TIN TỨC

Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-01 22:08:36
mail facebook google pos stwis
147 lượt xem

HOÀNG THỤY ANH

Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị.

 

Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.

1. Thân phận người nữ trong Bể người thăm thẳm được miêu tả với nhiều giác độ phức tạp. Đó là những con người mang dấu ấn tổn thương từ những định kiến giới còn âm ỉ đâu đó và cũng là những cá thể không ngừng đấu tranh đả phá mọi rào cản. Nguyễn Thị Lê Na dẫn dắt người đọc đi vào những xung đột nội tâm, theo dõi quá trình xác tín bản ngã và sự nổi loạn của các nhân vật nữ khi họ chống trả những rào cản tinh thần. Không chấp nhận sự kìm hãm của những thói quen tư tưởng đã thành quán tính, những người phụ nữ của chị kiên quyết đấu tranh giành lấy quyền được lựa chọn, tự mình kiến tạo đời sống và quyết định số phận của chính họ.

Nhiều nhân vật trong tác phẩm mang vẻ đẹp người phụ nữ truyền thống khoan hòa, nhẫn nhịn, tận tâm như Quyên trong Bể người thăm thẳm, “tôi” trong Vần vũ mây trôi hay Miên trong Em đừng đi. Trong thế giới của những người đàn bà này, sự tận hiến dường như luôn tỉ lệ nghịch với hạnh phúc. Nếu Quyên sai lầm khi đánh mất bản ngã trong những chăm chút tỉ mỉ cho chồng từ đôi tất, mảnh áo, thì nhân vật “tôi” lại rơi vào cái bẫy của sự lệ thuộc khi tự nguyện từ bỏ sự nghiệp để lùi về phía sau làm hậu phương. Cả hai đều nỗ lực xây đắp lâu đài hạnh phúc bằng sự hi sinh vô điều kiện, để rồi cuối cùng đều phải nhận về sự phản bội. Còn Miên thì đặt trọn niềm tin vào tình yêu, để rồi vô tình trở thành nạn nhân của sự lừa dối, phải gánh chịu cả nỗi đau lẫn gánh nặng đạo đức không thuộc về mình. Đó là bi kịch muôn thuở của phụ nữ khi phải giấu nỗi đau để giữ yên bề gia thất. Hôn nhân rạn vỡ, bất kể lỗi lầm khởi thủy từ đâu, dư luận vẫn thường nghiêng về trách cứ người vợ. Họ bị buộc gánh lấy thứ đạo lí vốn không thuộc về mình, để rồi sống trong những tổn thương không ngơi, bị tước quyền lựa chọn lẫn quyền cất tiếng nói.

Điểm nổi bật trong thế giới nữ của Nguyễn Thị Lê Na là căn tính đa diện: mềm yếu đan quyện với kiên cường, nhẫn nhịn đi đôi với phản kháng, cảm xúc đối thoại cùng lí trí. Miên trong Em đừng đi mong manh, dễ tổn thương nhưng khi nhận ra mình bị phản bội và cuộc tình đã vô vọng, cô dứt khoát ra đi. Quyết định ấy là cách thoát khỏi nỗi đau, là sự tranh đấu mãnh liệt trước bế tắc, cho dù phải chấp nhận cái giá của sự bơ vơ, cô độc và hiểm nguy. Linh trong Trăng in đáy nước hiện thân kiểu nhân vật tự giải phẫu nỗi đau để bảo toàn danh dự. Cô chọn cách kìm nén bản năng yếu mềm để thực hiện cuộc hoán đổi nghiệt ngã, hi sinh bản thân cứu người yêu, rồi tự lưu đày bản thân để cứu vãn lòng tự trọng. Quyết định rời bỏ Kha là minh chứng cho sự thắng thế của lí trí trước cảm xúc. Cô thà đơn độc còn hơn chấp nhận sự hiện diện tì vết bên cạnh người thương. Sự chọn lựa đớn đau này đã đưa Linh từ vị thế nạn nhân trở thành người làm chủ số phận. Lệ, từ một cái bóng trầm cảm trong Đường trần mấy nẻo, đã cương quyết li hôn, cắt đứt mọi níu kéo để được tái sinh. Chi tiết con mắt giả của Lệ như tượng trưng cho sự trở lại của vẻ đẹp, sự tự tin và thần thái được tôi luyện từ thương đau. Nâu trong Ngày rất dài ban đầu cố gắng nhẫn nhịn hàn gắn ràng rịt tổ ấm, nhưng nỗi ghen tuông và sự hiểu lầm bị dồn nén quá lâu đã biến thành hành động phản kháng dữ dội. Sau cùng, khi nhận ra sự thật, Nâu bình thản đón nhận bản án, hậu quả bằng thái độ cứng cỏi. Có thể thấy Nguyễn Thị Lê Na đã miêu tả, dẫn giải sự vận động, diễn biến tâm lí người nữ khá tự nhiên, logic. Tình yêu và sự hi sinh của họ luôn sóng đôi với lòng tự trọng, còn nỗi đau lại như phép thử hun đúc sức mạnh tinh thần. Chỉ khi đủ bản lĩnh, dũng khí bước qua mất mát, họ mới chứng tỏ được sức mạnh nội tâm và ý thức giữ gìn phẩm giá.

Tập truyện Bể người thăm thẳm còn khai thác số phận người nữ vấp ngã và mắc sai lầm như Quyên trong truyện cùng tên hay “tôi” trong Vần vũ mây trôi. Họ đã tìm đến mối quan hệ ngoài luồng để khỏa lấp khoảng trống tinh thần. Tuy nhiên, cuộc tình vụng trộm ấy chẳng thể cứu vớt họ khỏi bi kịch, ngược lại, còn đẩy họ xuống tầng bi kịch khác, tâm khảm tiếp tục bị giày vò. Nguyễn Thị Lê Na đặt người phụ nữ trong vòng xoáy ấy để họ tự thức tỉnh, tự chất vấn, vì lẽ im lặng, chịu đựng hay nhẫn nhịn chưa bao giờ là thước đo của phẩm hạnh. Họ tái định nghĩa bản thân bằng cách đối diện với những tổn thương, minh chứng mình mạnh mẽ hơn những gì phận số mặc định. Do đó, nhân vật của chị có thể sai lầm, hành động theo bản năng nhưng họ vẫn sống cuộc đời thuộc về chính họ với nhu cầu được thấu hiểu, được lựa chọn và được hiện hữu theo cách mong muốn.

Sự tỉnh thức của nhân vật nữ trong Bể người thăm thẳm không đến từ khoảnh khắc bừng sáng đột ngột mà được hình thành từng chút từng chút qua các vết rạn cõi lòng. Diễn ngôn nữ quyền của tác phẩm đặt trọng tâm vào việc xác lập lại quyền năng của phụ nữ từ những đổ vỡ, tìm thấy bản thể trong khoảnh khắc bị dồn đến giới hạn, chứ không nhờ sự cứu rỗi bên ngoài. Quá trình ấy diễn tiến chậm rãi, qua các biến cố và xung đột, qua những lần họ soi mình trong ánh nhìn của người khác, đặc biệt là con cái. “Tôi” trong Vần vũ mây trôi điển hình cho kiểu người phụ nữ thức tỉnh. Sự giật mình từ ánh mắt con cái đã giúp cô nhận ra mình phải khác, bắt đầu hành trình tìm kiếm công việc, giải thoát nỗi trống rỗng và cô đơn. Ngay cả khi cô vướng vào mối quan hệ ngoài luồng, điều đó cũng bắt nguồn từ mong muốn bù đắp những thiếu hụt trong tâm hồn, coi đó như một phần của hành trình tự khám phá bản ngã. Đây là ngưỡng rẽ nội tâm đánh dấu bước chuyển từ thụ động sang tự thức của các nhân vật nữ. Thức tỉnh, trong thế giới của Nguyễn Thị Lê Na đồng nghĩa với quá trình trăn trở, dằn vặt, ở đó, lí trí và cảm xúc phải diễn ra trận đấu khốc liệt để đi đến lựa chọn cuối cùng. Bởi vậy, những hành động như xóa sạch dấu vết về người đàn ông cũ, rời bỏ mái ấm đã mục ruỗng, tự gây dựng kế sinh nhai hay bước ra khỏi cuộc đời được định sẵn… của người phụ nữ đều cho thấy ý chí hồi sinh bằng mọi giá, bất chấp điểm bắt đầu đầy chông gai và thử thách.

2. Bể người thăm thẳm của Nguyễn Thị Lê Na như nói hộ tiếng lòng người nữ, gửi gắm nỗi niềm của họ về thế giới đàn ông. Chị chỉ ra những gốc rễ gia trưởng đã ăn sâu, gieo rắc biết bao bất hạnh lên cuộc đời người nữ, xoáy vào những góc khuất tâm lí, những hành vi vô thức củng cố quyền lực của phái mạnh, cho người đọc thấy vì sao người nữ vẫn mãi bị dồn vào thế yếu, vần vũ trong bi kịch. Từ đây, câu hỏi về quyền định đoạt bao giờ thôi thuộc về đàn ông vẫn treo lơ lửng như nỗi đau chưa nguôi.

Trước hết, Nguyễn Thị Lê Na phơi bày bi kịch nhân tính của người đàn ông biết yêu thương nhưng cũng dễ dàng phản bội, nồng nhiệt trong khát vọng chiếm hữu nhưng cũng lạnh lùng giây phút quay lưng. Khép lại cuộc tình, cảm giác như trên thân phận người nữ chỉ còn lại vết thương chưa bao giờ kịp liền da. Điển hình là Du trong truyện Em đừng đi, một họa sĩ đã có gia đình nhưng lại tự cho mình quyền quyết định duy trì hay chấm dứt mối tình. Miên, cô gái làng chài có học thức, đã bị cuốn vào mối quan hệ tay ba. Qua trường hợp của Miên, có thể thấy tình yêu như chiếc bẫy đẩy người phụ nữ vào vòng lệ thuộc và bi kịch nếu họ thiếu sự tỉnh táo và độc lập. Tiếp đến là Trung trong truyện Giữa dòng thác, anh ta lén lút qua lại với người khác và chỉ khi Thy phát hiện mới công khai đòi li hôn. Ngay cả cái chết của Trung cũng không đem lại sự giải thoát, trái lại, còn lộ bí mật kinh hoàng, đẩy Thy và Dung vào bi kịch mới. Sự tàn nhẫn, cạn tình của Trung được hiển bày qua những lời lẽ cay nghiệt với vợ: “Chẳng phải cô đến với tôi vì cái cơ ngơi này? Thì đấy, cô sẽ được ấm thân…” Cách hành xử của người đàn ông chứa đựng sự vô cảm và thói quen đổ lỗi cho phụ nữ, coi họ như công cụ để thỏa mãn bản thân.

Để thể hiện quyền lực, một số nhân vật nam không ngần ngại dùng đến bạo lực và áp chế. Quang trong Trăng in đáy nước lợi dụng tiền bạc, quyền thế coi phụ nữ như món hàng. Hắn khoe khoang “chưa có cô nào anh để mắt mà thoát được”, rồi dùng thủ đoạn hèn hạ ép buộc Linh “qua đêm” và quay video làm bằng chứng cưỡng ép. Câu nói “nghề của em chỉ là... mát xa mát gần...” đã hàm chứa sự coi thường, khinh miệt đối với công việc của Linh nhưng cũng đồng thời lột trần sự tha hóa nhân cách của hắn. Trong truyện Bể người thăm thẳm, Phương cũng từng dùng những lời lẽ mạt sát Quyên. Thái độ tàn nhẫn của hắn, cộng với lỗi lầm riêng của Quyên, đã đẩy cô vào bi kịch, bị bạo hành tinh thần, phải vật lộn với nỗi đau triền miên. Không riêng gì Quyên mà gia đình nhỏ của họ cũng bị trói chặt trong bầu không khí nặng nề, ngột ngạt. Sự độc đoán còn được đẩy đến cực đoan ở Hiếu trong Đường trần mấy nẻo. Dưới vỏ bọc “thanh niên trắng trẻo thư sinh”, Hiếu lại ngoại tình và bạo hành vợ. Anh ta từ chối li hôn chỉ vì bản tính ích kỉ và lòng ham muốn chiếm hữu. Lời tuyên bố “làm cho tan vàng nát ngọc, để Lệ thân tàn ma dại khi bước ra khỏi nhà này, và không có thằng đàn ông nào thèm nhìn lại Lệ nữa...” làm chứng cho tư tưởng gia trưởng độc đoán, không ăn được thì đạp đổ, sẵn sàng hủy hoại người phụ nữ khi anh ta không thể kiểm soát.

Trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na, nhiều người đàn ông bước vào mối quan hệ với vẻ ngoài tử tế, quan tâm, khiến phụ nữ ngỡ rằng họ có thể tựa vào khi chông chênh, khi tột cùng đớn đau. Thế nhưng, khi đã chiếm được tình cảm của người phụ nữ, lớp mặt nạ ấy nhanh chóng rơi xuống, để lộ sự hèn nhát, thờ ơ và thói quen trốn chạy trách nhiệm. Nam trong Vần vũ mây trôi thoạt tiên như vị cứu tinh cho nhân vật “tôi”, vậy mà khi “tôi” báo tin có thai, chỉ bằng câu đáp hờ hững “Ừ… Thế hả?” bao nhiêu sự lạnh nhạt, bạc nhược và trơ tráo của hắn trổ ra hết. Du trong Em đừng đi cũng chẳng khác, sau dáng vẻ lãng tử của người họa sĩ là bản chất yếu đuối, thờ ơ, mặc kệ Miên lạc lối trong bế tắc. Những nhân vật này gợi lại bi kịch quen thuộc, niềm hi vọng của phụ nữ sẽ sụp đổ khi đặt nhầm vào người đàn ông thiếu bản lĩnh, điều từng xuất hiện trong nhiều tác phẩm của các cây bút nữ. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Lê Na không phóng đại hiện thực, chị dùng giọng kể tiết chế, ngôn ngữ uyển chuyển để khoảng cách giữa vẻ ngoài lịch lãm và phần lõi bên trong tự nó bật phô, đối kháng. Hình tượng người đàn ông trong tác phẩm của chị có thể xem như tấm gương phản chiếu những rạn nứt âm thầm trong quan hệ giới.

Nguyễn Thị Lê Na còn đưa vào truyện hình ảnh người đàn ông lớn tuổi với nhiều giới hạn, xuất phát từ tình thương mà hành động. Ông Mạnh là người cha yêu con, có trách nhiệm, nhưng trong cách nghĩ và hành động lại in đậm tư tưởng gia trưởng. Với mong muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình và tương lai của con, ông sắp đặt cuộc hôn nhân giữa Thy và Trung, xem Thy như điểm tựa để “kế nghiệp” cơ đồ. Việc thuê người dọa nạt Dung tuy có phần quá đáng song căn nguyên của nó là khát vọng bảo vệ mái ấm. Chính sự yêu thương pha lẫn kiểm soát ấy đã vô tình đẩy Thy vào nỗi oan ức suốt gần hai mươi năm và tước đi quyền lựa chọn đường đời của cô. Khi sự việc đã rõ trắng đen sau cái chết của Trung, ông Mạnh mới “cởi được tấm lòng” và gửi lời xin lỗi muộn màng. Lời xin lỗi đến sau bao sóng gió vẫn chứng tỏ những gì ông làm đều vì tình thương con. Nhân vật ông Mạnh vì vậy mang dáng dấp của con người đầy mâu thuẫn, có sai lầm vẫn chan chứa nhân bản. Sự đối sánh với hình tượng tích cực như Cần trong Đường trần mấy nẻo cũng đem đến cái nhìn đa chiều về đàn ông trong văn xuôi của Nguyễn Thị Lê Na, để từ đó chị nhấn mạnh trách nhiệm và vai trò đồng hành của họ trong hành trình xây đắp xã hội bình đẳng, hạnh phúc.

Cùng thế hệ 7x với các nhà văn nữ như Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư, Tống Ngọc Hân, Nguyễn Hải Yến..., Nguyễn Thị Lê Na cũng quan tâm đến thân phận phụ nữ, nhưng mỗi người có hướng đi và cách khai thác riêng. Với Bể người thăm thẳm, Nguyễn Thị Lê Na vẫn theo đuổi mối quan hệ nam nữ, một đề tài tưởng không còn gì mới và từng in dấu trong những trang viết trước của chị. Song lần này, chị chọn cách đi thẳng vào bản chất đàn ông trong tình yêu, thể hiện cái nhìn tinh tế, tỉnh táo và thấu suốt. Phụ nữ dưới ngòi bút của chị không bị đặt vào vị thế nạn nhân đáng thương mà họ là những cá thể biết đối diện, biết đứng dậy làm lại sau đổ vỡ, mất mát. Trong các cuộc phiêu lưu tình ái, đàn ông thường biện minh, thậm chí đá quả bóng lỗi lầm về phía người phụ nữ, nhưng chính những người phụ nữ mới là những người giữ được phẩm giá. Họ có thể tan nát, bầm dập nhưng vẫn ngẩng cao đầu đi tiếp. Ở điểm này, văn chương của chị đã dứt khoát chối từ cách nhìn phụ nữ như “tha thể” bị sở hữu. Từ vị trí đối tượng để ngắm nhìn, họ vươn lên thành chủ thể đầy kiêu hãnh, tự viết nên câu chuyện đời mình.

Các nhân vật trong Bể người thăm thẳm được họa tạc chân thực với tất cả mâu thuẫn và phức tạp, không bị lý tưởng hóa thành nạn nhân hay cực đoan hóa thành hình mẫu phản kháng. Họ hội tụ đủ các yếu tố, yếu đuối, mạnh mẽ, sai lầm, cao thượng… Cái nhìn đa diện này khiến hình tượng người nữ trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na trở nên sống động, có khả năng chất vấn các chuẩn mực đạo đức và giới tính. Dưới ngòi bút của chị, ranh giới giữa đúng và sai không còn tuyệt đối, chỉ có sự thấu hiểu, lòng khoan dung và ý thức lựa chọn. Tập truyện như là không gian đối thoại dân chủ về giới, đạo đức và quyền cá nhân. Người phụ nữ được lên tiếng như chủ thể tự quyết, khẳng định phẩm giá bằng dũng khí sống thật và quyền lựa chọn con đường riêng của mình.

H.T.A

Nguồn: Báo Văn Nghệ Quân Đội

(Đọc Bể người thăm thẳm, tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na, Nxb Hội Nhà văn, 2025)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm