- Bút ký - Tạp văn
- Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.

Nhà thơ Ngọc Tuyết
Có những buổi chiều gió thổi sai hướng.
Không sai theo kiểu thời tiết – sai theo kiểu lòng người. Gió thổi từ phía sau gáy, len vào đúng khoảng trống giữa hai bờ vai, và bỗng dưng tôi lại đứng trên cồn đất ấy. Không nhớ mình đã đi tới đó bằng cách nào. Chỉ biết là đang đứng đó – chân trần trên cỏ tranh, tóc rối, mắt nhìn trời như thể bầu trời còn nợ mình điều gì.
Cồn đất cao sau xóm – không ai đặt tên, không ai cần đặt. Chúng tôi gọi nhau bằng ánh mắt mỗi buổi tan trường: trên đó. Hai chữ thôi, mà cả một vùng trời xanh ngắt đã mở ra. Chân tự biết đường. Tim tự biết đường. Tuổi thơ không cần bản đồ.
Thảm cỏ tranh ngày đó mang một thứ sắc độ huyễn hoặc, nửa như úa tàn kiêu hãnh, nửa như khao khát cọ xát vào da thịt những kẻ vốn chẳng sợ trầy xước. Gió ở cái cồn hoang ấy chưa bao giờ biết cách mơn trớn. Nó mang cái thói vũ phu của một gã tình nhân vụng dại, cứ xồng xộc bốc thốc vạt áo trắng đã lấm lem phèn chua, quất những vệt cỏ sắc lẻm vào bắp chân tứa máu. Tôi từng ngạo nghễ nghĩ mình là chúa tể của cái dải đất nhô lên vô lý ấy, nơi mọi âm thanh của trần gian tục lụy đều bị băm vằn bởi tiếng rít của không trung.
Trời chiều mùa gặt không bao giờ trong vắt. Nó luôn khoác lên mình một mảng màu pha lê rạn nứt, tẩm đẫm thứ mùi ngai ngái, hăng hắc của khói đồng từ những nương rạ người ta đốt vội để dọn mùa. Và trên cái phông nền bức bối ráng đỏ ấy, chúng tôi thả diều.
Diều của bọn trẻ con quê mùa không có lụa là gấm vóc, chẳng khoác lên mình những họa tiết phượng múa rồng bay. Chỉ là những mẩu giấy báo cũ mỏng quẹt, được dán bằng thứ hồ quánh đặc nấu từ cơm nguội, bọc lại một vóc dáng mảnh khảnh tước ra từ thân tre ngâm nước bùn. Trông chúng bần hàn và rách rưới. Vậy mà, hỡi ôi, khi được nhấc bổng lên và đón lấy luồng sinh khí vô hình của gió, chúng mang theo cả một lồng ngực đang phập phồng nhịp điệu của sự phản trắc.
Vâng, tôi đã dùng từ phản trắc.
Bởi một con diều khi đã no gió, nó tuyệt nhiên không bao giờ muốn ngoan ngoãn làm một kẻ tòng thuộc dưới tay người nặn ra nó. Nó giằng co. Nó vặn mình. Nó nghiến tràng giang đại hải vào sợi cước mỏng tang, sắc lẹm, đòi xé toạc cái khoảng không chật hẹp của mặt đất để lao vào một cú tự sát lộng lẫy giữa tầng không.
Người ta hay lãng mạn hóa chuyện thả diều, bảo đó là chắp cánh ước mơ. Buồn cười thật. Ước mơ gì mà lại bị trói buộc bằng một sợi dây cước tàn nhẫn, luôn chực chờ cứa đứt ngón tay kẻ đang cố sức ôm giữ? Trẻ con thả diều để thách thức cõi trần gian, để xem giới hạn của bầu trời nằm ở đâu. Còn người lớn... người lớn chúng ta, nếu có lỡ buông tay để con diều vuột mất, thường sẽ tao nhã rướn mày, nhún một cái vai kiêu kỳ, rồi lừa mình dối người rằng: Gió hôm nay hỗn hào quá, làm đứt dây. Tuyệt nhiên, chẳng mấy ai trong chúng ta chịu cúi xuống, thừa nhận rằng tay mình đã mỏi nhừ, đã tứa máu vì sự cố chấp níu giữ một sinh thể vốn dĩ thuộc về sự vô lường. Đổ lỗi cho gió, bao giờ cũng là một sự lựa chọn thanh lịch và vớt vát thể diện nhất của những kẻ thất bại trong trò chơi chiếm hữu.
Tôi từng là một đứa trẻ có đôi bàn tay rướm máu vì cuộn cước ấy. Cái đau vật lý đó chưa bao giờ làm tôi khóc. Trái lại, nó khiến tôi tận hưởng một kiểu khoái cảm điên rồ của kẻ đang can dự vào trò chơi quyền lực với bầu trời. Bầu trời cong cớn, trịch thượng, ném xuống những luồng gió tạt ngang vô lại. Còn tôi, cong người lại, gót chân bấm sâu đến tủy hoang mạc của lòng đất, kiên quyết dắt mũi cái thực thể phập phồng giấy báo kia. Chúng tôi – tôi và vòm trời xanh ngắt nợ nần ấy – đang tán tỉnh nhau bằng một điệu tango kéo cưa lừa xẻ, đẫm mùi mồ hôi và sự ngoan cố.
Nhưng rồi, cuộc vui nào cũng đến hồi cáo chung. Cũng đến lúc dây đứt.
Cái khoảnh khắc sợi dây cước đang căng như dây đàn bỗng dưng chùng nấc, nhẹ bẫng đi, là một dạng tổn thương đầy tính thẩm mỹ. Con diều chao đảo trong một phần mười giây, chới với như một vũ công ballet vừa đứt dây chằng ngay giữa cú xoay pirouette huy hoàng nhất đời mình. Rồi nó lộn nhào, vô định, rũ bỏ mọi khuôn khổ trọng lực và bị gió nuốt chửng vào cái dạ dày khổng lồ của hoàng hôn.
Nó không còn là của tôi nữa. Nó đã vĩnh viễn trở thành một phế phẩm của tự do.
Đàn bà khi yêu, và khi cắn răng nhìn một đoạn tình rụng lả tả, có lẽ cũng đi ngang qua đúng cái thứ cảm giác nhẹ bẫng đến nghẹt thở ấy. Đôi khi, ta lầm tưởng mình đang nắm giữ một con diều kiêu hãnh, no căng nhịp đập của sự ái ân, dắt díu nhau bay lượn trên những cồn gió của mộng tưởng bọc đường. Ta cẩn trọng nới dây, ta tỉ mẩn gò thu, ta vắt kiệt cả cái thanh xuân rực rỡ của mình để giữ cho sợi dây vô hình kia luôn ở độ căng vừa vặn nhất. Không quá lỏng để người tuột mất, không quá căng để tình đứt lìa.
Nhưng hỡi những người đàn bà đang mải mê dệt mộng bằng thứ lụa mong manh nhất trần đời, ta thường quên mất một chân lý sắc lạnh: bản chất của gió là sự bội bạc, và bản chất của những thứ có cánh là sự đào tẩu.
Ngày người xoay lưng, cồn gió trong lòng tôi không gào thét. Nó không ầm ĩ diễn cái tuồng bi lụy rách nát. Nó chỉ tĩnh lặng một cách tàn nhẫn. Sự tĩnh lặng của một nốt trầm bị bỏ quên trên khuông nhạc đã úa vàng. Sợi dây đứt, để lại trên vệt vân tay một đường cắt ngọt xớt. Không rỉ máu ngay đâu. Phải đợi đến khi ta đưa tay rửa mặt, vô tình để làn nước lợ mặn của chính mình chạm vào, cái rát buốt mới thong thả vươn vai, đánh thức những dây thần kinh đang cuộn tròn say ngủ.
Đau. Một cái đau rất đàn bà, rất kiêu hãnh. Không thèm rên rỉ, không buồn cấu xé, chỉ lẳng lặng bó gối nhìn vết cứa từ từ đóng vảy, đóng đinh vào da thịt và tự tạc thành một vết sẹo hình trăng khuyết bẽ bàng.
Bây giờ, không gian của tôi không còn mùi khói rạ. Chiều thành phố bị đóng khung chặt chẽ trong những khối bê tông vô hồn, chọc thủng mây mù bằng những cột thu lôi lạnh lẽo, câm điếc. Tôi thường ngồi lọt thỏm sau khung cửa kính tráng gương ở tầng cao nhất của một tòa nhà, rót cho mình một ly vang đỏ – thứ dung dịch sóng sánh mang màu của một nụ hôn đã bị thời gian làm cho lên men, chát ngầm và đầy xảo trá.
Tôi không còn được phép chạy chân trần trên cỏ tranh nữa. Những đôi gót nhọn Louboutin lấp lánh như vũ khí đã giam cầm đôi bàn chân, bắt chúng phải gõ lên mặt sàn gỗ những nhịp điệu đoan trang, kiêu kỳ của một người đàn bà đã học được cách giấu kín những cơn bão điên cuồng dưới nếp gấp lụa là. Thế nhưng, đời nực cười ở chỗ, ta càng dọn dẹp tâm trí sạch sẽ bao nhiêu, ký ức càng thích thú phá bĩnh bấy nhiêu. Cứ mỗi lần nghe tiếng gió cao ốc hú ré lên qua khe cửa sổ hẹp, cái mùi ngai ngái của cỏ dại trên cồn đất vô danh năm xưa lại trồi lên. Nó không gõ cửa. Nó đánh úp khứu giác, xé toạc cái vỏ bọc bình thản mỏng tang mà tôi đã dày công tô trát.
Ký ức là một gã trộm hào hoa và xấc xược. Hắn không lẻn vào nhà bằng cửa sau như những tên tiểu nhân hèn mọn. Hắn hiên ngang đi thẳng từ cửa chính, ngồi vắt chân chữ ngũ lên chiếc sô-pha đắt đỏ của tâm trí, nhấm nháp những tủi hờn mà ta đã cất công chôn cất tận đáy huyệt thời gian. Hắn nhìn tôi chằm chằm, và nhắc tôi nhớ về những con diều đã bị gió cuỗm đi.
Trong những hộc tủ tróc sơn của cõi lòng, tôi tự hỏi mình đã vo tròn giấu giếm bao nhiêu đoạn cước đứt lìa?
Có những đoạn mang màu ố vàng của những chập choạng ngông cuồng. Có đoạn lại tướp xơ vì sự khờ khạo đầu đời trầy trật. Và, nằm nép ở một góc khuất lấp nhất, là một đoạn cước tôi không nỡ vứt, cũng chẳng dám gỡ – đoạn cước của một kẻ từng cuộn ngón tay mình vào tay tôi, đinh ninh một lời thề sẽ níu giữ bầu trời cho đến ngày gió lộng thôi gào thét.
Ngặt nỗi, gió vốn dĩ là một giống loài vô thủy vô chung, chẳng bao giờ có một nấm mồ để mà nằm xuống. Chỉ có lời thề thốt của nhân sinh là đoản mệnh, cứ giòn vỡ giữa lưng chừng không trung, rơi vụn rắc rải rồi hóa thành thứ tro bụi vô danh chẳng thể nào nhặt dụm.
Tôi xoay nhẹ vành ly, hớp một ngụm màu đỏ ối. Vị chát ngầm trơn tuột qua vòm họng, để lại nơi đầu lưỡi một thứ cảm giác tê rần, gai góc rành rọt y hệt cái cách người ta ráo hoảnh chối bỏ một ân tình.
Đi qua đủ những tấy đỏ nơi vệt cắt rớm máu, gom đủ những rách nát giấu nhẹm dưới nếp váy kiêu kỳ, người ta mới bàng hoàng tỉnh ngộ. Rằng, cái hãnh diện tột đỉnh của trò chơi dụ dỗ bầu trời này, tuyệt nhiên không dính dáng gì đến cái khoảnh khắc con diều bay chót vót trên cao, hay cái uy quyền của kẻ đang nắm giữ cuộn dây. Nghệ thuật của sự toàn bích, rốt cuộc, lại nằm đọng lỳ ở đúng cái chớp mắt người đàn bà xòe mười ngón tay ra... và thản nhiên rũ bỏ.
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Nhân sinh vẫn thường rỉ tai nhau rằng, mất đi là một dạng của bi kịch. Tôi lại thấy, cố chấp ôm giữ một tàn tích đã chết ngạt trong tay mới là bản bi ca đớn hèn nhất. Đàn bà, suy cho cùng, rạng rỡ và đẹp đẽ nhất không phải là lúc rỏ nước mắt e ấp gục đầu vào một bờ vai nương tựa. Đàn bà đẹp nhất là khi dám đứng thẳng người trên cồn đất lộng gió của cuộc đời, gạt phăng mớ tóc rối, mở trừng mắt kiêu hãnh nhìn kỷ vật của mình chìm nghỉm vào thinh không. Để rồi mỉm cười một nụ cười nửa miệng, dẫu trong lòng ngay giây phút ấy, những vụn vỡ đang va đập vào nhau, tấu lên một bản giao hưởng câm điếc đến tột cùng.
Gió chiều nay... lại bắt đầu thổi sai hướng.
Cái hướng của một miền xa xăm không còn bất cứ một phép màu nào khả dĩ để vãn hồi.
Tôi xòe bàn tay mình ra, soi dưới ánh sáng lạnh lẽo của ngọn đèn chùm. Trên những đốt ngón tay đã thôi không còn chai sần vì cước mỏng, vệt sẹo cũ mờ nhạt dường như vừa giật mình tỉnh giấc, khẽ bậu lại một nhịp đau nhói mơ hồ. Một luồng hơi lạnh vô hình len lỏi qua các kẽ tay hờ hững, mang theo cảm giác chùng chình, hẫng hụt của một thứ gì đó vừa vĩnh viễn tuột mất vào hư vô.
Tôi tự hỏi, ở một chiều không gian nào đó, trên cái cồn đất vắng chủ mọc đầy cỏ tranh cao lút đầu người ấy...
Liệu có còn một sợi dây cước trong veo nào đang lơ lửng giữa trời, vẫn ngang bướng và kiên nhẫn chờ một bàn tay mềm vươn tới, để lại bắt đầu một cuộc giằng co rướm máu với vòm trời?
N.T