TIN TỨC

​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-19 14:05:23
mail facebook google pos stwis
556 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.

 

Lán ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Mường Phăng. Ảnh: Tư liệu

 

Con đường nhỏ dẫn vào khu hầm và sở chỉ huy dài khoảng hai cây số, uốn lượn dưới tán rừng râm mát. Rừng nơi đây gần như còn nguyên sơ, thoang thoảng mùi thảo mộc tự nhiên rất dễ chịu. Không gian tĩnh lặng nhưng không hề mịt mùng hay bí ẩn. Người dân địa phương kể rằng nơi này có một lời nguyền, nhưng thực ra đã trở thành một nguyên tắc chung: không ai được chặt bất cứ cây nào, cũng không lấy đi bất cứ thứ gì trong khu rừng này. Nếu chẳng may có cây bị gió bão làm gãy đổ chắn ngang lối đi thì người ta chỉ cắt gọn sang một bên cho thông đường, chứ không mang đi nơi khác.

Vì thế, dù không có tường bao hay hàng rào bảo vệ, khu rừng vẫn giữ được vẻ tự nhiên, không có dấu hiệu bị tàn phá. Dường như tất cả mọi người đều ý thức rằng đây là một vùng đất thiêng – nơi ghi dấu những quyết định lịch sử của một chiến dịch lừng danh.

Ban đầu, bộ chỉ huy chiến dịch của ta đặt tại hang Thẩm Púa. Nhưng vì vị trí ấy khá xa trận địa, nên Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chọn núi Pú Đồn ở Mường Phăng làm nơi đặt sở chỉ huy. Nơi đây cách thành phố Điện Biên khoảng bốn mươi cây số, lại nằm giữa hai ngọn núi. Phía trước là một bãi đất sình lầy rất rộng, xe tăng và cơ giới của quân Pháp khó lòng vượt qua. Từ trên sườn núi cao, ta có thể quan sát gần như toàn bộ lòng chảo Điện Biên.

Căn hầm của Đại tướng được đào xuyên vào lòng núi dài hơn bảy mươi mét, cao gần hai mét, rộng từ một đến ba mét. Bên trong có một gian rộng hơn mười tám mét vuông, treo bản đồ tác chiến và đặt một chiếc phản tre – vừa là nơi nghỉ vừa là nơi làm việc của vị Tổng tư lệnh. Trên trần hầm, những thân gỗ lớn được xếp chặt rồi phủ lên một lớp đất dày để chống bom đạn. Hầm có hai cửa chính, lại liên thông với lán làm việc, nhà tác chiến, nhà bếp… tạo thành một hệ thống khép kín. Ngày nay, căn hầm đã được gia cố bằng xi măng để thuận tiện cho việc bảo tồn và phục vụ khách tham quan.

Rời khu sở chỉ huy chiến dịch, chúng tôi trở ra và dừng chân ăn trưa tại một nhà hàng gần đó. Một bãi đất rộng đã được trải nhựa thành đoạn đường bốn làn xe để đón khách du lịch. Hai bên đường là những nhà hàng mang dáng dấp kiến trúc nhà sàn của người Thái, lúc nào cũng đông khách ra vào. Ở đây có đủ các món ăn truyền thống của đồng bào địa phương. Không chỉ là bữa ăn, mà còn là dịp để du khách trải nghiệm văn hóa bản mường.

Trong không gian rộn ràng ấy, các cô gái Thái cất tiếng hát chào mời rượu cần, giao lưu văn nghệ cùng khách phương xa. Chúng tôi ăn cơm mà cảm giác như đang dự một bữa tiệc văn hóa đặc sắc.

Bên đường, dưới những bóng cây râm mát, các bà, các chị người Thái với mái tóc “tằng cẩu” gọn gàng, mặc váy dài, áo cóm với hàng cúc bạc lấp lánh, tươi cười mời khách mua những thứ dược liệu quý và đồ lưu niệm. Những hình ảnh bình dị ấy khiến chuyến đi thêm phần ấm áp.

Rời Mường Phăng, chúng tôi tiếp tục lên thăm địa danh đồi A1 – một trong những cứ điểm quan trọng nhất trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của quân Pháp. Đứng trên đồi, nhìn những di tích hầm hào và công sự kiên cố còn lại, ai cũng cảm nhận được sự khốc liệt của những trận đánh năm xưa. Chỉ riêng một đoạn hào dài hơn một trăm mét thôi mà quân ta đã hy sinh tới hơn bốn trăm chiến sĩ.

Trên đồi A1, ngoài lô cốt và hệ thống hầm hào dày đặc, quân Pháp còn cho xe tăng chạy vòng quanh để kiểm soát mọi hướng. Hễ phát hiện dấu hiệu khả nghi là chúng lập tức xả súng. Vì vậy bộ đội ta rất khó tiếp cận. Trong tất cả các cứ điểm của Pháp ở Điện Biên, đồi A1 được coi là mạnh nhất và kiên cố nhất. Việc đánh chiếm cứ điểm này khiến quân ta phải chịu nhiều gian khổ, hy sinh

Nhưng bằng ý chí và sự sáng tạo, bộ đội ta đã đào hệ thống hào từ trên núi xuống, từng bước áp sát bao vây đồi A1. Để tránh đạn địch khi đào hào ban đêm, các chiến sĩ nghĩ ra một cách rất đặc biệt: lấy rơm khô trộn với bùn đất tạo thành những “con lăn”. Khi đào tới đâu thì đẩy con lăn đến đó để che chắn. Dưới ánh đạn của địch, những con lăn rơm đơn sơ ấy lại trở thành phương tiện bảo vệ hiệu quả cho người lính.

Chúng tôi nghe chị hướng dẫn viên kể về chiến tích hố bộc phá ngàn cân, ai cũng xúc động. Khi đào đường hầm ngầm tiến sát đồi A1, bộ đội ta bất ngờ chạm phải đoạn hào cũ của quân Pháp. Tưởng rằng đã tới vị trí cần thiết, nên quyết định đào một hố rộng khoảng hai mét rưỡi, sâu một mét để đặt khối bộc phá.

Theo kế hoạch ban đầu, khối thuốc nổ phải nặng một nghìn cân. Nhưng trong kho của ta lúc ấy chỉ có khoảng hai trăm kilôgam. Tình thế chiến trường không cho phép chờ đợi. Vì thế, bộ đội ta đã đi thu gom những quả bom chưa nổ của Pháp và cả đạn pháo của ta để cưa ra lấy thuốc nổ. Công việc vô cùng nguy hiểm. Chỉ cần sơ suất nhỏ cũng có thể hy sinh. Và thực tế đã có nhiều chiến sĩ ngã xuống trong khi làm nhiệm vụ ấy.

Cuối cùng, tổng số thuốc nổ gom được là chín trăm sáu mươi kilôgam. Một khối lượng khổng lồ. Nhưng có một câu hỏi lại đặt ra: nếu kíp nổ không hoạt động thì sao? Ngay lập tức có hai chiến sĩ xung phong làm nhiệm vụ cảm tử. Họ sẵn sàng quấn lựu đạn quanh người, nếu cần sẽ lao vào kích nổ khối bộc phá. Hai người lính ấy đã được làm lễ truy điệu trước khi nhận nhiệm vụ.

Trước giờ G, toàn bộ bộ đội được lệnh rút ra xa hơn ba trăm mét. Mọi người phải dùng tay bịt chặt hai tai, úp mặt xuống đất, quay lưng về phía quả bộc phá để tránh sức ép.

Đúng thời khắc đã định, khối bộc phá khổng lồ được kích nổ thành công ngay từ phương án ban đầu.

Một tiếng nổ long trời lở đất vang lên, rung chuyển cả không gian Mường Thanh. Mặt đất dưới chân như chao đảo. Khối thuốc nổ gần một tấn phát ra sức công phá dữ dội, xé toạc lớp phòng ngự kiên cố của quân Pháp trên đồi A1. Một đại đội lính lê dương bị tiêu diệt ngay tại chỗ. Những tên còn sống sót hoảng loạn, chảy máu mũi, máu tai, tinh thần sụp đổ. Đất đá tung lên mù mịt, khói bụi bao trùm cả ngọn đồi.

Khi tiếng nổ vừa dứt, trên sườn đồi đã hiện ra một hố sâu khổng lồ, bạt tung cả một góc quả đồi – dấu tích của hố bộc phá trên đồi A1 vẫn còn in rõ đến tận ngày nay.

Chính tiếng nổ ấy cũng là hiệu lệnh xung phong. Từ các hướng, bộ đội ta đồng loạt ào lên như thác lũ. Tiếng súng, tiếng hô xung phong vang dậy cả chiến trường. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt, nhưng trước ý chí và lòng quả cảm của quân ta, cứ điểm A1 kiên cố nhất của quân Pháp cuối cùng đã bị đánh chiếm hoàn toàn. Khi đồi A1 bị thất thủ, cục diện chiến trường Điện Biên Phủ gần như được định đoạt. Quân ta làm chủ vị trí then chốt, khống chế sân bay Mường Thanh và uy hiếp trực tiếp sở chỉ huy của quân Pháp.

Tiếng nổ của khối bộc phá trên đồi A1 không chỉ phá vỡ phòng tuyến kiên cố nhất của địch, mà còn trở thành hiệu lệnh cho toàn bộ chiến trường. Các mũi tấn công của quân ta đồng loạt nổ súng, dồn dập tiến công. Và chỉ hơn một ngày sau đó, tướng Đờ Cát đã bị bắt sống, kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ sau năm mươi sáu ngày đêm chiến đấu gian lao và anh dũng.

Đến Điện Biên hôm nay có rất nhiều điểm tham quan du lịch. Nhưng có lẽ nếu chưa tận mắt thăm khu rừng tướng Giáp ở Mường Phăng và chưa đứng trên đồi A1 nơi còn dấu tích hố bộc phá ngàn cân, thì chuyến đi vẫn chưa trọn vẹn. Bởi nơi đây là mảnh đất đã thấm đẫm máu xương của biết bao người con ưu tú. Những chàng trai tuổi đôi mươi đã ngã xuống để đất nước được độc lập tự do. Máu của họ đã hòa vào đất, vào cỏ cây, vào núi rừng. Trong các nghĩa trang quanh vùng vẫn còn hàng ngàn bia mộ vô danh chưa tìm được hài cốt.Tất cả nhắc nhở chúng ta rằng chiến tranh luôn là đau thương, hy sinh và mất mát.

Đứng trên đồi A1, chúng tôi lặng lẽ thắp nén tâm hương tưởng niệm. Xin cúi đầu tri ân những người đã nằm lại nơi này. Các anh đã làm rạng danh Tổ quốc và sẽ mãi trường tồn cùng non sông đất nước.

Ngày nay, Điện Biên đang từng ngày thay da đổi thịt. Những con đường nhựa phẳng phiu nối liền các bản làng. Nhà cao, phố mới mọc lên. Trường học khang trang. Nhiều công trình, nhà máy được xây dựng trên chính mảnh đất từng ghi dấu những trận đánh oai hùng năm xưa. Các di tích lịch sử được bảo tồn và tôn tạo. Nhiều nét văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy. Du lịch ngày càng phát triển, đón khách bốn phương đến tham quan, nghiên cứu và học tập.

Điện Biên hôm nay và mai sau sẽ mãi tự hào về chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” Như nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

“Chín năm làm một Điện Biên

Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng.”

Rời đồi A1, chúng tôi lặng lẽ xuống núi khi chiều đã phủ ánh vàng lên cánh đồng Mường Thanh. Gió núi thổi qua hàng cỏ non như mang theo âm vang của một thời khói lửa. Và mỗi bước chân trên mảnh đất Điện Biên hôm nay, dường như ta vẫn nghe vọng lại đâu đây tiếng gọi thiêng liêng của lịch sử – nhắc nhở về những năm tháng hào hùng không bao giờ quên.

Bài được viết nhân dịp tác giả Thăm Mường Phăng và cứ điểm đồi A1.

N.H.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm