TIN TỨC

Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-10 20:45:58
mail facebook google pos stwis
1252 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.

 

Nhà thơ Ngọc Tuyết

 

Có những buổi chiều gió thổi sai hướng.

Không sai theo kiểu thời tiết – sai theo kiểu lòng người. Gió thổi từ phía sau gáy, len vào đúng khoảng trống giữa hai bờ vai, và bỗng dưng tôi lại đứng trên cồn đất ấy. Không nhớ mình đã đi tới đó bằng cách nào. Chỉ biết là đang đứng đó – chân trần trên cỏ tranh, tóc rối, mắt nhìn trời như thể bầu trời còn nợ mình điều gì.

Cồn đất cao sau xóm – không ai đặt tên, không ai cần đặt. Chúng tôi gọi nhau bằng ánh mắt mỗi buổi tan trường: trên đó. Hai chữ thôi, mà cả một vùng trời xanh ngắt đã mở ra. Chân tự biết đường. Tim tự biết đường. Tuổi thơ không cần bản đồ.

Thảm cỏ tranh ngày đó mang một thứ sắc độ huyễn hoặc, nửa như úa tàn kiêu hãnh, nửa như khao khát cọ xát vào da thịt những kẻ vốn chẳng sợ trầy xước. Gió ở cái cồn hoang ấy chưa bao giờ biết cách mơn trớn. Nó mang cái thói vũ phu của một gã tình nhân vụng dại, cứ xồng xộc bốc thốc vạt áo trắng đã lấm lem phèn chua, quất những vệt cỏ sắc lẻm vào bắp chân tứa máu. Tôi từng ngạo nghễ nghĩ mình là chúa tể của cái dải đất nhô lên vô lý ấy, nơi mọi âm thanh của trần gian tục lụy đều bị băm vằn bởi tiếng rít của không trung.

Trời chiều mùa gặt không bao giờ trong vắt. Nó luôn khoác lên mình một mảng màu pha lê rạn nứt, tẩm đẫm thứ mùi ngai ngái, hăng hắc của khói đồng từ những nương rạ người ta đốt vội để dọn mùa. Và trên cái phông nền bức bối ráng đỏ ấy, chúng tôi thả diều.

Diều của bọn trẻ con quê mùa không có lụa là gấm vóc, chẳng khoác lên mình những họa tiết phượng múa rồng bay. Chỉ là những mẩu giấy báo cũ mỏng quẹt, được dán bằng thứ hồ quánh đặc nấu từ cơm nguội, bọc lại một vóc dáng mảnh khảnh tước ra từ thân tre ngâm nước bùn. Trông chúng bần hàn và rách rưới. Vậy mà, hỡi ôi, khi được nhấc bổng lên và đón lấy luồng sinh khí vô hình của gió, chúng mang theo cả một lồng ngực đang phập phồng nhịp điệu của sự phản trắc.

Vâng, tôi đã dùng từ phản trắc.

Bởi một con diều khi đã no gió, nó tuyệt nhiên không bao giờ muốn ngoan ngoãn làm một kẻ tòng thuộc dưới tay người nặn ra nó. Nó giằng co. Nó vặn mình. Nó nghiến tràng giang đại hải vào sợi cước mỏng tang, sắc lẹm, đòi xé toạc cái khoảng không chật hẹp của mặt đất để lao vào một cú tự sát lộng lẫy giữa tầng không.

Người ta hay lãng mạn hóa chuyện thả diều, bảo đó là chắp cánh ước mơ. Buồn cười thật. Ước mơ gì mà lại bị trói buộc bằng một sợi dây cước tàn nhẫn, luôn chực chờ cứa đứt ngón tay kẻ đang cố sức ôm giữ? Trẻ con thả diều để thách thức cõi trần gian, để xem giới hạn của bầu trời nằm ở đâu. Còn người lớn... người lớn chúng ta, nếu có lỡ buông tay để con diều vuột mất, thường sẽ tao nhã rướn mày, nhún một cái vai kiêu kỳ, rồi lừa mình dối người rằng: Gió hôm nay hỗn hào quá, làm đứt dây. Tuyệt nhiên, chẳng mấy ai trong chúng ta chịu cúi xuống, thừa nhận rằng tay mình đã mỏi nhừ, đã tứa máu vì sự cố chấp níu giữ một sinh thể vốn dĩ thuộc về sự vô lường. Đổ lỗi cho gió, bao giờ cũng là một sự lựa chọn thanh lịch và vớt vát thể diện nhất của những kẻ thất bại trong trò chơi chiếm hữu.

Tôi từng là một đứa trẻ có đôi bàn tay rướm máu vì cuộn cước ấy. Cái đau vật lý đó chưa bao giờ làm tôi khóc. Trái lại, nó khiến tôi tận hưởng một kiểu khoái cảm điên rồ của kẻ đang can dự vào trò chơi quyền lực với bầu trời. Bầu trời cong cớn, trịch thượng, ném xuống những luồng gió tạt ngang vô lại. Còn tôi, cong người lại, gót chân bấm sâu đến tủy hoang mạc của lòng đất, kiên quyết dắt mũi cái thực thể phập phồng giấy báo kia. Chúng tôi – tôi và vòm trời xanh ngắt nợ nần ấy – đang tán tỉnh nhau bằng một điệu tango kéo cưa lừa xẻ, đẫm mùi mồ hôi và sự ngoan cố.

Nhưng rồi, cuộc vui nào cũng đến hồi cáo chung. Cũng đến lúc dây đứt.

Cái khoảnh khắc sợi dây cước đang căng như dây đàn bỗng dưng chùng nấc, nhẹ bẫng đi, là một dạng tổn thương đầy tính thẩm mỹ. Con diều chao đảo trong một phần mười giây, chới với như một vũ công ballet vừa đứt dây chằng ngay giữa cú xoay pirouette huy hoàng nhất đời mình. Rồi nó lộn nhào, vô định, rũ bỏ mọi khuôn khổ trọng lực và bị gió nuốt chửng vào cái dạ dày khổng lồ của hoàng hôn.

Nó không còn là của tôi nữa. Nó đã vĩnh viễn trở thành một phế phẩm của tự do.

Đàn bà khi yêu, và khi cắn răng nhìn một đoạn tình rụng lả tả, có lẽ cũng đi ngang qua đúng cái thứ cảm giác nhẹ bẫng đến nghẹt thở ấy. Đôi khi, ta lầm tưởng mình đang nắm giữ một con diều kiêu hãnh, no căng nhịp đập của sự ái ân, dắt díu nhau bay lượn trên những cồn gió của mộng tưởng bọc đường. Ta cẩn trọng nới dây, ta tỉ mẩn gò thu, ta vắt kiệt cả cái thanh xuân rực rỡ của mình để giữ cho sợi dây vô hình kia luôn ở độ căng vừa vặn nhất. Không quá lỏng để người tuột mất, không quá căng để tình đứt lìa.

Nhưng hỡi những người đàn bà đang mải mê dệt mộng bằng thứ lụa mong manh nhất trần đời, ta thường quên mất một chân lý sắc lạnh: bản chất của gió là sự bội bạc, và bản chất của những thứ có cánh là sự đào tẩu.

Ngày người xoay lưng, cồn gió trong lòng tôi không gào thét. Nó không ầm ĩ diễn cái tuồng bi lụy rách nát. Nó chỉ tĩnh lặng một cách tàn nhẫn. Sự tĩnh lặng của một nốt trầm bị bỏ quên trên khuông nhạc đã úa vàng. Sợi dây đứt, để lại trên vệt vân tay một đường cắt ngọt xớt. Không rỉ máu ngay đâu. Phải đợi đến khi ta đưa tay rửa mặt, vô tình để làn nước lợ mặn của chính mình chạm vào, cái rát buốt mới thong thả vươn vai, đánh thức những dây thần kinh đang cuộn tròn say ngủ.

Đau. Một cái đau rất đàn bà, rất kiêu hãnh. Không thèm rên rỉ, không buồn cấu xé, chỉ lẳng lặng bó gối nhìn vết cứa từ từ đóng vảy, đóng đinh vào da thịt và tự tạc thành một vết sẹo hình trăng khuyết bẽ bàng.

Bây giờ, không gian của tôi không còn mùi khói rạ. Chiều thành phố bị đóng khung chặt chẽ trong những khối bê tông vô hồn, chọc thủng mây mù bằng những cột thu lôi lạnh lẽo, câm điếc. Tôi thường ngồi lọt thỏm sau khung cửa kính tráng gương ở tầng cao nhất của một tòa nhà, rót cho mình một ly vang đỏ – thứ dung dịch sóng sánh mang màu của một nụ hôn đã bị thời gian làm cho lên men, chát ngầm và đầy xảo trá.

Tôi không còn được phép chạy chân trần trên cỏ tranh nữa. Những đôi gót nhọn Louboutin lấp lánh như vũ khí đã giam cầm đôi bàn chân, bắt chúng phải gõ lên mặt sàn gỗ những nhịp điệu đoan trang, kiêu kỳ của một người đàn bà đã học được cách giấu kín những cơn bão điên cuồng dưới nếp gấp lụa là. Thế nhưng, đời nực cười ở chỗ, ta càng dọn dẹp tâm trí sạch sẽ bao nhiêu, ký ức càng thích thú phá bĩnh bấy nhiêu. Cứ mỗi lần nghe tiếng gió cao ốc hú ré lên qua khe cửa sổ hẹp, cái mùi ngai ngái của cỏ dại trên cồn đất vô danh năm xưa lại trồi lên. Nó không gõ cửa. Nó đánh úp khứu giác, xé toạc cái vỏ bọc bình thản mỏng tang mà tôi đã dày công tô trát.

Ký ức là một gã trộm hào hoa và xấc xược. Hắn không lẻn vào nhà bằng cửa sau như những tên tiểu nhân hèn mọn. Hắn hiên ngang đi thẳng từ cửa chính, ngồi vắt chân chữ ngũ lên chiếc sô-pha đắt đỏ của tâm trí, nhấm nháp những tủi hờn mà ta đã cất công chôn cất tận đáy huyệt thời gian. Hắn nhìn tôi chằm chằm, và nhắc tôi nhớ về những con diều đã bị gió cuỗm đi.

Trong những hộc tủ tróc sơn của cõi lòng, tôi tự hỏi mình đã vo tròn giấu giếm bao nhiêu đoạn cước đứt lìa?

Có những đoạn mang màu ố vàng của những chập choạng ngông cuồng. Có đoạn lại tướp xơ vì sự khờ khạo đầu đời trầy trật. Và, nằm nép ở một góc khuất lấp nhất, là một đoạn cước tôi không nỡ vứt, cũng chẳng dám gỡ – đoạn cước của một kẻ từng cuộn ngón tay mình vào tay tôi, đinh ninh một lời thề sẽ níu giữ bầu trời cho đến ngày gió lộng thôi gào thét.

Ngặt nỗi, gió vốn dĩ là một giống loài vô thủy vô chung, chẳng bao giờ có một nấm mồ để mà nằm xuống. Chỉ có lời thề thốt của nhân sinh là đoản mệnh, cứ giòn vỡ giữa lưng chừng không trung, rơi vụn rắc rải rồi hóa thành thứ tro bụi vô danh chẳng thể nào nhặt dụm.

Tôi xoay nhẹ vành ly, hớp một ngụm màu đỏ ối. Vị chát ngầm trơn tuột qua vòm họng, để lại nơi đầu lưỡi một thứ cảm giác tê rần, gai góc rành rọt y hệt cái cách người ta ráo hoảnh chối bỏ một ân tình.

Đi qua đủ những tấy đỏ nơi vệt cắt rớm máu, gom đủ những rách nát giấu nhẹm dưới nếp váy kiêu kỳ, người ta mới bàng hoàng tỉnh ngộ. Rằng, cái hãnh diện tột đỉnh của trò chơi dụ dỗ bầu trời này, tuyệt nhiên không dính dáng gì đến cái khoảnh khắc con diều bay chót vót trên cao, hay cái uy quyền của kẻ đang nắm giữ cuộn dây. Nghệ thuật của sự toàn bích, rốt cuộc, lại nằm đọng lỳ ở đúng cái chớp mắt người đàn bà xòe mười ngón tay ra... và thản nhiên rũ bỏ.

Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.

Nhân sinh vẫn thường rỉ tai nhau rằng, mất đi là một dạng của bi kịch. Tôi lại thấy, cố chấp ôm giữ một tàn tích đã chết ngạt trong tay mới là bản bi ca đớn hèn nhất. Đàn bà, suy cho cùng, rạng rỡ và đẹp đẽ nhất không phải là lúc rỏ nước mắt e ấp gục đầu vào một bờ vai nương tựa. Đàn bà đẹp nhất là khi dám đứng thẳng người trên cồn đất lộng gió của cuộc đời, gạt phăng mớ tóc rối, mở trừng mắt kiêu hãnh nhìn kỷ vật của mình chìm nghỉm vào thinh không. Để rồi mỉm cười một nụ cười nửa miệng, dẫu trong lòng ngay giây phút ấy, những vụn vỡ đang va đập vào nhau, tấu lên một bản giao hưởng câm điếc đến tột cùng.

Gió chiều nay... lại bắt đầu thổi sai hướng.

Cái hướng của một miền xa xăm không còn bất cứ một phép màu nào khả dĩ để vãn hồi.

Tôi xòe bàn tay mình ra, soi dưới ánh sáng lạnh lẽo của ngọn đèn chùm. Trên những đốt ngón tay đã thôi không còn chai sần vì cước mỏng, vệt sẹo cũ mờ nhạt dường như vừa giật mình tỉnh giấc, khẽ bậu lại một nhịp đau nhói mơ hồ. Một luồng hơi lạnh vô hình len lỏi qua các kẽ tay hờ hững, mang theo cảm giác chùng chình, hẫng hụt của một thứ gì đó vừa vĩnh viễn tuột mất vào hư vô.

Tôi tự hỏi, ở một chiều không gian nào đó, trên cái cồn đất vắng chủ mọc đầy cỏ tranh cao lút đầu người ấy...

Liệu có còn một sợi dây cước trong veo nào đang lơ lửng giữa trời, vẫn ngang bướng và kiên nhẫn chờ một bàn tay mềm vươn tới, để lại bắt đầu một cuộc giằng co rướm máu với vòm trời?

N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm