TIN TỨC
  • Truyện
  • Nghĩa tình người dưng – Truyện ngắn Phùng Chí Cường

Nghĩa tình người dưng – Truyện ngắn Phùng Chí Cường

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-29 15:52:13
mail facebook google pos stwis
263 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cái Cẩm kể xong câu chuyện lúc nào Xoảng cũng không hay, không gian thì vẫn im lặng như tờ. Quay sang Cẩm, Xoảng thấy nó gục mặt vào hai lòng bàn tay, nó cứ nấc lên nghẹn ngào mà khóe mắt không thấy rỉ ra giọt nước mắt nào. Cũng chả biết nữa, có lẽ nước mắt của cái Cẩm đã lận hết vào bên trong rồi. Còn với Cẩm, tự nhiên nó cảm thấy người đàn ông ngồi cạnh nó lúc này sao mà gần gũi thế. Nhưng dù sao anh ta cũng chi là người dưng thôi!...

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Ông chủ thầu bận việc coi sóc công trình béo bở hơn tận dưới Quảng Ninh. một vài công trình phụ ở Hà Nội ông giao cho cô vợ trẻ chả biết tý gì về xây dựng trông nom. Chỉ mấy hôm tiếp xúc, anh thợ cả Chớp bắt được quả tóm cô ả đong đưa lúng liếng. Anh lẳng quả tình, ả vắng chồng ham của lạ bập luôn. Được thể anh Chớp tiêu tiền như ném qua cửa sổ. Xong hợp đồng xây cái tường bao và láng mấy trăm mét sân ở một trường đại học, anh Chớp để ra một túi xách tiền. Từ đấy anh tách ra nhận thầu riêng. Thế là tiền của người, thợ thì lấy ở quê, sức quê vốn rẻ, anh Chớp phất lên như diều gặp gió. Khi về làng anh thường đeo cặp kính tối, hai cái gọng kính to bè bè vắt từ đuôi mắt nhoằng lấy vành tai. Quần áo thì mặc cả cây bò, trông cứ như nhân vật “bố già” trong phim mafia của Ý. Mỗi lần cái xe “buôn nhột” to đoành của anh ẻn ẻn rẽ vào cổng làng, bọn trẻ con rần rần xô nhau đuổi theo. Nói nhỏ:…Các cụ cao niên trong làng Chim Cò này bây giờ mỗi khi găp anh Chớp, tự dưng lại thưa với bẩm, thế mới chết chứ!

… Xoảng là người ở cùng ngõ với nhà anh Chớp, mẩm bụng: ”Phải sang nhờ bác Chớp kiếm cho tý việc làm mới xong, chả nhẽ hàng xóm với nhau bác ấy chả giúp mình, công việc gì cũng được, miễn là có thêm tý tiền để mua ít ngô khoai lấp vào mấy tháng giáp hạt, chứ cái ngữ mình học nghề sao nổi mà đòi rút chân ra khỏi đồng ruộng!”. Trong nhà anh Chớp tối nay sao đông người thế, đèn măng xông thắp sang choang ra cả ngoài sân. Xoảng định quay về thì chợt anh Chớp nhìn thấy gọi lại: “Vào đây đã nào…gớm, sao thế?”. “Dạ em có tý việc muốn sang nhờ ông bác!”. “Cứ vào đây uống chén rượu, ăn điếu thuốc đã!”. Chớp chìa gói thuốc ba số 5, sau khi kéo Xoảng ngồi xuống bộ trường kỷ đen bóng, kê hơi lố ra ngoài hè. Vợ Xoảng thập thò chờ mãi ở ngoài cổng, một lúc sau mới thấy ông chồng lêu đêu của mình đứng dậy. Nghe anh Chớp cười rờn rợt, vợ Xoảng cảm thấy nhồn nhột như bị ai đó cù vào nách. “Thôi cứ yên tâm, khi nào có tin thì phải xuống ngay nhớ chửa. Xuống đó anh sẽ chiêu đãi chú một chầu tắm rửa.”. Nói xong anh Chớp lại phá lên cười. Xoảng nghĩ: “tắm rửa thì có gì phải mời nhỉ. Cứ như mời đi ăn cỗ vậy!”.

Gần một tháng sau khi nhận được tin báo, Xoảng có mặt trước một ngôi nhà bốn tầng xây ở ngoại vi thành phố. Ngôi nhà chi chit cửa sổ như chuồng chim bồ cu, ở trên có quả cầu bằng sắt không rỉ quay nhoắng nhoằng. Anh bạn mà Chớp gửi gấm Xoảng cho, lạnh lùng hất hàm rồi nói một lô xích xông, Xoảng nghe tối cả mặt mà chả nhớ gì, chỉ đại loại toàn là điều cấm; “Ông trông nhà cả ngày lẫn tối, cấm được ra ngoài. Cấm cho người lạ vào nhà. Đồ đạc ở đâu để nguyên đó, cấm xê dịch. Ăn cơm bụi, nước cũng bụi, cấm không được bật bếp ga nấu nướng…!”. Xoảng nghĩ “Cấm gì mà lắm thế, cứ như ở trên thiên đình không bằng. Không vì miếng cơm manh áo thì cái vilo này có các vàng, đây cũng chả thèm bước qua cửa. Đừng tưởng ở nha to mà ham!”. Tức tối trong người dâng lên đầy họng. “Đó là luật chơi ông anh hiểu chửa. Tôi trả tiền sòng phẳng, ông anh phải đáp ứng những gì tôi dặn, nếu được thì ở chơi trông nhà, còn không thi phắn cũng chả sao cả!”. Nói vậy nhưng anh ta vẫn xoa xoa vào vai Xoảng đấu dịu: “Gắng lên. Chỗ thân quen, đây tin tưởng cái lão Chớp “mèo mù vớ cá rán” kia tìm người hộ. Chỉ hơn tháng nữa bà chủ sẽ về, lúc ấy có xin ở lại cũng không dám đâu nha!”. Nói xong gã ngoác miệng cười hô hố trông rõ là du côn. Gã còn giơ chân đạp mạnh cánh cổng đánh rình một cái, rồi phóng xe đi thẳng không bỏ lại được câu chào.

Xoảng ngội bệt xuống bậc thềm, một cơn gió hầm hập nổi lên, cuốn theo bụi cát mù mịt…Bộp! một cục phân chim từ góc tường tấng 3 rơi bẹt xuống đầu. Bất giác Xoảng lấy tay vuốt vuốt. “Khỉ thật, mấy con chim sẻ sao lại nhằm trúng đâu tao mà bậy!”. Xoảng bực dọc vãy vãy cổ tay, cục phân chim bắn toẹt vào tường. Xoảng đứng dậy bước vào nhà, vừa đi vừa nghển cổ ngó ngó nghiêng nghiêng, cứ như đang khám phá vương quốc Ruxipút của thế giới người khổng lồ. Mọi thứ bên trong đều mới toanh, bóng loáng có thể soi gương được, tất cả dường như chỉ để trưng để ngắm mà thôi…Xoảng nằm xuống chiếc giường trong căn phòng thụt thò rộng bằng hai cái chiếu đôi. Bắt tay lên trán ngẫm nghi vẩn vơ rồi thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng tiếng chuông nhà thờ xóm giáo ở bên kia sông ngân lên róng riết, mấy con Dơi đang ngủ giật mình, tuột khỏi góc tường rơi bịch xưống nến nhà làm Xoảng tỉnh giấc. Từ hôm đó Xoảng chỉ có việc quay ra lại quay vào, quyét dọn lau chùi mấy cái cầu thang cùng số đồ đạc ngổn ngang trong các phòng, rồi đi tưới vài chục chậu cây cảnh trên sân thượng…

Mười hôm sau anh chàng đưa Xoảng đến lại đoảng qua, anh ta đỗ xe máy ngoài cổng rồi bấm chuông loạn xị. Xoảng lao từ trong nhà ra mở cổng. Hắn ta hất ngược cặp kính đen kít lên đỉnh đầu, nhìn Xoảng rồi nhếch mép cười khó hiểu. Không nói câu nào, hắn lại cùng chiếc xe bành bạch vù ga mất hút về phía đầu ngõ, bỏ lại một đụn khói đen ngòm.

Tròn một tháng: “Thế là chết mình rồi!” Xoảng rên lên não nuột, nghĩ lại mới biết mình đã bị lừa. Tự dưng lại trở thành người gác miếu không tiền mới chết chứ. May có ít lưng vốn mượn tạm của bà Sáu Thẹo bán thị lợn ở đầu làng trước khi xuống đây, nếu không thì chết đói cũng nên.

Bốn mươi ngày nữa trôi qua, Xoảng như người đi tu mà không phải tu thật. Rồi một hôm Xoảng nhận đưực cái giấy bưu điện báo: “Các con về ngay, bố mệt lắm, sắp mất” ký tên Đoàn Oe. Xoảng túm anh bưu điện lại: “Này, bác có nhầm không đấy?”. “Nhầm gì, đúng số nhà đúng ngõ, sao sai được!”. “Nhưng mà …tôi đâu phải chủ nhà”. Anh bưu điện nhìn Xoảng ái ngại. “…nếu không tôi báo lại cho người đánh điện”. Thật là tai họa rồi “Làm sao bây giờ anh Chớp ơi!”. Rên lên vậy nhưng xoảng biết, cơ sự này cũng đành bó tay thôi. Người thì sắp chết, cái ông Đoàn Oe trong tờ điện chắc đẻ ra chủ nhân của căn nhà này, còn cái gã thanh niên nhìn như dân đầu trôm đươi cướp kia, giờ cũng mất hút chẳng biết nơi nao mà tìm. Bất giác, Xoảng thò tay vào túi quần móc ra số tiền còn lại, đếm tới đếm lui còn vừa hai trăm ngàn cả thảy. Xoảng lượng tính đoạn đướng về quê cùa “các con” trong tờ điện: Thế này thì liều rồi, nhưng phải làm sao đây?...Chỉ có về mới biết chủ nhân của căn nhà này để rồi tính toán, để mà giả nhà chứ tình trạng tù giam lỏng thế này thì có mà héo!

Chuyển ba chặng xe, rồi đi bộ rã cẳng, cuối cùng Xoảng cũng tìm được đến địa chỉ ông Đoàn Oe ghi trong tờ điện, Đến đầu làng, Xoảng gặp một thằng con trai choai choai ngồi bắt chân chữ ngũ, đang uống rượu với bìa đậu phụ ở quán cóc ven đường: “Cháu ơi, cho chú hòi nhà ông Đoàn Oe ở đâu?”. “Oe hả? Oe xóm Lầy trên hay Oe xóm Lấy dưới?”. “Ông Oe bị bệnh sắp chết cháu ạ”. Thằng oắt con nhấp nhấp chén rựơu như ông cụ non trông ngứa cả mắt: “Oe trẻ ốm sắp chết nhà ở Lầy trên, còn ông Oe già mới cưới vợ tuần trước thì ở Lầy dưới, cứ thề mà lần khác ra!”.

“Chắc là ông Oe trẻ ở Lầy trên rồi” Xoảng đoán vậy. Quả không sai. Theo con đường đất đỏ hỏi thăm mãi mới tìm được đến nhà ông Đoàn Oe…Chờ cho khách uống cạn chén nước ông Oe mới phều phào: “Bác là gì với …hư..hừ…vợ chồng con Cẩm?”. Ông Oe hòi mà như không hỏi. Ông nghĩ dẫu người đàn ông kia là ai thì cũng chả quan trọng gì. Ông cô độc nên chỉ muốn có người để giãi bày, con Cẩm ruột thịt nhưng mấy năm nay nó có đoái hoài gì đến ông đâu. Thở lấy sức hai ba lần, ông Oe nói tiếp: “Thực tình tôi yếu quá, trong ngực lúc nào cũng réo ào ào, vài ngày nay còn ho ra máu nữa, tôi muốn gặp cháu nó để chốt lại trách nhiện của nó với dòng họ Đoàn trong cái làng này. Con Cẩm lại đi biền biệt mỗi lần có việc họ hàng chửi rát cả mặt…Gái thì gái chứ!”.

Xoảng dở khóc dở cười khi cứ được trọng vọng một lời bác hai lời bác. Vậy là chết mình rồi, vừa mất toi trăm bạc giờ thì tiền thoái lưỡng nan, biết nói sao với ông bố của bà chủ nhà mang tên loại gỗ quý này đây!…”Chị Vện ơi! vồ cho tôi con gà trống làm thịt để mời bác đây xơi rượu …hừ hứ…”, ông Đoàn Oe nói xong lại ho rũ rượi. Chị Vện cùng thằng con trai lùa bắt bằng được con gà trống thiến to nhất, gầy giơ xương…Bữa cơm chỉ có hai người. Cùng ăn với người ho lao nghĩ cũng ghê ghê, nhưng thấy chủ nhà hiếu khách nên cái sợ trong Xoảng cũng vơi đi đôi chút, ông Oe xúc từng thìa cơm khó nhọc. Tuy bệnh nặng nhưng từ trước giờ ông chả giám nhờ vả ai, chỉ có chị Vện là người họ hàng xa lại ở gần nhà, nên thỉnh thoảng mẹ con chị ấy sang thăm ông. Bây giờ ông thấy mình ốm yếu quá rồi, nên mới điện cho vợ chồng Cẩm về để trăng trối đôi điều. Ông Đoàn Oe thở phì phò nặn ra từng nhời: “Con Cẩm không về nhưng có bác tôi cũng cầm bằng, tôi đã quen cảnh sống cô độc rồi, mấy năm nay tôi muốn đi gặp mẹ con Cẩm dưới suối vàng!”. Đang nói ông Đoàn Oe tự dưng ôm mặt khóc tức tưởi. Tiếng khóc của người già khèn khẹt tắc nghẹn, nghe như tiếng vỡ của đồ sành sứ. Xoảng vội buông đũa bát đỡ dìu ông lại cái giường, rồi ra hiệu cho chị Vện dọn mâm cơm xuống bếp…

Đêm đó dù không muốn nhưng Xoảng vẫn phải cố nghe ông Đoàn Oe thuật lại gia cảnh của ông ấy. Cuối cùng cái điều Xoảng muốn biết chỉ gom vào trong lòng bàn tay: Vợ ông Đoàn Oe sáu lần vượt cạn chỉ đậu được mỗi mình con Cẩm, con bé nuôi nấng đã khó mà lớn lên tính tình lại ngang ngược, nghĩ mà nẫu cả ruột. Bọn con gái ở làng này thì đứa nào cũng chịu thương chịu khó làm ăn, thế mà con Cẩm chả chịu động chân động tay, quét cái nhà cũng không nổi, vậy nên tuy là con gái nhà quê nhưng da con Cẩm trắng như ngó cần. Khi nó mười bốn mười lăm tuổi bọn trai làng cứ hau háu nhìn nó như ma đói. Lúc cái Cẩm mười bảy tuổi thì mẹ nó bị cảm lạnh rồi mất. Vài năm sau hai cha con dù không ai nói với ai nhưng đều ước ao, làm sao con Cẩm ra phố có việc làm, rồi cố kiếm lấy tấm chồng ngoài đó cho mát mặt, Không ngờ thời gian sau nó dính với anh con trai ông thợ máy khâu ngoài phố thật. Chàng trai mê mẩn cái gót chân hồng của cái Cẩm. ba năm làm dâu ở nhà thợ may không có điều tiếng gì, nhưng có việc quan trọng nhất là sinh con nó lại không làm được, bác sỹ bảo nó bị hư dạ con hết cách chữa. Cái Cẩm  ngày càng phây phây ra còn anh chồng thì càng quắt lại. Vì không đẻ đươc nên Cẩm dần dần bị gia đình nhà chồng xa lánh. Anh chồng đáng nhẽ phải động viên chia sẻ cùng vợ, nhưng không, đằng này lại đá thúng đụng nia, gằn hắt rối chán đời rình lấy hết tiền và lấy hơn lạng vàng bỏ vào Nam, cái Cẩm buồn lắm. Vài tháng vài lần đi tìm chồng. Bẵng đi hai năm Cẩm trở về làng, trông nó sang trọng khác hẳn, cứ như một bà chủ, một đại gia vậy. Nó thuê thợ đập bỏ cái nhà cũ, xây cái nhà mới rộng rãi hơn cho bố, rồi Cẩm lại tiếp tục ra đi…

Ở chơi với ông Đoàn Oe hai ngày Xoảng rệu rạo xuôi Hà Nội mà ruột gan cứ rối bời. Hình anh gia đình ông Đoàn Oe và cô chủ có cái nhà bốn tầng, cứ vảng vất trong đầu Xoảng suốt cả chặng đường dài.

Một tuần sau:

 “…Cô về ngay kẻo không kịp, ông già yếu lắm. Xong việc rồi tôi giao lại cái nhà này cho cô. Vợ và con tôi đang khốn khổ ở quê kìa!”. Xoảng mệt mỏi giục người con gái đột nhiên đứng sừng sững ở trước mặt. Đúng là Cẩm! Cái Cẩm không thể tin những gì diễn ra với người đàn ông, đang dặt dẹo ngồi ở tầng một căn nhà của nó khi nó vừa từ bãi vàng Bắc Giang về. Cái Cẩm cứ há hốc miệng mà chả biết nói câu gì với anh ta cả…

Cẩm về đến nhà thì không kịp nữa. Cha nó đã chết được vài hôm, đám ma của ông Đoàn Oe dân làng phải tự lo lắng. Hôm đưa ông ấy ra đồng thật đau lòng, chẳng có đến một người đội khăn tang. Cái Cẩm đau xót lật đật đi ra khu nghĩa địa, rồi phủ phục khóc lóc thảm thiết bên ngôi mộ của cha nó. Cẩm đâu có biết bao nhiêu năm nay ông Đoàn Oe nhiều đêm thức trắng bởi ốm đau bệnh tật và cũng không biết bao nhiêu lần ông thầm gọi tên nó. Thế đấy. Nước bao giờ cũng chảy xuôi chứ có khi nào chảy ngược đâu.

Ở làng vài hôm, chợt cái Cẩm nghĩ đến Xoảng, nó lại xuôi Hà Nội, rồi nó đi chợ, tự tay nấu bữa cơm thịnh soạn mời Xoảng…Buổi tối hôm ấy trời đen kịt bởi đang vào đêm cuối tháng, ngưng gió không khí ngột ngạt, mấy cây phi lao trước nhà cứ như muốn ngoi lên đề hứng một tý gió trên cao. Xoảng và cái Cẩm ngồi ngoài thếm đến tận khuya. Buồn lắng…Giọng cái Cẩm rưng rưng xa lắc:

“…Ngày ấy đã lâu lắm rồi em vất vưởng ờ chỗ người quen đến nửa tháng để tìm chồng, nhưng tin tức về lão chồng vẫn bặt vô âm tín. Một hôm em đang nằm dính người trên gác của nhà chị bạn, thì nghe thấy tiếng vợ chồng chị ấy ở dưới nhà đang giẫy nảy, bởi mấy kiện hàng của chú em nặng hàng tạ từ nước ngoài gửi về. Chẳng biết nghe ai mách bảo, niken bây giờ là mặt hàng rất có lời chỉ sau buôn á phiện ở Việt Nam mà thôi, thế rồi cậu ấy đã nhờ ông ban Ivan gom cho vài tạ niken ở bên Nga. 5 tháng sau ông anh ở Hà Nội nhận được ba kiện hàng to tướng, đủ thứ tạp nham, nhưng cái đáng giá nhất là những tấm niken nặng trịch đóng cứng ngắc xung quang mấy thùng gỗ to đùng. Thời bấy giờ ở Việt Nam một cân niken đổi sang bốn chỉ vàng. Khi nhận hàng về nhà, vợ chông ông anh hồn xiêu phách lạc, bởi họ là những người công nhân thuần túy, chỉ quen cuốn thuốc là sợi chứ việc buôn bán có biết gì đâu, nhất là lại buôn thứ hàng lậu này. Em biết thế nên em lật bài ngửa với vợ chồng chị ấy luôn, làm cho hai người mặt cắt không ra hột máu. Dọa chán rồi sau em chốt lại: Thôi! Tôi sẽ lên Lạng Sơn ba ngày để tìm mối hàng, anh chị ở nhà chờ, nếu tiêu thụ được của nợ này đi thì coi như phúc bảy mươi đời rồi…Mười ngày sau nhờ mối mai móc nối, em bán được số hàng xếp chềnh ềnh trong nhà. Vợ chồng chị ấy mừng như mở cờ trong dạ, em sắm cho hai người một cái xe SimSơn còn nguyên trong hộp, một cái tủ lạnh 150 lít mới toanh, rồi quạt điện, bóng đèn. Trong nhà cứ sáng choang. Cùng một chút tiền mặt. Thế là hết ý, hết ước muốn luôn! Kiếm được khoản tiền lớn em mua hơn trăm mết đất xây nhà và thuê bọn ma cà bông lôi cổ ông chồng nửa người nửa ma, đang mơ màng với nàng tiên nâu trong con hẻm ờ phố chợ trời Yên Bái về. Thế là bỗng chốc em thành giàu có, mạc nhiên tứ đấy nhiều đừa phải cung phụng, quỳ lụy em, nhất là bọn đầu đường cuối bãi…Sau đó em làm chủ thu mua vàng cám ở Bắc Giang, hai năm sau làm ăn được em lại càng giàu hơn. Nghiệt nỗi lão chồng em ngựa quen đường cũ, nhân ngày em sang Trung Quốc du lịch, ở nhà hắn cuỗm tất cả vàng bạc biến vào Nam, giờ em cũng chả muốn tìm gã nữa. Nghĩ mà chán. Làm ăn để làm gì, giàu có để làm gì khi chỉ sống có một mình…Cái thằng đưa anh đến đấy là đệ tử ruột của em, tháng trước nó bị sốt rét ác tính ở bãi vàng, chết rồi!”.

Cái Cẩm kể xong câu chuyện lúc nào Xoảng cũng không hay, không gian thì vẫn im lặng như tờ. Quay sang Cẩm, Xoảng thấy nó gục mặt vào hai lòng bàn tay, nó cứ nấc lên nghẹn ngào mà khóe mắt không thấy rỉ ra giọt nước mắt nào. Cũng chả biết nữa, có lẽ nước mắt của cái Cẩm đã lận hết vào bên trong rồi.

Còn với Cẩm, tự nhiên nó cảm thấy người đàn ông ngồi cạnh nó lúc này sao mà gần gũi thế. Nhưng dù sao anh ta cũng chi là người dưng thôi!...

 P.C.C

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhang Tàn – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Ngồi một mình trong căn phòng làm việc nhỏ, nơi tòa soạn đã thưa người. Thành phố ngoài kia vẫn ồn ào, tiếng xe, tiếng rao hàng, tiếng gọi nhau í ới mua mai, mua bánh, tất cả hòa lại thành một bản nhạc quen thuộc của những ngày cuối năm. Huệ nhìn ra ô cửa kính, nắng rớt xuống từng mảng vàng nhạt, mỏng như một lớp ký ức đang chậm rãi phủ lên lòng mình.
Xem thêm
Cuộc nhường ghế vĩ đại – Truyện ngắn của Hồng Luân Anh
Vì nể mặt ông bác họ của cậu hàng xóm – dù khi ấy đầu óc tôi đã tít tắp ở vương quốc Biêng-biêng rồi – tôi vẫn bấm bụng ngồi rốn làm thêm một chập nữa đến tận hai giờ sáng. Bốn tiếng sau, bắt gặp tôi ở hành lang, cu cậu vò mái đầu rối, lè nhè với cái miệng sủi bọt trắng xóa cùng cán bàn chải nhựa lòi ra.
Xem thêm
Ta là ai? – Truyện ngắn của Trần Đôn
“Ta là ai?” của Trần Đôn (Bình Dương) là câu chuyện về một thân phận bị đặt giữa hai bờ lịch sử – nơi lựa chọn đôi khi không thuộc về cá nhân, và câu hỏi về căn tính trở thành nỗi day dứt kéo dài suốt một đời người.
Xem thêm
Di ảnh người lính Gạc Ma – Truyện ngắn của Huỳnh Mẫn Chi
Sài Gòn sáng sớm, luồng khí vẫn còn trong trẻo, thanh khiết, thong dong chưa kịp bắt nhịp sống tất bật của ngày mới.
Xem thêm
Dư vang trong đá – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Chàng chẳng còn gì. Không ngai vua. Không cả nước. Chỉ còn một thân thể rách nát và một trái tim bị đánh cắp. Không khi nào trong giấc mơ thời trẻ, chàng từng nghĩ tới vương miện, ngai vàng, bảo kiếm. Chàng từng chỉ mong một mái nhà nhỏ giữa rừng, một người bạn tri kỷ, một thư phòng và một chốn hoa nở thơm ngát bốn mùa, trăng in đáy nước để bình thơ. Giấc mơ ấy đã bị đánh cắp – bởi chiến lược, bởi quyền lực, và bởi niềm tin rằng mọi thứ trên đời có thể toan tính được.
Xem thêm
Cứu người đẹp - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Cứu người đẹp – hay cứu một trật tự? Một truyện giả cổ, đọc như ngụ ngôn về luật và lòng người.
Xem thêm
Giờ linh – Truyện Võ Đào Phương Trâm (Kỳ cuối)
Một ngày tháng Năm, ngôi dinh thự trở nên vắng lặng, cửa khóa ngoài, đã một tuần trôi qua, người ta không thấy những chiếc xe oto ra vào khu dinh thự. Đèn khuôn viên không còn bật sáng, ngôi nhà chìm trong bóng đêm, chỉ còn những tàng cây cổ thụ đong đưa và tiếng côn trùng rền rĩ. Một vòm kiến trúc vốn là niềm tự hào của dân làng Đại Mẫu, nay trở thành địa điểm bỏ hoang, mang màu sắc tâm linh và bí ẩn.
Xem thêm
Giờ linh - Truyện Võ Đào Phương Trâm (Kỳ 1)
Ánh đèn màu đỏ, ám đục như làn sương mờ ảo, bị bám bụi lâu ngày. Những con phù du bé nhỏ đong đưa ở những quầng sáng le lói để tìm sự sống. Người đàn bà trong ngôi nhà cổ, rêu phong phủ lạnh không gian, thâm sâu như đáy vực, bà ngồi im lặng, phía trước con đường hun hút nhỏ hẹp, lần sâu vào bên trong ngôi nhà, chẳng thấy lối đi, chỉ thấy một màu đặc sệt của bóng đêm. Ngôi nhà này chỉ có duy nhất người đàn bà trú ngụ.
Xem thêm
Thấp thoáng mặt hồ
Truyện đăng Văn nghệ TPHCM và Chuyên đề Viết & Đọc
Xem thêm
Bầu trời tươi sáng của con - Truyện dịch Lam Sương
Một tai nạn bất ngờ xảy đến khiến đôi mắt của Quang không còn nhìn thấy ánh sáng được nữa. Những ngày nằm trên giường bệnh, Quang thất thần, cả ngày chẳng nói một câu. Mẹ cậu ngồi bên giường bệnh, bà an ủi động viên Quang: “Con đừng lo lắng, tất cả rồi sẽ ổn cả thôi”.
Xem thêm
Bản giao hưởng của đại ngàn - Truyện Thuận Ánh
Có những buổi sớm mai, khi dải sương mù còn lười biếng cuộn mình trên những triền đồi lượn sóng của Pleiku, tôi đứng giữa ranh giới của đất và trời, lắng nghe hơi thở của cao nguyên. Đó không phải là một âm thanh đơn điệu, mà là một bản giao hưởng hùng tráng và miên man, được viết nên từ nhựa sống của đất đỏ bazan, từ tiếng gió hú qua kẽ lá và từ những nhịp tim nồng hậu của con người nơi phố núi. Trong bản nhạc ấy, có tiếng reo vui của những cánh rừng cà phê bạt ngàn, có sự thâm trầm của những gốc cổ thụ, và có cả những thanh âm trong trẻo, ngây thơ của những tâm hồn trẻ thơ nơi đại ngàn nắng gió.
Xem thêm
Đêm Phú Xuân - Truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga
Mệnh lệnh ngược đời này liên tục được đưa ra mỗi đêm Nguyễn vương đến gặp Ngọc Bình. Bởi lẽ quy định nghiệt ngã chốn hậu cung là không một phi tần nào được phép nhìn thẳng vào long nhan. Nguyễn vương muốn kiếm tìm sợ kinh khiếp trong đôi mắt thăm thẳm của Ngọc Bình, hay chí ít là đôi giọt nước mắt đớn đau. Nhưng không, nàng đã ngẩng lên, đã nhìn, nhưng là một ánh nhìn bình thản. Không có bất cứ điều gì trong đôi mắt ấy. Không có bất cứ điều gì cả...
Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm