TIN TỨC

Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-29 12:01:21
mail facebook google pos stwis
26 lượt xem

TRẦM HƯƠNG

Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An. Cuộc hành quân tìm diệt bằng trực thăng năm ấy, lính Pắc-chung-hy đã giết 41 người, làm 62 phụ nữ và 25 trẻ em bị thương. Năm ấy (2000), trên chiếc tắc ráng dưới lòng kênh, tôi thật ấn tượng trước hình ảnh chị Du Thị Đông đang ngồi ngoài cầu cao chùi trắng hàng tá xoong nồi bằng mỏm tay cụt cùng cánh tay còn lại của chị. Và cũng thật ấn tượng cách chị Tư đâm xuồng vào cầu ao mừng rỡ reo lên: “Nó, con Bảy Đông đó! Thiệt may là nó có nhà”... Thật may là chị còn khỏe mạnh, vẫn còn nhớ ra tôi. Chị mừng rỡ làm cá lóc, nấu canh chua đãi khách thuần thục chỉ bằng một cánh tay. Ngôi nhà chị giờ thay đổi quá nhiều. Đến thăm chị, tôi đi bằng đường xe hơi có định vị. Còn đang lóng ngóng nhìn dòng kênh xưa giờ nước đổ về đầy và rộng hơn, người hàng xóm sốt sắng chỉ đường: “Cô đến nhà bà cụt tay hả? Ở đây, qua cây cầu là tới liền, chỗ bia thảm sát đó!”.

TỪ NỖI ĐAU KHÓ THỂ NGUÔI NGOAI…

Tác giả và chị Bảy Đông trên Cánh đồng 41 giờ phủ đầy lúa thơm...

Thật lòng, tìm về Tân Hòa (nay thuộc xã Tân Thạnh, Tây Ninh), tôi chỉ muốn thăm chị Bảy Đông sau nhiều năm không gặp. Tôi không muốn nghe chị kể chuyện bị thảm sát trên Cánh đồng 41 nữa. Nhưng đồng lúa lao xao vẫn ùa về nỗi đau muốn quên mà vẫn khắc sâu vào tâm khảm người còn sống. Năm ấy, nhà mẹ Thạnh bị giết chết 11 người, chỉ có chị Bảy Đông là còn sống sót. Đôi mắt đen của chị vẫn sâu thẳm nỗi buồn. Chị kể mẹ sinh chị vào một ngày mùa Đông năm 1958, ầm ào gió chướng. Ngày chị chào đời, cha không có nhà, ông đang cùng một số cán bộ, du kích thời chống Pháp lập “Bộ đội Trâm bầu”. Đó là một đơn vị vũ trang hình thành rất sớm để chống lại sự tàn bạo của Mỹ - Diệm. Những người chiến sĩ lấy cây trâm bầu làm vũ khí bảo vệ Nhân dân. Tên gọi “Bộ đội Trâm bầu” ra đời từ đó. Và để trả thù cho những mưu toan “bình định” liên tiếp bị thất bại, nhằm cắt đứt mạch máu giao thông, tiếp tế của Cách mạng từ phía biên giới Campuchia về các tỉnh miền Trung Nam bộ, quân Mỹ và chư hầu Pắc-chung-hy đổ quân xuống cánh đồng Kiến Tường (nay thuộc huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An và một phần Hậu Bắc Mỹ, Cái Bè, Mỹ Tho, nay là Tiền Giang). Năm ấy, đối với cô bé Du Thị Đông mới lên 8 là một ngày định mệnh, không chỉ với riêng gia đình chị mà còn cả hàng chục gia đình trên cánh đồng Tân Hòa kéo dài qua Hậu Bắc Mỹ...

Hôm ấy, mẹ cô bé Đông, bà Phạm Thị Thạnh (Chín Liềm) ra đồng từ sáng sớm để cắt lúa. Cô bé Đông chơi đùa cùng hai em Thu, Mười và hai cháu Hà, Hải. Cô bé nặn hình trâu, bò, gà, vịt… bằng nắm đất sét trên tay. Những đứa trẻ cười lên nắc nẻ vì những hình thù ngộ nghĩnh trên tay cô bé Đông. Từ đồng lúa, mẹ Thạnh quan sát toán quân hung hăng chui ra từ những chiếc trực thăng, tỏa đi về phía những ngôi nhà. Bộ dạng chúng có gì đó khang khác, hung hăng hơn thường ngày. Rồi những tràng súng nổ chát chúa, tiếng la khóc vang lên khắp cánh đồng. Một linh tính thoáng qua khiến người mẹ rùng mình ớn lạnh. Mẹ quăng lưỡi liềm, cắm đầu chạy một mạch về nhà. Trông thấy đàn con: Phụng, Hoàng, Thu, Đông, Bé Mười, 2 cháu ngoại Hà, Hải và 4 đứa cháu họ đứng lố nhố trong nhà, mẹ Thạnh hốt hoảng hét lớn: “Xuống hầm, lẹ lên!”. Rồi không cần đợi lũ con cháu phản ứng, mẹ đẩy từng đứa xuống tăng-xê. Mẹ xuống sau cùng, lấy thân hình án ngữ miệng hầm, sẵn sàng che chở cho bầy trẻ. Nhưng đã muộn… Những tên lính chư hầu đã sầm sầm nện gót giày đinh càn vào mái nhà tranh bé nhỏ. Tên đi đầu trong bộ quần áo rằn ri của biệt kích, mặt lầm lì, lạnh lẽo, giương đôi mắt trắng dã hằn những tia máu đỏ ngầu quát hỏi bằng thứ ngôn ngữ xa lạ: “V.C! V.C ?!”. Chúng xí xô xí xào những âm thanh man dại, rồi chĩa súng xuống miệng hầm. “Không, không, chúng tôi là thường dân! Đừng bắn, lạy các ông, đừng bắn!”. Mẹ Thạnh gào lên thống thiết. Có tiếng khóc của cháu Hải vang lên, rồi tiếp theo là những đứa trẻ khác. Chúng dùng súng lùa tất cả ra ngoài, cho ngồi cặp bờ đìa (ao). Lũ trẻ sợ đến nỗi không còn khóc được nữa, giương những đôi mắt trẻ thơ nhìn bọn người trong những bộ quần áo vằn vện, súng, lưỡi lê lăm lăm trên tay, lớp đeo ngang hông tua tủa. Gương mặt những tên giết người như được phủ lên lớp chì đen tối, chúng lầm lì chĩa súng. Mẹ Thạnh hốt hoảng ôm lấy đứa con nhỏ và đứa cháu ngoại vào lòng… “Đùng, đùng…”, tiếng súng vang lên. Rồi tất cả chìm trong im lặng. Khi những thân hình đổ gục, chúng bỏ đi. Gót giày đinh của chúng dẫm đạp lên luống rau trước nhà, dẫm nát lên những con trâu, bò, gà, vịt mà cô bé Đông vừa nặn lúc nãy. Chốc chốc, từng tràng súng vang lên từ những mái nhà tranh ở ấp Tây, hòa trong tiếng thét gào. Rồi im lặng. Rồi từng tràng súng lại vang lên… Điệp khúc đầy mùi tử thần ấy ngự trị khắp cánh đồng Tân Hòa trong buổi sáng định mệnh năm ấy. Tàn cuộc: 41 người bị giết, 62 phụ nữ và 25 trẻ em bị thương. Riêng ngôi nhà mẹ Thạnh, 11 người bị sát hại. May mắn thay, cô bé Đông là người duy nhất còn sống sót trong ngôi nhà này…

Chung quanh cô bé Đông là những người thân đã ngã xuống đìa, ngổn ngang, đầm đìa máu. Một nỗi sợ hãi khác xâm chiếm cô bé, nỗi sợ còn ghê gớm hơn khi phải nhìn thấy lũ giết người là sự mất mát. Vây quanh Đông là những xác người ngổn ngang, máu và máu. Người cô bé ướt đầm máu. Máu từ vết thương cô. Máu bắn ra từ những người thân xối lên người cô. Cô bé biết mình thoát chết vì chúng nghĩ rằng cô đã chết. Nhận thức ấy khiến cô bé run rẩy khi nghĩ lũ giết người có thể sẽ quay trở lại. Trí khôn của đứa bé lên 8 mách bảo cô bé phải rời khỏi đây ngay. Đông với tay nắm lấy một gốc cây với ý định bò lên bờ, trốn xuống hầm nhưng nghe đau nhói nửa bên mình. Lúc ấy, Đông mới biết mình bị thương ở bàn tay trái. Cố gắng hết sức, cô mới leo lên khỏi miệng đìa, nhích từng bước bằng cánh tay còn lại bò vô tăng - xê. Cánh tay sưng vù, bầm tím rất nhanh, Đông ngất đi… Mãi cho đến 5 giờ chiều cô bé mới tỉnh dậy. Ông Du Quang Minh lúc ấy mới lần về nhà tìm con. Ông mừng rỡ khi nhận ra Đông chỉ bị thương vào bàn tay trái. Cánh tay Đông đã bị nhiễm trùng sưng tấy lên. Người Đông nóng hầm hập. Cô bé rơi vào hôn mê…

Hàng chục năm sau ngày tang tóc ấy, chị Bảy Đông ngắm mỏm tay cụt của mình, ngậm ngùi nói: “Lẽ ra với điều kiện y học thời đó, bàn tay tôi không đến nỗi bị cắt. Nhưng… cha tôi bị địch lùng sục, không thể đưa tôi đi bệnh viện. Bác Tư tôi bị đặt ngoài vòng pháp luật của chính quyền cũ nên khi đưa tôi đến Bệnh viện Mỹ Tho, ông phải trốn đi. Vết thương nhiễm trùng, không người thăm nuôi, vậy là…”. Sau trận thảm sát, cô bé Bảy Đông không còn tuổi thơ nữa. Mất mẹ, mất quá nhiều người thân, người cha là chỗ dựa cuối cùng. Những năm đó, cha trốn đâu, chị đi theo đó. Bên cạnh cha, chị trở thành một chiến sĩ giao liên, bảo vệ, cấp dưỡng không chính thức. Chị lớn lên trên chiến trường ác liệt, cùng cha bám lại cánh rừng xơ xác vì chất độc hóa học phát quang. Chị quen dần với bom napalm, bom lân tinh sáng ngời như những đốm lửa ma trơi lập lòe trong bóng tối. Chị biết cách khoanh vết thương bom lân tinh bằng nước mắm. Chị biết tránh những vệt rừng cháy bằng phốt-pho để đi liên lạc… Nhưng cuối cùng, chị không tránh được điều mà chị sợ hãi nhất. Năm 1971, người chị thân yêu duy nhất còn lại là Du Thị Hồng hy sinh trên đất Campuchia. Năm 1972, cha chị hy sinh trên đường đi công tác...

Chiến tranh đã cướp đi tuổi thơ, cướp đi một phần thân thể, tước đoạt tất cả những người thân của chị. Vào ngày giỗ mẹ, chén cơm thơm ngát mùi gạo mới đặt lên bàn thờ cúng mẹ ướt đầm nước mắt của chị Đông. Năm ấy, mẹ Thạnh ngã xuống, ôm con và đứa cháu nhỏ vào lòng mà bụng còn đói vì ra đồng cắt lúa mà chưa kịp ăn bữa cơm sáng. Mẹ Thạnh ngã xuống, quá bất ngờ, quá tức tưởi trước họng súng đen ngòm, không hề nghĩ mấy mươi năm sau mình trở thành Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Cha hy sinh, chị đi dân công hỏa tuyến mang vác đạn ra chiến trường. Hòa bình, chị trở về cánh đồng thấm máu năm xưa, chỉ với một cánh tay trồng lúa, xây lại ngôi nhà đổ nát... Vì quá thiếu tình cảm, cô gái mồ côi Du Thị Đông đã dồn hết tình thương cho chồng, cho con. Nhưng hạnh phúc không mỉm cười với chị, người chồng bỏ đi, để lại hai con còn thơ dại. Với cánh tay còn lại và trái tim tan nát, chị đã dũng cảm đứng lên bằng nghị lực phi thường để bám trụ lại mảnh đất đau thương này. Chị cột lưỡi liềm vào bàn tay cụt cắt lúa. Bàn tay chị thoăn thoắt như múa trên cánh đồng. Chị chăm sóc, vỗ về, cho con bú bằng cánh tay còn lại và bầu sữa dạt dào tình mẫu tử. Chị chùi xoong nồi ngoài cầu ao bằng một cánh tay. Gian bếp nhà chị, xoong nồi sạch bóng như gương mà khi nhìn vào, ngay cả những phụ nữ lành lặn hai tay còn phải hổ thẹn… Cứ như vậy, chị bước đi giữa cuộc đời, chân bám chặt vào cánh đồng ấp Tây, đạp bằng những đổ nát, gai góc để một lần nữa vượt lên đói nghèo, để có được ngôi nhà khang trang, để nuôi con khôn lớn. Nghe nói trước đó chị có làm tay giả, nhưng nó vướng víu, chị quẳng sang một bên, cứ mỏm tay cụt mà làm lụng...

… ĐẾN NIỀM VUI NGÀY TRỞ LẠI

24 năm sau, tôi về Cánh đồng 41, ngỡ ngàng trước bao điều thay đổi. Năm 2018, chị Bảy Đông hiến 1 công đất xây Bia tưởng niệm Cánh đồng 41. Chị kể về nỗi đau của mình khi dịch Covid-19 cướp đi đứa con trai đầu: “Cái thằng em chụp ảnh mấy mươi năm trước đó, nó chết, chị buồn đau, đổ bệnh cả năm trời, giờ mới đỡ hơn chút”. May mắn chị còn đứa con trai út Huỳnh Đông Hồ hiếu thảo, siêng năng. Vườn mít quanh nhà em trĩu quả. Tôi hỏi chị: “Bờ xôi ruộng mật vầy, hiến 1 công đất chị có tiếc không?”. Chị thật thà nói: “Đất quý vì thấm mồ hôi và máu. Nhưng không tiếc vì bia tưởng niệm đó nhắc cháu con chuyện 41 người đã ngã xuống để giữ đất. Chú Trương Tấn Sang vận động Binh đoàn 16 xây tấm bia tưởng niệm này. Hồi xưa phía Tiền Giang xây bia căm thù ở Hậu Mỹ Bắc, nhưng giờ ở đây, chú nói nên đề bia tưởng niệm cho bớt nặng nề...”. Chị ôm tôi, nước mắt chảy tràn vì quá bất ngờ khi tôi xuất hiện trước ngôi nhà chị. Tôi nghẹn ngào nói với chị rằng tôi cám ơn cuộc sống biết bao. Những chuyến đi đã cho tôi gặp những nhân chứng chiến tranh, những con người lạ lùng kỳ diệu để có được những trang viết thấm đầy số phận con người. Tôi kể năm 2019, khi được sang thành phố Deagu, Hàn Quốc giới thiệu tập thơ “Cây tâm hồn”, gồm 30 nhà thơ Hàn và Việt, có ngài thị trưởng đến dự, đoàn Việt Nam được các bạn Hàn đón tiếp nồng nhiệt, đưa đi thăm nhiều nơi, rất nhiệt tình. Lúc ấy, câu chuyện thảm sát ở Cánh đồng 41 cùng hình ảnh chị Du Thị Đông chùi xoong nồi ngoài cầu ao bằng cánh tay cụt của mình hiện về khiến tôi viết nên bài thơ “Tình Deagu”. Buổi chia tay, tôi đọc bài thơ cho những người bạn Hàn nghe. Tôi đã khóc vì xúc cảm dâng trào. Giờ tôi lại rơi nước mắt vì hạnh phúc khi mang “Tình Deagu" về Cánh đồng 41 đọc cho chị Bảy Đông nghe...

 “... Tôi biết đằng sau sức mạnh chiến tranh cuốn đi nhiều thứ

Là lời tạ lỗi cánh đồng

Giờ phủ đầy lúa thơm...”

Chị nói những người bạn Hàn của Quỹ Hòa bình Hàn - Việt đã đến Cánh đồng 41 thắp hương. Các bạn hứa sẽ xây đường, xây cầu, nói lời tạ lỗi quá khứ. Tôi lại rưng rưng nhìn chị chùi xoong nồi ngoài cầu ao bằng mỏm tay cụt của mình. Vâng, vẫn như 24 năm trước tôi tìm về Cánh đồng 41, chị Bảy Đông vẫn với chất giọng trầm ấm, điềm tĩnh, đôn hậu kể chuyện ngày ấy và hôm nay. Bây giờ, nhiều đoàn Hàn Quốc đến thăm Cánh đồng 41 này, nên việc di dời những người bị thảm sát chôn ở đây từ nhiều năm trước về gần nhà là việc chị phải làm. Gia đình không còn ai, chị sống thay những người nằm xuống, quyết phủ lên cánh đồng Tân Hòa này màu xanh no ấm. Tôi hỏi cảm xúc của chị về những đoàn Hàn Quốc khi đến đây, chị nói giản dị: “Hồi đó là chiến tranh nên khác, giờ hòa bình rồi phải khác. Chị không bao giờ muốn có chiến tranh. Bia tưởng niệm xây là để nhớ lịch sử, nhưng hận thù phải quên. Không thể căm thù những người đến với mình bằng lòng lành, đến để hàn gắn, tạ lỗi”. Chị lại nói nhiều về chuyện làm ăn. Tôi hỏi bí quyết nào một mình chèo chống làm kinh tế gia đình giỏi, nuôi con ngoan vậy. Mắt chị thoáng ánh buồn: “Chị rất muốn con học cao, nhưng tụi nó yêu đất quá, mà cũng một phần vì thương chị có một mình nên nghỉ học sớm, giúp chị canh tác. Chị không vui nhưng rồi nghĩ nếu đã là nông dân thì phải là nông dân giỏi. Chị chẳng có bí quyết gì, đơn giản là làm cái gì cũng phải đến nơi đến chốn. Mình yêu đất, yêu cây thì phải lắng nghe cây, đất cần gì để chăm chút, đáp ứng điều chúng mong đợi, như chuyện bón phân phải đúng thời điểm để đòng lúa xanh tươi, trĩu hạt. Mình phải xịt thuốc đúng lúc để lúa xanh tươi... Bởi vậy, thấy ba tụi nhỏ cứ cà kê, mình hối thúc ổng xịt thuốc, rải phân, ổng quạu, rồi vợ chồng lớn tiếng, ổng đi biệt tới giờ. Thôi, ai đi thì đi, tôi ở lại, một mình chèo chống nuôi con. Con trai chị lớn lên giỏi nghề nông, đã đỡ đần phần lớn công việc để vai mẹ nhẹ gánh. Chị và con trai bàn với nhau mùa mưa này sẽ múc đất đắp ao để trồng mít. Cầm trên tay trái mít nặng trĩu, chị hồ hởi nói: “Nghề nông cũng cần sự linh hoạt, cần liệu sức mình. Chị nói với thằng Hồ đừng ham trồng sầu riêng vì phải chăm sóc nhiều, phải tác động thuốc men; trong khi mít dễ trồng, chỉ cần bón phân đúng lúc, bao trái để tránh sâu. Một ký mít giá 40 ngàn, như trái mít này hơn chục ký, mà một cây mít cũng hơn 10 trái. Cây trồng cũng đừng tham ken dày quá, cứ cách nhau 3 thước để đất còn thở, cây cũng được nắng gió chan hòa, không tranh giành che khuất nhau. Cây mít lại cho trái quanh năm...”.

Nghe chị nói mà mê, tôi được truyền cảm hứng nghề làm nông, ước gì mình cũng có một vườn mít ở Tân Hòa! Vâng, chan hòa, hòa hợp, tất cả đều được đón nắng gió, không che khuất ai để tận hiến và hạnh phúc. Triết lý của chị Bảy Đông, cô bé sống sót trên cánh đồng 41 năm nào, giản dị đến nao lòng!

 T.H

Chị Bảy Đông và con trai Huỳnh Đông Hải trên cánh đồng 41 năm 2000. Em mất năm 2021 trong dịch Covid-19...

Giờ tôi lại rơi nước mắt vì hạnh phúc khi mang “Tình Deagu” về Cánh đồng 41 đọc cho chị Bảy Đông nghe...

Tôi lại rưng rưng nhìn chị chùi xoong nồi ngoài cầu ao... 

Chị Bảy Đông trên cánh đồng 41, năm 2024

Chị Bảy Đông cùng con trai út Huỳnh Đông Hồ, dâu và cháu nội... trước bia tưởng niệm cánh đồng 41...

 

Con trai út Huỳnh Đông Hồ đưa mẹ và tôi đi thăm cánh đồng 41...

 

Bà mẹ VNAH Phạm Thị Thạnh, có chồng và con gái hy sinh. Gia đình mẹ 11 người con, cháu bị thảm sát...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm