TIN TỨC

Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-10 20:45:58
mail facebook google pos stwis
23 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.

 

Nhà thơ Ngọc Tuyết

 

Có những buổi chiều gió thổi sai hướng.

Không sai theo kiểu thời tiết – sai theo kiểu lòng người. Gió thổi từ phía sau gáy, len vào đúng khoảng trống giữa hai bờ vai, và bỗng dưng tôi lại đứng trên cồn đất ấy. Không nhớ mình đã đi tới đó bằng cách nào. Chỉ biết là đang đứng đó – chân trần trên cỏ tranh, tóc rối, mắt nhìn trời như thể bầu trời còn nợ mình điều gì.

Cồn đất cao sau xóm – không ai đặt tên, không ai cần đặt. Chúng tôi gọi nhau bằng ánh mắt mỗi buổi tan trường: trên đó. Hai chữ thôi, mà cả một vùng trời xanh ngắt đã mở ra. Chân tự biết đường. Tim tự biết đường. Tuổi thơ không cần bản đồ.

Thảm cỏ tranh ngày đó mang một thứ sắc độ huyễn hoặc, nửa như úa tàn kiêu hãnh, nửa như khao khát cọ xát vào da thịt những kẻ vốn chẳng sợ trầy xước. Gió ở cái cồn hoang ấy chưa bao giờ biết cách mơn trớn. Nó mang cái thói vũ phu của một gã tình nhân vụng dại, cứ xồng xộc bốc thốc vạt áo trắng đã lấm lem phèn chua, quất những vệt cỏ sắc lẻm vào bắp chân tứa máu. Tôi từng ngạo nghễ nghĩ mình là chúa tể của cái dải đất nhô lên vô lý ấy, nơi mọi âm thanh của trần gian tục lụy đều bị băm vằn bởi tiếng rít của không trung.

Trời chiều mùa gặt không bao giờ trong vắt. Nó luôn khoác lên mình một mảng màu pha lê rạn nứt, tẩm đẫm thứ mùi ngai ngái, hăng hắc của khói đồng từ những nương rạ người ta đốt vội để dọn mùa. Và trên cái phông nền bức bối ráng đỏ ấy, chúng tôi thả diều.

Diều của bọn trẻ con quê mùa không có lụa là gấm vóc, chẳng khoác lên mình những họa tiết phượng múa rồng bay. Chỉ là những mẩu giấy báo cũ mỏng quẹt, được dán bằng thứ hồ quánh đặc nấu từ cơm nguội, bọc lại một vóc dáng mảnh khảnh tước ra từ thân tre ngâm nước bùn. Trông chúng bần hàn và rách rưới. Vậy mà, hỡi ôi, khi được nhấc bổng lên và đón lấy luồng sinh khí vô hình của gió, chúng mang theo cả một lồng ngực đang phập phồng nhịp điệu của sự phản trắc.

Vâng, tôi đã dùng từ phản trắc.

Bởi một con diều khi đã no gió, nó tuyệt nhiên không bao giờ muốn ngoan ngoãn làm một kẻ tòng thuộc dưới tay người nặn ra nó. Nó giằng co. Nó vặn mình. Nó nghiến tràng giang đại hải vào sợi cước mỏng tang, sắc lẹm, đòi xé toạc cái khoảng không chật hẹp của mặt đất để lao vào một cú tự sát lộng lẫy giữa tầng không.

Người ta hay lãng mạn hóa chuyện thả diều, bảo đó là chắp cánh ước mơ. Buồn cười thật. Ước mơ gì mà lại bị trói buộc bằng một sợi dây cước tàn nhẫn, luôn chực chờ cứa đứt ngón tay kẻ đang cố sức ôm giữ? Trẻ con thả diều để thách thức cõi trần gian, để xem giới hạn của bầu trời nằm ở đâu. Còn người lớn... người lớn chúng ta, nếu có lỡ buông tay để con diều vuột mất, thường sẽ tao nhã rướn mày, nhún một cái vai kiêu kỳ, rồi lừa mình dối người rằng: Gió hôm nay hỗn hào quá, làm đứt dây. Tuyệt nhiên, chẳng mấy ai trong chúng ta chịu cúi xuống, thừa nhận rằng tay mình đã mỏi nhừ, đã tứa máu vì sự cố chấp níu giữ một sinh thể vốn dĩ thuộc về sự vô lường. Đổ lỗi cho gió, bao giờ cũng là một sự lựa chọn thanh lịch và vớt vát thể diện nhất của những kẻ thất bại trong trò chơi chiếm hữu.

Tôi từng là một đứa trẻ có đôi bàn tay rướm máu vì cuộn cước ấy. Cái đau vật lý đó chưa bao giờ làm tôi khóc. Trái lại, nó khiến tôi tận hưởng một kiểu khoái cảm điên rồ của kẻ đang can dự vào trò chơi quyền lực với bầu trời. Bầu trời cong cớn, trịch thượng, ném xuống những luồng gió tạt ngang vô lại. Còn tôi, cong người lại, gót chân bấm sâu đến tủy hoang mạc của lòng đất, kiên quyết dắt mũi cái thực thể phập phồng giấy báo kia. Chúng tôi – tôi và vòm trời xanh ngắt nợ nần ấy – đang tán tỉnh nhau bằng một điệu tango kéo cưa lừa xẻ, đẫm mùi mồ hôi và sự ngoan cố.

Nhưng rồi, cuộc vui nào cũng đến hồi cáo chung. Cũng đến lúc dây đứt.

Cái khoảnh khắc sợi dây cước đang căng như dây đàn bỗng dưng chùng nấc, nhẹ bẫng đi, là một dạng tổn thương đầy tính thẩm mỹ. Con diều chao đảo trong một phần mười giây, chới với như một vũ công ballet vừa đứt dây chằng ngay giữa cú xoay pirouette huy hoàng nhất đời mình. Rồi nó lộn nhào, vô định, rũ bỏ mọi khuôn khổ trọng lực và bị gió nuốt chửng vào cái dạ dày khổng lồ của hoàng hôn.

Nó không còn là của tôi nữa. Nó đã vĩnh viễn trở thành một phế phẩm của tự do.

Đàn bà khi yêu, và khi cắn răng nhìn một đoạn tình rụng lả tả, có lẽ cũng đi ngang qua đúng cái thứ cảm giác nhẹ bẫng đến nghẹt thở ấy. Đôi khi, ta lầm tưởng mình đang nắm giữ một con diều kiêu hãnh, no căng nhịp đập của sự ái ân, dắt díu nhau bay lượn trên những cồn gió của mộng tưởng bọc đường. Ta cẩn trọng nới dây, ta tỉ mẩn gò thu, ta vắt kiệt cả cái thanh xuân rực rỡ của mình để giữ cho sợi dây vô hình kia luôn ở độ căng vừa vặn nhất. Không quá lỏng để người tuột mất, không quá căng để tình đứt lìa.

Nhưng hỡi những người đàn bà đang mải mê dệt mộng bằng thứ lụa mong manh nhất trần đời, ta thường quên mất một chân lý sắc lạnh: bản chất của gió là sự bội bạc, và bản chất của những thứ có cánh là sự đào tẩu.

Ngày người xoay lưng, cồn gió trong lòng tôi không gào thét. Nó không ầm ĩ diễn cái tuồng bi lụy rách nát. Nó chỉ tĩnh lặng một cách tàn nhẫn. Sự tĩnh lặng của một nốt trầm bị bỏ quên trên khuông nhạc đã úa vàng. Sợi dây đứt, để lại trên vệt vân tay một đường cắt ngọt xớt. Không rỉ máu ngay đâu. Phải đợi đến khi ta đưa tay rửa mặt, vô tình để làn nước lợ mặn của chính mình chạm vào, cái rát buốt mới thong thả vươn vai, đánh thức những dây thần kinh đang cuộn tròn say ngủ.

Đau. Một cái đau rất đàn bà, rất kiêu hãnh. Không thèm rên rỉ, không buồn cấu xé, chỉ lẳng lặng bó gối nhìn vết cứa từ từ đóng vảy, đóng đinh vào da thịt và tự tạc thành một vết sẹo hình trăng khuyết bẽ bàng.

Bây giờ, không gian của tôi không còn mùi khói rạ. Chiều thành phố bị đóng khung chặt chẽ trong những khối bê tông vô hồn, chọc thủng mây mù bằng những cột thu lôi lạnh lẽo, câm điếc. Tôi thường ngồi lọt thỏm sau khung cửa kính tráng gương ở tầng cao nhất của một tòa nhà, rót cho mình một ly vang đỏ – thứ dung dịch sóng sánh mang màu của một nụ hôn đã bị thời gian làm cho lên men, chát ngầm và đầy xảo trá.

Tôi không còn được phép chạy chân trần trên cỏ tranh nữa. Những đôi gót nhọn Louboutin lấp lánh như vũ khí đã giam cầm đôi bàn chân, bắt chúng phải gõ lên mặt sàn gỗ những nhịp điệu đoan trang, kiêu kỳ của một người đàn bà đã học được cách giấu kín những cơn bão điên cuồng dưới nếp gấp lụa là. Thế nhưng, đời nực cười ở chỗ, ta càng dọn dẹp tâm trí sạch sẽ bao nhiêu, ký ức càng thích thú phá bĩnh bấy nhiêu. Cứ mỗi lần nghe tiếng gió cao ốc hú ré lên qua khe cửa sổ hẹp, cái mùi ngai ngái của cỏ dại trên cồn đất vô danh năm xưa lại trồi lên. Nó không gõ cửa. Nó đánh úp khứu giác, xé toạc cái vỏ bọc bình thản mỏng tang mà tôi đã dày công tô trát.

Ký ức là một gã trộm hào hoa và xấc xược. Hắn không lẻn vào nhà bằng cửa sau như những tên tiểu nhân hèn mọn. Hắn hiên ngang đi thẳng từ cửa chính, ngồi vắt chân chữ ngũ lên chiếc sô-pha đắt đỏ của tâm trí, nhấm nháp những tủi hờn mà ta đã cất công chôn cất tận đáy huyệt thời gian. Hắn nhìn tôi chằm chằm, và nhắc tôi nhớ về những con diều đã bị gió cuỗm đi.

Trong những hộc tủ tróc sơn của cõi lòng, tôi tự hỏi mình đã vo tròn giấu giếm bao nhiêu đoạn cước đứt lìa?

Có những đoạn mang màu ố vàng của những chập choạng ngông cuồng. Có đoạn lại tướp xơ vì sự khờ khạo đầu đời trầy trật. Và, nằm nép ở một góc khuất lấp nhất, là một đoạn cước tôi không nỡ vứt, cũng chẳng dám gỡ – đoạn cước của một kẻ từng cuộn ngón tay mình vào tay tôi, đinh ninh một lời thề sẽ níu giữ bầu trời cho đến ngày gió lộng thôi gào thét.

Ngặt nỗi, gió vốn dĩ là một giống loài vô thủy vô chung, chẳng bao giờ có một nấm mồ để mà nằm xuống. Chỉ có lời thề thốt của nhân sinh là đoản mệnh, cứ giòn vỡ giữa lưng chừng không trung, rơi vụn rắc rải rồi hóa thành thứ tro bụi vô danh chẳng thể nào nhặt dụm.

Tôi xoay nhẹ vành ly, hớp một ngụm màu đỏ ối. Vị chát ngầm trơn tuột qua vòm họng, để lại nơi đầu lưỡi một thứ cảm giác tê rần, gai góc rành rọt y hệt cái cách người ta ráo hoảnh chối bỏ một ân tình.

Đi qua đủ những tấy đỏ nơi vệt cắt rớm máu, gom đủ những rách nát giấu nhẹm dưới nếp váy kiêu kỳ, người ta mới bàng hoàng tỉnh ngộ. Rằng, cái hãnh diện tột đỉnh của trò chơi dụ dỗ bầu trời này, tuyệt nhiên không dính dáng gì đến cái khoảnh khắc con diều bay chót vót trên cao, hay cái uy quyền của kẻ đang nắm giữ cuộn dây. Nghệ thuật của sự toàn bích, rốt cuộc, lại nằm đọng lỳ ở đúng cái chớp mắt người đàn bà xòe mười ngón tay ra... và thản nhiên rũ bỏ.

Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.

Nhân sinh vẫn thường rỉ tai nhau rằng, mất đi là một dạng của bi kịch. Tôi lại thấy, cố chấp ôm giữ một tàn tích đã chết ngạt trong tay mới là bản bi ca đớn hèn nhất. Đàn bà, suy cho cùng, rạng rỡ và đẹp đẽ nhất không phải là lúc rỏ nước mắt e ấp gục đầu vào một bờ vai nương tựa. Đàn bà đẹp nhất là khi dám đứng thẳng người trên cồn đất lộng gió của cuộc đời, gạt phăng mớ tóc rối, mở trừng mắt kiêu hãnh nhìn kỷ vật của mình chìm nghỉm vào thinh không. Để rồi mỉm cười một nụ cười nửa miệng, dẫu trong lòng ngay giây phút ấy, những vụn vỡ đang va đập vào nhau, tấu lên một bản giao hưởng câm điếc đến tột cùng.

Gió chiều nay... lại bắt đầu thổi sai hướng.

Cái hướng của một miền xa xăm không còn bất cứ một phép màu nào khả dĩ để vãn hồi.

Tôi xòe bàn tay mình ra, soi dưới ánh sáng lạnh lẽo của ngọn đèn chùm. Trên những đốt ngón tay đã thôi không còn chai sần vì cước mỏng, vệt sẹo cũ mờ nhạt dường như vừa giật mình tỉnh giấc, khẽ bậu lại một nhịp đau nhói mơ hồ. Một luồng hơi lạnh vô hình len lỏi qua các kẽ tay hờ hững, mang theo cảm giác chùng chình, hẫng hụt của một thứ gì đó vừa vĩnh viễn tuột mất vào hư vô.

Tôi tự hỏi, ở một chiều không gian nào đó, trên cái cồn đất vắng chủ mọc đầy cỏ tranh cao lút đầu người ấy...

Liệu có còn một sợi dây cước trong veo nào đang lơ lửng giữa trời, vẫn ngang bướng và kiên nhẫn chờ một bàn tay mềm vươn tới, để lại bắt đầu một cuộc giằng co rướm máu với vòm trời?

N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm