TIN TỨC

Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-01 22:08:36
mail facebook google pos stwis
399 lượt xem

HOÀNG THỤY ANH

Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị.

 

Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.

1. Thân phận người nữ trong Bể người thăm thẳm được miêu tả với nhiều giác độ phức tạp. Đó là những con người mang dấu ấn tổn thương từ những định kiến giới còn âm ỉ đâu đó và cũng là những cá thể không ngừng đấu tranh đả phá mọi rào cản. Nguyễn Thị Lê Na dẫn dắt người đọc đi vào những xung đột nội tâm, theo dõi quá trình xác tín bản ngã và sự nổi loạn của các nhân vật nữ khi họ chống trả những rào cản tinh thần. Không chấp nhận sự kìm hãm của những thói quen tư tưởng đã thành quán tính, những người phụ nữ của chị kiên quyết đấu tranh giành lấy quyền được lựa chọn, tự mình kiến tạo đời sống và quyết định số phận của chính họ.

Nhiều nhân vật trong tác phẩm mang vẻ đẹp người phụ nữ truyền thống khoan hòa, nhẫn nhịn, tận tâm như Quyên trong Bể người thăm thẳm, “tôi” trong Vần vũ mây trôi hay Miên trong Em đừng đi. Trong thế giới của những người đàn bà này, sự tận hiến dường như luôn tỉ lệ nghịch với hạnh phúc. Nếu Quyên sai lầm khi đánh mất bản ngã trong những chăm chút tỉ mỉ cho chồng từ đôi tất, mảnh áo, thì nhân vật “tôi” lại rơi vào cái bẫy của sự lệ thuộc khi tự nguyện từ bỏ sự nghiệp để lùi về phía sau làm hậu phương. Cả hai đều nỗ lực xây đắp lâu đài hạnh phúc bằng sự hi sinh vô điều kiện, để rồi cuối cùng đều phải nhận về sự phản bội. Còn Miên thì đặt trọn niềm tin vào tình yêu, để rồi vô tình trở thành nạn nhân của sự lừa dối, phải gánh chịu cả nỗi đau lẫn gánh nặng đạo đức không thuộc về mình. Đó là bi kịch muôn thuở của phụ nữ khi phải giấu nỗi đau để giữ yên bề gia thất. Hôn nhân rạn vỡ, bất kể lỗi lầm khởi thủy từ đâu, dư luận vẫn thường nghiêng về trách cứ người vợ. Họ bị buộc gánh lấy thứ đạo lí vốn không thuộc về mình, để rồi sống trong những tổn thương không ngơi, bị tước quyền lựa chọn lẫn quyền cất tiếng nói.

Điểm nổi bật trong thế giới nữ của Nguyễn Thị Lê Na là căn tính đa diện: mềm yếu đan quyện với kiên cường, nhẫn nhịn đi đôi với phản kháng, cảm xúc đối thoại cùng lí trí. Miên trong Em đừng đi mong manh, dễ tổn thương nhưng khi nhận ra mình bị phản bội và cuộc tình đã vô vọng, cô dứt khoát ra đi. Quyết định ấy là cách thoát khỏi nỗi đau, là sự tranh đấu mãnh liệt trước bế tắc, cho dù phải chấp nhận cái giá của sự bơ vơ, cô độc và hiểm nguy. Linh trong Trăng in đáy nước hiện thân kiểu nhân vật tự giải phẫu nỗi đau để bảo toàn danh dự. Cô chọn cách kìm nén bản năng yếu mềm để thực hiện cuộc hoán đổi nghiệt ngã, hi sinh bản thân cứu người yêu, rồi tự lưu đày bản thân để cứu vãn lòng tự trọng. Quyết định rời bỏ Kha là minh chứng cho sự thắng thế của lí trí trước cảm xúc. Cô thà đơn độc còn hơn chấp nhận sự hiện diện tì vết bên cạnh người thương. Sự chọn lựa đớn đau này đã đưa Linh từ vị thế nạn nhân trở thành người làm chủ số phận. Lệ, từ một cái bóng trầm cảm trong Đường trần mấy nẻo, đã cương quyết li hôn, cắt đứt mọi níu kéo để được tái sinh. Chi tiết con mắt giả của Lệ như tượng trưng cho sự trở lại của vẻ đẹp, sự tự tin và thần thái được tôi luyện từ thương đau. Nâu trong Ngày rất dài ban đầu cố gắng nhẫn nhịn hàn gắn ràng rịt tổ ấm, nhưng nỗi ghen tuông và sự hiểu lầm bị dồn nén quá lâu đã biến thành hành động phản kháng dữ dội. Sau cùng, khi nhận ra sự thật, Nâu bình thản đón nhận bản án, hậu quả bằng thái độ cứng cỏi. Có thể thấy Nguyễn Thị Lê Na đã miêu tả, dẫn giải sự vận động, diễn biến tâm lí người nữ khá tự nhiên, logic. Tình yêu và sự hi sinh của họ luôn sóng đôi với lòng tự trọng, còn nỗi đau lại như phép thử hun đúc sức mạnh tinh thần. Chỉ khi đủ bản lĩnh, dũng khí bước qua mất mát, họ mới chứng tỏ được sức mạnh nội tâm và ý thức giữ gìn phẩm giá.

Tập truyện Bể người thăm thẳm còn khai thác số phận người nữ vấp ngã và mắc sai lầm như Quyên trong truyện cùng tên hay “tôi” trong Vần vũ mây trôi. Họ đã tìm đến mối quan hệ ngoài luồng để khỏa lấp khoảng trống tinh thần. Tuy nhiên, cuộc tình vụng trộm ấy chẳng thể cứu vớt họ khỏi bi kịch, ngược lại, còn đẩy họ xuống tầng bi kịch khác, tâm khảm tiếp tục bị giày vò. Nguyễn Thị Lê Na đặt người phụ nữ trong vòng xoáy ấy để họ tự thức tỉnh, tự chất vấn, vì lẽ im lặng, chịu đựng hay nhẫn nhịn chưa bao giờ là thước đo của phẩm hạnh. Họ tái định nghĩa bản thân bằng cách đối diện với những tổn thương, minh chứng mình mạnh mẽ hơn những gì phận số mặc định. Do đó, nhân vật của chị có thể sai lầm, hành động theo bản năng nhưng họ vẫn sống cuộc đời thuộc về chính họ với nhu cầu được thấu hiểu, được lựa chọn và được hiện hữu theo cách mong muốn.

Sự tỉnh thức của nhân vật nữ trong Bể người thăm thẳm không đến từ khoảnh khắc bừng sáng đột ngột mà được hình thành từng chút từng chút qua các vết rạn cõi lòng. Diễn ngôn nữ quyền của tác phẩm đặt trọng tâm vào việc xác lập lại quyền năng của phụ nữ từ những đổ vỡ, tìm thấy bản thể trong khoảnh khắc bị dồn đến giới hạn, chứ không nhờ sự cứu rỗi bên ngoài. Quá trình ấy diễn tiến chậm rãi, qua các biến cố và xung đột, qua những lần họ soi mình trong ánh nhìn của người khác, đặc biệt là con cái. “Tôi” trong Vần vũ mây trôi điển hình cho kiểu người phụ nữ thức tỉnh. Sự giật mình từ ánh mắt con cái đã giúp cô nhận ra mình phải khác, bắt đầu hành trình tìm kiếm công việc, giải thoát nỗi trống rỗng và cô đơn. Ngay cả khi cô vướng vào mối quan hệ ngoài luồng, điều đó cũng bắt nguồn từ mong muốn bù đắp những thiếu hụt trong tâm hồn, coi đó như một phần của hành trình tự khám phá bản ngã. Đây là ngưỡng rẽ nội tâm đánh dấu bước chuyển từ thụ động sang tự thức của các nhân vật nữ. Thức tỉnh, trong thế giới của Nguyễn Thị Lê Na đồng nghĩa với quá trình trăn trở, dằn vặt, ở đó, lí trí và cảm xúc phải diễn ra trận đấu khốc liệt để đi đến lựa chọn cuối cùng. Bởi vậy, những hành động như xóa sạch dấu vết về người đàn ông cũ, rời bỏ mái ấm đã mục ruỗng, tự gây dựng kế sinh nhai hay bước ra khỏi cuộc đời được định sẵn… của người phụ nữ đều cho thấy ý chí hồi sinh bằng mọi giá, bất chấp điểm bắt đầu đầy chông gai và thử thách.

2. Bể người thăm thẳm của Nguyễn Thị Lê Na như nói hộ tiếng lòng người nữ, gửi gắm nỗi niềm của họ về thế giới đàn ông. Chị chỉ ra những gốc rễ gia trưởng đã ăn sâu, gieo rắc biết bao bất hạnh lên cuộc đời người nữ, xoáy vào những góc khuất tâm lí, những hành vi vô thức củng cố quyền lực của phái mạnh, cho người đọc thấy vì sao người nữ vẫn mãi bị dồn vào thế yếu, vần vũ trong bi kịch. Từ đây, câu hỏi về quyền định đoạt bao giờ thôi thuộc về đàn ông vẫn treo lơ lửng như nỗi đau chưa nguôi.

Trước hết, Nguyễn Thị Lê Na phơi bày bi kịch nhân tính của người đàn ông biết yêu thương nhưng cũng dễ dàng phản bội, nồng nhiệt trong khát vọng chiếm hữu nhưng cũng lạnh lùng giây phút quay lưng. Khép lại cuộc tình, cảm giác như trên thân phận người nữ chỉ còn lại vết thương chưa bao giờ kịp liền da. Điển hình là Du trong truyện Em đừng đi, một họa sĩ đã có gia đình nhưng lại tự cho mình quyền quyết định duy trì hay chấm dứt mối tình. Miên, cô gái làng chài có học thức, đã bị cuốn vào mối quan hệ tay ba. Qua trường hợp của Miên, có thể thấy tình yêu như chiếc bẫy đẩy người phụ nữ vào vòng lệ thuộc và bi kịch nếu họ thiếu sự tỉnh táo và độc lập. Tiếp đến là Trung trong truyện Giữa dòng thác, anh ta lén lút qua lại với người khác và chỉ khi Thy phát hiện mới công khai đòi li hôn. Ngay cả cái chết của Trung cũng không đem lại sự giải thoát, trái lại, còn lộ bí mật kinh hoàng, đẩy Thy và Dung vào bi kịch mới. Sự tàn nhẫn, cạn tình của Trung được hiển bày qua những lời lẽ cay nghiệt với vợ: “Chẳng phải cô đến với tôi vì cái cơ ngơi này? Thì đấy, cô sẽ được ấm thân…” Cách hành xử của người đàn ông chứa đựng sự vô cảm và thói quen đổ lỗi cho phụ nữ, coi họ như công cụ để thỏa mãn bản thân.

Để thể hiện quyền lực, một số nhân vật nam không ngần ngại dùng đến bạo lực và áp chế. Quang trong Trăng in đáy nước lợi dụng tiền bạc, quyền thế coi phụ nữ như món hàng. Hắn khoe khoang “chưa có cô nào anh để mắt mà thoát được”, rồi dùng thủ đoạn hèn hạ ép buộc Linh “qua đêm” và quay video làm bằng chứng cưỡng ép. Câu nói “nghề của em chỉ là... mát xa mát gần...” đã hàm chứa sự coi thường, khinh miệt đối với công việc của Linh nhưng cũng đồng thời lột trần sự tha hóa nhân cách của hắn. Trong truyện Bể người thăm thẳm, Phương cũng từng dùng những lời lẽ mạt sát Quyên. Thái độ tàn nhẫn của hắn, cộng với lỗi lầm riêng của Quyên, đã đẩy cô vào bi kịch, bị bạo hành tinh thần, phải vật lộn với nỗi đau triền miên. Không riêng gì Quyên mà gia đình nhỏ của họ cũng bị trói chặt trong bầu không khí nặng nề, ngột ngạt. Sự độc đoán còn được đẩy đến cực đoan ở Hiếu trong Đường trần mấy nẻo. Dưới vỏ bọc “thanh niên trắng trẻo thư sinh”, Hiếu lại ngoại tình và bạo hành vợ. Anh ta từ chối li hôn chỉ vì bản tính ích kỉ và lòng ham muốn chiếm hữu. Lời tuyên bố “làm cho tan vàng nát ngọc, để Lệ thân tàn ma dại khi bước ra khỏi nhà này, và không có thằng đàn ông nào thèm nhìn lại Lệ nữa...” làm chứng cho tư tưởng gia trưởng độc đoán, không ăn được thì đạp đổ, sẵn sàng hủy hoại người phụ nữ khi anh ta không thể kiểm soát.

Trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na, nhiều người đàn ông bước vào mối quan hệ với vẻ ngoài tử tế, quan tâm, khiến phụ nữ ngỡ rằng họ có thể tựa vào khi chông chênh, khi tột cùng đớn đau. Thế nhưng, khi đã chiếm được tình cảm của người phụ nữ, lớp mặt nạ ấy nhanh chóng rơi xuống, để lộ sự hèn nhát, thờ ơ và thói quen trốn chạy trách nhiệm. Nam trong Vần vũ mây trôi thoạt tiên như vị cứu tinh cho nhân vật “tôi”, vậy mà khi “tôi” báo tin có thai, chỉ bằng câu đáp hờ hững “Ừ… Thế hả?” bao nhiêu sự lạnh nhạt, bạc nhược và trơ tráo của hắn trổ ra hết. Du trong Em đừng đi cũng chẳng khác, sau dáng vẻ lãng tử của người họa sĩ là bản chất yếu đuối, thờ ơ, mặc kệ Miên lạc lối trong bế tắc. Những nhân vật này gợi lại bi kịch quen thuộc, niềm hi vọng của phụ nữ sẽ sụp đổ khi đặt nhầm vào người đàn ông thiếu bản lĩnh, điều từng xuất hiện trong nhiều tác phẩm của các cây bút nữ. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Lê Na không phóng đại hiện thực, chị dùng giọng kể tiết chế, ngôn ngữ uyển chuyển để khoảng cách giữa vẻ ngoài lịch lãm và phần lõi bên trong tự nó bật phô, đối kháng. Hình tượng người đàn ông trong tác phẩm của chị có thể xem như tấm gương phản chiếu những rạn nứt âm thầm trong quan hệ giới.

Nguyễn Thị Lê Na còn đưa vào truyện hình ảnh người đàn ông lớn tuổi với nhiều giới hạn, xuất phát từ tình thương mà hành động. Ông Mạnh là người cha yêu con, có trách nhiệm, nhưng trong cách nghĩ và hành động lại in đậm tư tưởng gia trưởng. Với mong muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình và tương lai của con, ông sắp đặt cuộc hôn nhân giữa Thy và Trung, xem Thy như điểm tựa để “kế nghiệp” cơ đồ. Việc thuê người dọa nạt Dung tuy có phần quá đáng song căn nguyên của nó là khát vọng bảo vệ mái ấm. Chính sự yêu thương pha lẫn kiểm soát ấy đã vô tình đẩy Thy vào nỗi oan ức suốt gần hai mươi năm và tước đi quyền lựa chọn đường đời của cô. Khi sự việc đã rõ trắng đen sau cái chết của Trung, ông Mạnh mới “cởi được tấm lòng” và gửi lời xin lỗi muộn màng. Lời xin lỗi đến sau bao sóng gió vẫn chứng tỏ những gì ông làm đều vì tình thương con. Nhân vật ông Mạnh vì vậy mang dáng dấp của con người đầy mâu thuẫn, có sai lầm vẫn chan chứa nhân bản. Sự đối sánh với hình tượng tích cực như Cần trong Đường trần mấy nẻo cũng đem đến cái nhìn đa chiều về đàn ông trong văn xuôi của Nguyễn Thị Lê Na, để từ đó chị nhấn mạnh trách nhiệm và vai trò đồng hành của họ trong hành trình xây đắp xã hội bình đẳng, hạnh phúc.

Cùng thế hệ 7x với các nhà văn nữ như Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư, Tống Ngọc Hân, Nguyễn Hải Yến..., Nguyễn Thị Lê Na cũng quan tâm đến thân phận phụ nữ, nhưng mỗi người có hướng đi và cách khai thác riêng. Với Bể người thăm thẳm, Nguyễn Thị Lê Na vẫn theo đuổi mối quan hệ nam nữ, một đề tài tưởng không còn gì mới và từng in dấu trong những trang viết trước của chị. Song lần này, chị chọn cách đi thẳng vào bản chất đàn ông trong tình yêu, thể hiện cái nhìn tinh tế, tỉnh táo và thấu suốt. Phụ nữ dưới ngòi bút của chị không bị đặt vào vị thế nạn nhân đáng thương mà họ là những cá thể biết đối diện, biết đứng dậy làm lại sau đổ vỡ, mất mát. Trong các cuộc phiêu lưu tình ái, đàn ông thường biện minh, thậm chí đá quả bóng lỗi lầm về phía người phụ nữ, nhưng chính những người phụ nữ mới là những người giữ được phẩm giá. Họ có thể tan nát, bầm dập nhưng vẫn ngẩng cao đầu đi tiếp. Ở điểm này, văn chương của chị đã dứt khoát chối từ cách nhìn phụ nữ như “tha thể” bị sở hữu. Từ vị trí đối tượng để ngắm nhìn, họ vươn lên thành chủ thể đầy kiêu hãnh, tự viết nên câu chuyện đời mình.

Các nhân vật trong Bể người thăm thẳm được họa tạc chân thực với tất cả mâu thuẫn và phức tạp, không bị lý tưởng hóa thành nạn nhân hay cực đoan hóa thành hình mẫu phản kháng. Họ hội tụ đủ các yếu tố, yếu đuối, mạnh mẽ, sai lầm, cao thượng… Cái nhìn đa diện này khiến hình tượng người nữ trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na trở nên sống động, có khả năng chất vấn các chuẩn mực đạo đức và giới tính. Dưới ngòi bút của chị, ranh giới giữa đúng và sai không còn tuyệt đối, chỉ có sự thấu hiểu, lòng khoan dung và ý thức lựa chọn. Tập truyện như là không gian đối thoại dân chủ về giới, đạo đức và quyền cá nhân. Người phụ nữ được lên tiếng như chủ thể tự quyết, khẳng định phẩm giá bằng dũng khí sống thật và quyền lựa chọn con đường riêng của mình.

H.T.A

Nguồn: Báo Văn Nghệ Quân Đội

(Đọc Bể người thăm thẳm, tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na, Nxb Hội Nhà văn, 2025)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm