật Lệ - Truyện ngắn Vũ Khắc Tĩnh
Cô gái đã từng có nhiều ước mộng trong đời. Ngoài những giờ học ở trường, những lúc rảnh rỗi cô gái thích đi biển, thích đứng một mình trước biển hằng giờ ở đó, nhìn biển bình minh, mặt trời tròn vành vạnh đỏ rực lung linh, nhìn những con chim hải âu tung cánh bay dật dờ, chao nghiêng trên biển. Một buổi sáng bình minh trên biển rất đẹp, lung linh, lung linh, những đợt sóng vỗ tung toé trắng xoá. Lúc này biển đông người tắm, biển xao động tiếng cười nói của mọi người đánh tan sự im lặng, họ đùa giỡn với sóng nhấp nhô. Ai làm gì mặc kệ, cô gái vẫn đứng bất động một mình trước biển, trong đầu suy nghĩ gì không biết. Làm sao mà biết được. Tắm biển thì không bao giờ tắm. Một cô gái lạ lùng, tôi chưa từng thấy, từng gặp trường hợp này bao giờ. Đến biển, cô gái đứng nhìn biển trong tích tắc bình minh rồi về.
Xem thêm