TIN TỨC

​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-19 14:05:23
mail facebook google pos stwis
199 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.

 

Lán ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Mường Phăng. Ảnh: Tư liệu

 

Con đường nhỏ dẫn vào khu hầm và sở chỉ huy dài khoảng hai cây số, uốn lượn dưới tán rừng râm mát. Rừng nơi đây gần như còn nguyên sơ, thoang thoảng mùi thảo mộc tự nhiên rất dễ chịu. Không gian tĩnh lặng nhưng không hề mịt mùng hay bí ẩn. Người dân địa phương kể rằng nơi này có một lời nguyền, nhưng thực ra đã trở thành một nguyên tắc chung: không ai được chặt bất cứ cây nào, cũng không lấy đi bất cứ thứ gì trong khu rừng này. Nếu chẳng may có cây bị gió bão làm gãy đổ chắn ngang lối đi thì người ta chỉ cắt gọn sang một bên cho thông đường, chứ không mang đi nơi khác.

Vì thế, dù không có tường bao hay hàng rào bảo vệ, khu rừng vẫn giữ được vẻ tự nhiên, không có dấu hiệu bị tàn phá. Dường như tất cả mọi người đều ý thức rằng đây là một vùng đất thiêng – nơi ghi dấu những quyết định lịch sử của một chiến dịch lừng danh.

Ban đầu, bộ chỉ huy chiến dịch của ta đặt tại hang Thẩm Púa. Nhưng vì vị trí ấy khá xa trận địa, nên Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chọn núi Pú Đồn ở Mường Phăng làm nơi đặt sở chỉ huy. Nơi đây cách thành phố Điện Biên khoảng bốn mươi cây số, lại nằm giữa hai ngọn núi. Phía trước là một bãi đất sình lầy rất rộng, xe tăng và cơ giới của quân Pháp khó lòng vượt qua. Từ trên sườn núi cao, ta có thể quan sát gần như toàn bộ lòng chảo Điện Biên.

Căn hầm của Đại tướng được đào xuyên vào lòng núi dài hơn bảy mươi mét, cao gần hai mét, rộng từ một đến ba mét. Bên trong có một gian rộng hơn mười tám mét vuông, treo bản đồ tác chiến và đặt một chiếc phản tre – vừa là nơi nghỉ vừa là nơi làm việc của vị Tổng tư lệnh. Trên trần hầm, những thân gỗ lớn được xếp chặt rồi phủ lên một lớp đất dày để chống bom đạn. Hầm có hai cửa chính, lại liên thông với lán làm việc, nhà tác chiến, nhà bếp… tạo thành một hệ thống khép kín. Ngày nay, căn hầm đã được gia cố bằng xi măng để thuận tiện cho việc bảo tồn và phục vụ khách tham quan.

Rời khu sở chỉ huy chiến dịch, chúng tôi trở ra và dừng chân ăn trưa tại một nhà hàng gần đó. Một bãi đất rộng đã được trải nhựa thành đoạn đường bốn làn xe để đón khách du lịch. Hai bên đường là những nhà hàng mang dáng dấp kiến trúc nhà sàn của người Thái, lúc nào cũng đông khách ra vào. Ở đây có đủ các món ăn truyền thống của đồng bào địa phương. Không chỉ là bữa ăn, mà còn là dịp để du khách trải nghiệm văn hóa bản mường.

Trong không gian rộn ràng ấy, các cô gái Thái cất tiếng hát chào mời rượu cần, giao lưu văn nghệ cùng khách phương xa. Chúng tôi ăn cơm mà cảm giác như đang dự một bữa tiệc văn hóa đặc sắc.

Bên đường, dưới những bóng cây râm mát, các bà, các chị người Thái với mái tóc “tằng cẩu” gọn gàng, mặc váy dài, áo cóm với hàng cúc bạc lấp lánh, tươi cười mời khách mua những thứ dược liệu quý và đồ lưu niệm. Những hình ảnh bình dị ấy khiến chuyến đi thêm phần ấm áp.

Rời Mường Phăng, chúng tôi tiếp tục lên thăm địa danh đồi A1 – một trong những cứ điểm quan trọng nhất trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của quân Pháp. Đứng trên đồi, nhìn những di tích hầm hào và công sự kiên cố còn lại, ai cũng cảm nhận được sự khốc liệt của những trận đánh năm xưa. Chỉ riêng một đoạn hào dài hơn một trăm mét thôi mà quân ta đã hy sinh tới hơn bốn trăm chiến sĩ.

Trên đồi A1, ngoài lô cốt và hệ thống hầm hào dày đặc, quân Pháp còn cho xe tăng chạy vòng quanh để kiểm soát mọi hướng. Hễ phát hiện dấu hiệu khả nghi là chúng lập tức xả súng. Vì vậy bộ đội ta rất khó tiếp cận. Trong tất cả các cứ điểm của Pháp ở Điện Biên, đồi A1 được coi là mạnh nhất và kiên cố nhất. Việc đánh chiếm cứ điểm này khiến quân ta phải chịu nhiều gian khổ, hy sinh

Nhưng bằng ý chí và sự sáng tạo, bộ đội ta đã đào hệ thống hào từ trên núi xuống, từng bước áp sát bao vây đồi A1. Để tránh đạn địch khi đào hào ban đêm, các chiến sĩ nghĩ ra một cách rất đặc biệt: lấy rơm khô trộn với bùn đất tạo thành những “con lăn”. Khi đào tới đâu thì đẩy con lăn đến đó để che chắn. Dưới ánh đạn của địch, những con lăn rơm đơn sơ ấy lại trở thành phương tiện bảo vệ hiệu quả cho người lính.

Chúng tôi nghe chị hướng dẫn viên kể về chiến tích hố bộc phá ngàn cân, ai cũng xúc động. Khi đào đường hầm ngầm tiến sát đồi A1, bộ đội ta bất ngờ chạm phải đoạn hào cũ của quân Pháp. Tưởng rằng đã tới vị trí cần thiết, nên quyết định đào một hố rộng khoảng hai mét rưỡi, sâu một mét để đặt khối bộc phá.

Theo kế hoạch ban đầu, khối thuốc nổ phải nặng một nghìn cân. Nhưng trong kho của ta lúc ấy chỉ có khoảng hai trăm kilôgam. Tình thế chiến trường không cho phép chờ đợi. Vì thế, bộ đội ta đã đi thu gom những quả bom chưa nổ của Pháp và cả đạn pháo của ta để cưa ra lấy thuốc nổ. Công việc vô cùng nguy hiểm. Chỉ cần sơ suất nhỏ cũng có thể hy sinh. Và thực tế đã có nhiều chiến sĩ ngã xuống trong khi làm nhiệm vụ ấy.

Cuối cùng, tổng số thuốc nổ gom được là chín trăm sáu mươi kilôgam. Một khối lượng khổng lồ. Nhưng có một câu hỏi lại đặt ra: nếu kíp nổ không hoạt động thì sao? Ngay lập tức có hai chiến sĩ xung phong làm nhiệm vụ cảm tử. Họ sẵn sàng quấn lựu đạn quanh người, nếu cần sẽ lao vào kích nổ khối bộc phá. Hai người lính ấy đã được làm lễ truy điệu trước khi nhận nhiệm vụ.

Trước giờ G, toàn bộ bộ đội được lệnh rút ra xa hơn ba trăm mét. Mọi người phải dùng tay bịt chặt hai tai, úp mặt xuống đất, quay lưng về phía quả bộc phá để tránh sức ép.

Đúng thời khắc đã định, khối bộc phá khổng lồ được kích nổ thành công ngay từ phương án ban đầu.

Một tiếng nổ long trời lở đất vang lên, rung chuyển cả không gian Mường Thanh. Mặt đất dưới chân như chao đảo. Khối thuốc nổ gần một tấn phát ra sức công phá dữ dội, xé toạc lớp phòng ngự kiên cố của quân Pháp trên đồi A1. Một đại đội lính lê dương bị tiêu diệt ngay tại chỗ. Những tên còn sống sót hoảng loạn, chảy máu mũi, máu tai, tinh thần sụp đổ. Đất đá tung lên mù mịt, khói bụi bao trùm cả ngọn đồi.

Khi tiếng nổ vừa dứt, trên sườn đồi đã hiện ra một hố sâu khổng lồ, bạt tung cả một góc quả đồi – dấu tích của hố bộc phá trên đồi A1 vẫn còn in rõ đến tận ngày nay.

Chính tiếng nổ ấy cũng là hiệu lệnh xung phong. Từ các hướng, bộ đội ta đồng loạt ào lên như thác lũ. Tiếng súng, tiếng hô xung phong vang dậy cả chiến trường. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt, nhưng trước ý chí và lòng quả cảm của quân ta, cứ điểm A1 kiên cố nhất của quân Pháp cuối cùng đã bị đánh chiếm hoàn toàn. Khi đồi A1 bị thất thủ, cục diện chiến trường Điện Biên Phủ gần như được định đoạt. Quân ta làm chủ vị trí then chốt, khống chế sân bay Mường Thanh và uy hiếp trực tiếp sở chỉ huy của quân Pháp.

Tiếng nổ của khối bộc phá trên đồi A1 không chỉ phá vỡ phòng tuyến kiên cố nhất của địch, mà còn trở thành hiệu lệnh cho toàn bộ chiến trường. Các mũi tấn công của quân ta đồng loạt nổ súng, dồn dập tiến công. Và chỉ hơn một ngày sau đó, tướng Đờ Cát đã bị bắt sống, kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ sau năm mươi sáu ngày đêm chiến đấu gian lao và anh dũng.

Đến Điện Biên hôm nay có rất nhiều điểm tham quan du lịch. Nhưng có lẽ nếu chưa tận mắt thăm khu rừng tướng Giáp ở Mường Phăng và chưa đứng trên đồi A1 nơi còn dấu tích hố bộc phá ngàn cân, thì chuyến đi vẫn chưa trọn vẹn. Bởi nơi đây là mảnh đất đã thấm đẫm máu xương của biết bao người con ưu tú. Những chàng trai tuổi đôi mươi đã ngã xuống để đất nước được độc lập tự do. Máu của họ đã hòa vào đất, vào cỏ cây, vào núi rừng. Trong các nghĩa trang quanh vùng vẫn còn hàng ngàn bia mộ vô danh chưa tìm được hài cốt.Tất cả nhắc nhở chúng ta rằng chiến tranh luôn là đau thương, hy sinh và mất mát.

Đứng trên đồi A1, chúng tôi lặng lẽ thắp nén tâm hương tưởng niệm. Xin cúi đầu tri ân những người đã nằm lại nơi này. Các anh đã làm rạng danh Tổ quốc và sẽ mãi trường tồn cùng non sông đất nước.

Ngày nay, Điện Biên đang từng ngày thay da đổi thịt. Những con đường nhựa phẳng phiu nối liền các bản làng. Nhà cao, phố mới mọc lên. Trường học khang trang. Nhiều công trình, nhà máy được xây dựng trên chính mảnh đất từng ghi dấu những trận đánh oai hùng năm xưa. Các di tích lịch sử được bảo tồn và tôn tạo. Nhiều nét văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy. Du lịch ngày càng phát triển, đón khách bốn phương đến tham quan, nghiên cứu và học tập.

Điện Biên hôm nay và mai sau sẽ mãi tự hào về chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” Như nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

“Chín năm làm một Điện Biên

Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng.”

Rời đồi A1, chúng tôi lặng lẽ xuống núi khi chiều đã phủ ánh vàng lên cánh đồng Mường Thanh. Gió núi thổi qua hàng cỏ non như mang theo âm vang của một thời khói lửa. Và mỗi bước chân trên mảnh đất Điện Biên hôm nay, dường như ta vẫn nghe vọng lại đâu đây tiếng gọi thiêng liêng của lịch sử – nhắc nhở về những năm tháng hào hùng không bao giờ quên.

Bài được viết nhân dịp tác giả Thăm Mường Phăng và cứ điểm đồi A1.

N.H.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm